Giac mo 9 tuoi cua Don Bosco - Bozzolo


Giac mo 9 tuoi cua Don Bosco - Bozzolo

1 Pages 1-10

▲torna in alto

1.1 Page 1

▲torna in alto

1.2 Page 2

▲torna in alto
Andrea Bozzolo
Don Bosco’s
childhood dream
THEOLOGICAL READING
LAS
---------------
Chuyển ngữ: Giuse Nguyễn Văn Am, SDB
Translated by the Australia-Pacific Don Bosco province from A. Bozzolo
“Sogno dei nove anni. Questioni ermeneutiche e lettura teologica,”
I sogni di don Bosco. Esperienza spirituale e sapienza educativa,
ed. A. Bozzolo (Rome: LAS, 2017) 209-268.
© 2023 by LAS - Libreria Ateneo Salesiano
Piazza dell’Ateneo Salesiano, 1 - 00139 ROMA
Tel. 06 87290626 - e-mail: las@unisal.it - https://www.editricelas.it
ISBN 978-88-213-1586-2

1.3 Page 3

▲torna in alto
GIẤC MƠ
CHÍN TUỔI
CỦA DON BOSCO
LỐI ĐỌC THẦN HỌC
NỘI DUNG
Lời trình bày.....................................................................................................................2
Bảng viết tắt ....................................................................................................................4
Giấc mơ thời niên thiếu của Don Bosco – những vấn nạn về
thông diễn học và một lối đọc mang tính thần học ........................................5
1. Những nguồn liệu ....................................................................................................8
2. Những vấn đề thông diễn học .......................................................................... 15
2.1. Ký ức, câu chuyện và lịch sử ..................................................................... 18
2.2. Kinh nghiệm giấc mơ .................................................................................... 24
2.3. Hiện tượng ngoại thường ........................................................................... 31
3. Đọc giấc mơ theo thần học ................................................................................. 41
3.1. Cấu trúc thuật trình và chuyển động của giấc mơ ........................... 41
3.1.1. Những nhân vật và cấu trúc ............................................................ 44
3.1.2. Thế căng thẳng trong thuật trình ................................................. 47
3.1.3. Chuyển động có ý hướng ................................................................. 53
3.2. Bối cảnh Kinh thánh ..................................................................................... 56
3.3. Những chủ đề thiêng liêng ......................................................................... 65
3.3.1. Sứ mệnh Nguyện xá ............................................................................ 65
3.3.2. Tiếng gọi để làm điều bất khả thể ................................................ 72
3.3.3. Tôn Danh mầu nhiệm ........................................................................ 78
3.3.4. Sự trung gian hiền mẫu .................................................................... 82
3.3.5. Sức mạnh của sự hiền dịu ................................................................ 86

1.4 Page 4

▲torna in alto
LỜI TRÌNH BÀY
Năm 2024 sẽ đánh dấu – với một mức độ gần đúng nào đó
– kỷ niệm hai trăm năm “giấc mơ chín tuổi” của Don Bosco. Sự kỷ
niệm này qui chiếu tới một trong những biến cố mà Don Bosco
coi là quan trọng nhất trong kinh nghiệm hữu vị và quyết định
nhất cho sứ mệnh của ngài. Trong Hồi ký Nguyện xá chính ngài
nói rằng giấc mơ này luôn ghi ấn tượng sâu xa trong tâm trí ngài
suốt đời; ngài gán cho nó một giá trị tiên trưng cho sự phát triển
của công cuộc ngài. Nhưng đó không là tất cả. Năm 1858 khi Don
Bosco đi Roma để đối thoại với Đức Piô IX về việc thành lập Tu
hội, và Đức Piô IX yêu cầu ngài thuật lại “mọi sự mà cảnh giới siêu
nhiên đã gợi lên về điều này”, ngài kể cho Đức Giáo hoàng cùng
giấc mơ này. Đức Giáo hoàng ra lệnh cho ngài “viết chi tiết giấc
mơ đó ra và để lại như một lời khích lệ con cái mình rằng việc
thành lập Tu hội là chính lý do cho cuộc thăm viếng Roma này.”
Thực vậy, con cái nam nữ của Don Bosco luôn coi trình
thuật này là một trang “linh thánh”, đầy những đề xuất đoàn sủng
và có sức mạnh linh ứng. Tuy nhiên, kinh nghiệm giấc mơ thật
khó nắm bắt, điều ấy quả là đúng; khoảng thời gian xa cách rất
lớn (khoảng 50 năm) giữa thời khắc của giấc mơ và việc viết nó;
việc lượng giá tính chất “siêu nhiên” cũng gặp khó khăn, điều ấy
nêu lên những vấn nạn nghiêm trọng về tính nhất quán của biến
cố được vị thánh thuật lại. Tôi tin không né tránh những câu hỏi
này quả là quan trọng, hầu làm cho một bản văn có giá trị ngoại
thường không bị hạn giới vào lãnh vực lãng mạn hay văn chương
xây dựng.
Ít năm trước, tôi cố gắng đối diện với những câu hỏi này;
dựa trên suy tư lý luận, tôi nỗ lực đưa ra những câu trả lời khả
thể mà tôi vẫn thấy là thuyết phục. Kết quả là một nghiên cứu bàn
đến những vấn đề mang tính thông diễn (phức tạp hơn); nó đề
xướng nên đọc giấc mơ ấy một cách thần học-thiêng liêng (đơn
giản hơn). Bài viết đã được LAS xuất bản năm 2017 như phần của
2

1.5 Page 5

▲torna in alto
một nghiên cứu gồm nhiều tập sách về những giấc mơ của Don
Bosco. Tôi qui chiếu nó cho độc giả muốn nghiên cứu thêm.1 Kỷ
niệm 200 năm xem ra là một cơ hội đúng lúc để làm cho bài viết
này có sẵn đây theo một hình thức độc lập và dễ đến gần hơn.
Tôi chân thành cám ơn Tỉnh dòng Úc-Châu Đại dương vì
bản dịch này.
Tôi hy vọng bài viết này giúp chúng ta chăm chú lắng nghe
những lời mà với chúng Don Bosco đã cho chúng ta cái biến cố
thân thiết này vốn ở tận cội nguồn đoàn sủng của chúng ta.
Don Andrea Bozzolo
Vice-Chancellor of the Pontifical Salesian University
1 A. Bozzolo (ed.), I sogni di don Bosco. Esperienza spirituale e sapienza educativa,
LAS, Roma 2017.
3

1.6 Page 6

▲torna in alto
BẢNG VIẾT TẮT
ACG / AGC
BM
MB
MO-it
MO-en
PST1
PST2
RSS
Atti del Consiglio Generale / Acts of the
General Council
The Biographical Memoirs of St John Bosco,
English (American) edition published by
Salesiana Publishers, New Rochelle, New
York from 1965 onwards.
Memorie biografiche di Don Bosco (del Beato
…di San) Giovanni Bosco, 19 voll, (da 1 a 9:
G.B. Lemoyne; 10: A. Amadei; da 11 a 19: E.
Ceria) + 1 vol. di Indici (E. Foglio). San
Benigno Canavese - Torino 1898-1939
(Indici, 1948). See BM above for English.
G. Bosco, Memorie dell’Oratorio di san
Francesco di Sales. Introduzione, note e testo
critico a cura di A. da Silva Ferreira, LAS,
Roma 1991.
J. Bosco, Memoirs of the Oratory of St Francis
de Sales, (Translation by Daniel Lyons from
the E. Ceria 1946 version), Salesiana
Publishers New Rochelle, New York, 2010.
P. Stella, Don Bosco nella storia della
religiosità cattolica. I. Vita e opere, LAS, Roma
1979.
P. Stella, Don Bosco nella storia della
religiosità cattolica. II Mentalità religiosa e
spiritualità, Pas-Verlag, Zurich 1969.
Ricerche Storiche Salesiane, Rome, 1982
onwards.
4

1.7 Page 7

▲torna in alto
GIẤC MƠ THỜI NIÊN THIẾU CỦA DON BOSCO
NHỮNG VẤN NẠN VỀ THÔNG DIỄN HỌC
VÀ MỘT LỐI ĐỌC MANG TÍNH THẦN HỌC
Andrea Bozzolo
Trong Hồi ký Nguyện xá, thuật trình Don Bosco kể cho ta về
giấc mơ lúc ngài chín tuổi là một trong những bản văn đáng chú ý
nhất của truyền thống Salêdiêng. Việc kể lại giấc mơ này đã đồng
hành với việc chuyển giao đoàn sủng cách năng động, trở thành
một trong những biểu tượng hiệu quả nhất và là một trong những
hợp đề hùng biện nhất của nó. Chính vì thế bản văn đó kêu nài các
độc giả, vốn nhận biết chính mình trong một truyền thống thiêng
liêng với những đặc tính của một bản văn “kinh thánh” vốn tuyên
bố thẩm quyền đặc sủng không thông thường và thực thi một
năng lực thực hiện nhất quán, chạm đến những tình cảm, chuyển
động tới hành động và sinh ra căn tính. Thực vậy, ở đây những
yếu tố cấu thành ơn gọi Salêdiêng được thiết lập cách có thẩm
quyền, như một chúc thư được truyền lại cho những thế hệ tương
lai, và qua kinh nghiệm huyền nhiệm của giấc mơ đó, quay về lại
cội nguồn siêu việt của họ. Giống như thế đối với những trang
Kinh thánh vĩ đại, thì trong thuật trình đó chuyển động đi tới
nhắm đến sự hoàn thành và sự qui chiếu tới những cội nguồn
tương tác lẫn nhau không thể tách biệt.
Sự thật là trình thuật này sản sinh một lịch sử phong phú
của những hiệu quả khi những kẻ đã thừa hưởng tiếp nhận nó và
khai sinh một communitas/cộng đoàn chân thật gồm những độc
giả đã đồng nhất hoá với sứ điệp của nó. Có vô số những người
nam nữ, được thánh hiến và giáo dân, tìm được sự hứng khởi
trong nó để phân định ơn gọi hữu vị của họ và để thực thi sự phục
vụ giáo dục và mục vụ của họ. Từ ban đầu, chiều rộng lịch sử của
những hệ quả này dạy cho những người sẵn sàng phân tích bản
5

1.8 Page 8

▲torna in alto
văn đó về sự tinh tế của công việc thông diễn họ sắp đảm trách.
Học hỏi giấc mơ này không chỉ có nghĩa là khảo sát một biến cố
đã từng xảy ra trong đời sống của một thiếu niên cách xa khoảng
200 năm trước, nhưng còn tham gia một cách phê phán vào điều
vốn mang chở một sứ điệp thiêng liêng, và đó là một biểu tượng
nhằm nhận diện căn tính, một câu chuyện mà đối với thế giới
Salêdiêng có giá trị của một ‘huyền thoại sáng lập”. Một câu
chuyện không thể đạt được một sức mạnh khai sinh mà không có
một lý lẽ sâu xa để biện chính nó, và người học giả không thể
không tự hỏi hầu nắm bắt bản chất của nó.
Ngay cả trước khi ta xem xét ấn tượng của giấc mơ đó trên
kinh nghiệm của những hậu duệ thiêng liêng của ngài thì ta phải
xem xét lịch sử của giấc mơ đã tác động trên chính kinh nghiệm
của Đấng Sáng lập. Don Bosco thuật lại rằng từ cái đêm xẩy ra đó,2
“giấc mơ này suốt đời vẫn gây ấn tượng sâu xa trên tâm trí cha”,
và còn hơn thế nữa, bởi vì nó “đã lặp lại vài lần với những hạn từ
rõ ràng hơn,”3 mỗi lần đề xướng cho ngài chính định hướng mà
cuộc đời ngài sẽ đảm nhận và hướng dẫn ngài chu toàn sứ mệnh
của mình. Hơn nữa, trong Hồi ký Nguyện xá, ngài gợi nhắc tình
trạng tâm trí của mình; vào ngày lễ trọng Mình Máu Thánh Chúa,
nay là linh mục, ngài trở về lại ngôi nhà tầm thường, nơi chôn
nhau cắt rốn của ngài, để cử hành thánh lễ đầu tiên:
Khi đến gần ngôi nhà xưa, cha nhìn thấy nơi cha đã có giấc mơ lúc 9 tuổi;
cha không thể ngăn nổi dòng lệ. cha nói: “Đường lối Chúa quan phòng
diệu kỳ biết bao! Thiên Chúa thật sự đã nâng một đứa trẻ nghèo hèn từ
bùn đất lên và đặt ngồi giữa những hoàng tử của dân ngài.”4
2 MO-en 34ff.
3 MO-en 72. Bản văn đầy đủ như sau: “Như thế cuối năm hùng biện đến gần, lúc mà
các học sinh thường cân nhắc ơn gọi của mình. Giấc mơ cha dã có ở Morialdo in
khắc sâu xa vào tâm trí cha; thực thế, nó đã xảy ra vài lần nữa với những hạn từ rõ
ràng hơn, để nếu cha muốn tin vào nó cha đã có thể chọn đời linh mục mà cha thực
sự cảm thấy có hướng chiều tới đó. Nhưng cha không muốn tin các mộng mị, và
chính lối sống của cha, một số thói quen của tâm hồn cha, và tuyệt đối thiếu các nhân
đức cần cho bậc sống ấy khiến cha rất nghi ngờ và thật khó khăn lấy quyết định đó.”
4 MO-en 96.
6

1.9 Page 9

▲torna in alto
Khi Don Bosco đến Roma năm 1858 để bàn về thành lập Tu
hội và Đức Piô IX “yêu cầu cha kể cho ngài mọi sự mà siêu nhiên
đã đề xướng điều ấy”, thì ngài kể cho Đức Giáo hoàng giấc mơ đó
và ngài nhận được lệnh “phải viết thật chi tiết giấc mơ đó ra và
trối nó lại để khích lệ con cái của Tu hội.”5 Ta còn tìm thấy trong
giai thoại có chứng cớ của vị thánh lúc về già một xác quyết nữa
về sự kiện mà kinh nghiệm ban đêm này vẫn là điểm qui chiếu cốt
yếu.6 Don Bosco ở Roma để dự lễ cung hiến Thánh Đường Thánh
Tâm, mà ngài đã đảm trách việc xây cất như Đức Leo XIII yêu cầu.
Vào sáng ngày 16 tháng Năm 1887, ngài cử hành Thánh lễ tại bàn
thờ Mẹ Phù hộ các Giáo hữu. Suốt buổi lễ, ngài phải dừng lại vài
lần, vì cảm xúc mạnh đến nỗi ngài không thể đọc được. Khi ngài
trở lại phòng thánh và lấy lại sự trầm lắng quen thuộc, cha
Viglietti đã giúp lễ cho ngài, hỏi vị linh mục cao niên đó lý do ngài
khóc, ngài trả lời: “cha đã thấy trước mắt cha quang cảnh lúc lên
mười tuổi cách sống động khi cha mơ về Tu hội; cha thấy và nghe
rõ mồn một mẹ và các anh cha bàn luận và hỏi cha về giấc mơ
ấy.”7 Lúc này Don Bosco đã vào tuổi xế chiều; ngài đã hiểu trọn
vẹn ý nghĩa của sứ điệp đã được thông tri cho ngài trong giấc mơ
đó như một sứ điệp mở, nhìn tới phía trước: “Vào đúng lúc con sẽ
hiểu mọi sự.” Khi thuật lại giai thoại đó, Lemoyne ghi nhận: “Đã
qua rồi 62 năm vất vả, hy sinh, gian khổ. Một tia chớp bất chợt đã
cho ngài thấy hết khi xây Thánh đường Thánh Tâm ở Roma, triều
5 MO-en 36. Don Bosco viếng thăm Roma lần đầu tiên xảy ra giữa 21 tháng Hai và
14 tháng Tư năm 1858. Ngài gặp lại Đức Giáo hoàng vào những dịp khác nữa, ngày
9, 21 (hoặc 23) tháng Ba và ngày 6 tháng Tư cùng năm đó. Theo Lemoyne chính vào
lần gặp gỡ thứ hai, (ngày 21 tháng Ba) mà Đức Giáo hoàng nghe thuật trình giấc mơ
đó và đã ra lệnh cho Don Bosco viết xuống. Về hành trình này, xem Braido, Don
Bosco prete dei giovani nel secolo delle libertà (LAS, Roma 2003) 1, 378-390.
6 Stella nói rằng chúng ta có những chứng cớ vững chắc, solide testimonianze, (PST1,
32).
7 C.M. Viglietti, Cronaca di don Bosco. Prima redazione (1885-1888). Introducción,
texto crítico y notas por Pablo Marín Sánchez (LAS, Roma 2009) 207.).
7

1.10 Page 10

▲torna in alto
thiên của sứ mệnh được phác hoạ nhiệm mầu cho ngài vào chính
ngưỡng cửa cuộc đời.”8
Tuy nhiên chúng ta hiểu những diễn biến của kinh nghiệm
giấc mơ đó trong thời niên thiếu và những chi tiết khi kể lại;
chúng ta hoàn toàn đồng ý với cha Stella xác quyết tầm quan
trọng của nó trên ý thức của Don Bosco:
Giấc mơ chín tuổi này không phải là một trong nhiều giấc mơ khác mà
Don Bosco hẳn đã có trong thời niên thiếu. Tách khỏi những vấn đề buộc
chặt vào đó, nghĩa là, việc giấc mơ đó được lặp lại cũng như những bản
văn được truyền lại cho chúng ta, cũng thế, tách khỏi vấn đề mà nay
chẳng thể giải quyết nổi là khi nào giấc mơ đó thực sự xảy ra, cũng như
vấn đề về những hoàn cảnh mà có thể đã gợi lên nó và tức thời cung cấp
những đề xướng tưởng tưởng – tách khỏi mọi thứ này, giấc mơ đó tác
động mạnh mẽ, [điều đó] quả là rõ ràng; thực vậy, nó cho thấy rằng ngài
đã phải cảm nhận nó như một sự thông giao thần linh, như một điều vốn
có dáng vẻ của siêu nhiên, như chính ngài nói thế. Đối với ngài nó như
một ấn dấu mới Chúa đóng vào đời ngài.9
Tóm lại, giấc mơ lúc chín tuổi “điều kiện hoá toàn cách thức
Don Bosco sống và suy nghĩ. Và cách riêng, chính cách thức ngài
cảm nhận Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời của từng người và
trong lịch sử của thế giới.”10
1. Những nguồn liệu
Giấc mơ lúc chín tuổi được chuyển giao cho chúng ta
trong nhiều phiên bản. Khi bàn đến vấn đề các nguồn mà
Lemoyne đã rút lấy khi viết bộ Hồi Ký Tiểu Sử, Desramaut tìm thấy
sáu phiên bản khác nhau.11 Phiên bản đầu tiên (A) là phiên bản
8 MB XVIII, 341 (BM XVIII 289).
9 PST1, 30.
10 PSTI, 31ff.
11 F. Desramaut, Les Memorie I de Giovanni Battista Lemoyne. Étude d’un ouvrage
fondamental sur la jeunesse de saint Jean Bosco (Maison d’études Saint Jean Bosco,
Lyon 1962) 250-256. Nghiên cứu này được A. Lenti sử dụng và khai triển, “Don
Bosco’s Vocation-Mission Dream. Its Recurrence and Significance,” Journal of
8

2 Pages 11-20

▲torna in alto

2.1 Page 11

▲torna in alto
Don Bosco viết trong Hồi ký Nguyện xá của ngài.12 Phiên bản thứ
hai (B) chứa đựng trong lời Cagliero khai trong tiến trình thông
thường của việc tuyên thánh. Cagliero nói ngài đã nghe giấc mơ
này từ Don Bosco trong năm 1858-59, sau khi Don Bosco thăm
viếng Roma đã nhận từ Đức Piô IX mệnh lệnh phải viết lại giấc mơ
ấy.13 Phiên bản thứ ba (C) là do cha Barberis, cốt yếu lặp lại Don
Bosco.14 Phiên bản thứ (D) tư đến từ Giuse Turco, người bạn của
Don Bosco thời niên thiếu. Do một người trung gian không được
xác định trao lại, nó được cha Lemoyne sưu tập lại.15 Phiên bản
thứ năm (E) là bản lời khai của cha Rua, trong tiến trình thông
thường [của sự tuyên thánh] về trình thuật ngài biết được từ
Lucia Turco, chị của Giuse Turco.16 Phiên bản thứ sáu (F) là tường
trình rất ngắn của Giuse Turco mang đến trong tiến trình phong
Salesian Studies 2 (1991) 45-156. Cf. also Idem., Don Bosco storia e spirito. 1. Dai
Becchi alla Casa dell’Oratorio (1815-1858) (LAS, Roma 2017) 211-225.
12 Ấn bản có tính phê bình được tìm thấy trong MO-it 34-37. Cha Berto, thư ký của
Don Bosco, ghi lại tường trình này từng chữ, hiển nhiên khi trình bày nó ở ngôi thứ
ba trong lời cung khai của mình trong tiến trình phong thánh thông thường, như ta
có thể đọc ở Copia Publica Transumpti Processus Ordinaria 1080v (= verso) -
1081r. auctoritate constructi in Curia Ecclesiastica Taurinensi super fama
sanctitatis vitae, virtutum et miracolorum Servi Dei loannis Bosco Sacerdotis
Fundatoris Piae Societatis Salesianae, 277r (= retto) - 279r.
13 Ibid. 1080v (= verso) - 1081r.
14 Trong hình thức cổ xưa nhất của nó, nó được tìm thấy, mà không chỉ tới từ chỗ
nào nó tới, trong G.B. Lemoyne, Documenti per scrivere la storia di D. Giovanni
Bosco, dell’Oratorio di S. Francesco di Sales e della Congregazione Salesiana, I,
153.
15 4 Ibid. I, 68-69.
16 “Lucia Turco, thuộc về một gia đình mà Don Bosco thường tới ở lại với anh chị
em của Lucia, bảo tôi rằng một buổi sáng nọ họ thấy ngài tới vui vẻ hơn bình thường.
Khi được hỏi nguyên nhân là gì, ngài trả lời ngài có một giấc mơ vào đêm hôm trước
vốn làm cho ngài vui lên. Được yêu cầu kể lại, ngài nói rằng ngài đã thấy một Bà
cao cả đến với mình; Bà có cả đàn vật rất đông theo sau; bà đến gần mình, gọi đích
danh mình và nói: Này Gioan: Ta trao phó đàn vật này cho con coi sóc.’ Rồi tôi nghe
những người khác nói rằng ngài đã hỏi ‘làm sao con chăm sóc nổi nhiều chiên cừu
như thế? Con tìm đâu đồng cỏ để giữ chúng?” Bà trả lời cậu, “Đừng sợ, Ta sẽ giúp
con, và rồi bà biến mất.” (Copia Publica, 2476v).
9

2.2 Page 12

▲torna in alto
thánh.17 Desramaut cho thấy các phiên bản A, B và C có chính Don
Bosco là nguồn trực tiếp như thế nào, đang khi phiên bản D, E và
F lệ thuộc vào những hoài niệm được chuyển lại qua gia đình
Turco.
Dựa trên chính lời Don Bosco xác quyết rằng giấc mơ đó
đã được lặp lại vài lần và với xu hướng say mê giữ tất cả các nguồn
tuỳ ý mình, Lemoyne tường trình những phiên bản khác nhau,
song lại đồng qui, của giấc mơ đó trong bộ Hồi Sử, gán cho chúng
những tuổi khác nhau.18 Trong bài nghiên cứu được trích ở trên,
Desramaut bàn luận về tính đáng tin trong sự chọn lựa của
Lemoyne. Desramaut coi nó hầu như là kết quả của một sự nối
kết nhân tạo, trừ phi có lẽ trong trường hợp của phiên bản D.
Thực thế, dù không thể minh chứng với những lý luận lịch sử
vững chắc, việc Gioan Bosco kể cho người bạn Giuse Turco về giấc
mơ đó quả là đáng tin theo một trong những lần mà nó tái diễn.
Dù sao chăng nữa, phiên bản chúng ta qui chiếu để làm
việc dứt khoát là phiên bản mà chính tay Don Bosco viết trong Hồi
ký Nguyện xá. Như chúng ta đã nói, năm 1858 Đức Piô IX đã yêu
cầu Don Bosco viết lại giấc mơ này và tất cả những biến cố liên
kết với cội nguồn của Nguyện xá. Tuy nhiên, Don Bosco trì hoãn
viết bởi ngài quá nhiều việc và cũng bởi ngần ngại nói về chính
mình. Chính vì thế, năm 1867 trong cuộc triều yết khác, Đức
Thánh Cha lại thúc bách ngài viết xuống những ký ức của mình.
Sau khi trì hoãn sáu năm nữa, cuối cùng năm 1873, Don Bosco bắt
17 “Khi còn là một thầy tư giáo, một ngày nọ ngài cũng bảo tôi rằng ngài đã có một
giấc mơ, rằng ngài sẽ sống ở nơi nào đó, tại đó ngài sẽ thâu họp rất đông người trẻ
để dạy dỗ chúng.” (Copia Publica…, 768v).
18 Trong tập I của bộ Biographical Memoirs, Lemoyne trung thành tường trình giấc
mơ lúc chín tuổi mà Don Bosco cống hiến trong bố Hồi ký Nguyện xá (MB I, 123-
126 or BM I 95-96); khi tham khảo chéo mảng thông tin khác nhau tuỳ ý mình, ngài
gán phiên bản được Turco truyền lại (D) cho một sự lặp lại giấc mơ xảy ra năm 1831,
khi Don Bosco được 16 tuổi (MB I, 243ff or BM 182ff); phiên bản của Barberis (C)
cho một sự lặp lại sau này xảy ra năm 1834 khi Gioan được 19 tuổi (MB 1,305ff or
BM 229ff); và cuối cùng phiên bản của Cagliero (B) cho lúc Gioan là một tư giáo
(MB I,424 or BM 315ff).
10

2.3 Page 13

▲torna in alto
đầu bản thảo của Hồi ký đó và kết thúc vào năm 1875. Được vị thư
ký, cha Gioakim Berto, sao chép rất đẹp, bản văn được chính tác
giả hiệu đính và sửa chữa trong một vài dịp mãi tới năm 1879.19
Dựa trên dữ liệu này, chúng ta có thể nói rằng giấc mơ đó,
xảy ra khoảng năm 1824 (chúng ta không thể xác định chính xác
hơn về ngày tháng) và nó tái hiện vài lần nữa trong các năm theo
sau “theo những hạn từ rõ ràng hơn”, được Don Bosco viết xuống
vào khoảng 50 năm sau biến cố đó. Lúc ấy, ngài đã có thể hiểu ý
nghĩa sứ điệp của giấc mơ cách phong phú và sâu xa hơn trước
kia ngài đã hiểu nó khi còn là một thiếu niên; hẳn nhiên ngài càng
hiểu giấc mơ đó qua nhiều kinh nghiệm đời sống; hiểu biết đó
khai sinh sự tăng trưởng trong cả những hạn từ có tính trình
thuật lẫn giải thích. Sự tiến hoá này đặt ra một thách đố phức tạp
về thông diễn học mà chúng ta cần phải biết đến. Thực thế, những
chân trời thời gian khác nhau hoà nhập và tương tác lẫn nhau
trong bản văn chúng ta đang đọc: thời gian của sự hoàn thành giấc
mơ (ít nhất phần nào đó), vốn tương ứng với thời gian Don Bosco
cố định nó trong thủ bản của Hồi ký đó, thời gian ngài hiểu biết
giấc mơ hơn vốn bắt đầu trước tiên bằng việc kể lại cho những
người trong gia đình và dần dần triển nở trong ý thức của ngài,
thời gian có tính niên biểu mà trong đó giấc mơ đã xảy ra và thời
gian giấc mơ (oneiric), một loại thời gian ‘bị treo’ hay ‘khác’ vốn
ở bên trong kinh nghiệm ban đêm. Những chân trời thời gian
khác nhau này được trộn lẫn với nhau trong bài kể chuyện của
Don Bosco, đến lượt mình lại tương tác với thời gian của độc giả,
những kỳ vọng, vấn nạn và những tiền khái niệm
(preconceptions) của độc giả trong một truyền thống mang tính
chất giải thích đã chuyển giao nó cho chúng ta. Không thể nói đến
việc nghiêm chỉnh học hỏi giấc mơ này mà không ý thức đến
19 Đối với những vấn đề liên hệ tới ngày giờ soạn thảo của bản gốc chép tay, bản sao
chép của cha Berto và những chỉnh sửa của DB, xem bài giới thiệu ấn bản in của tài
liệu này do cha E. Ceria viết. G. (san) Bosco, Memorie dell’Oratorio di S. Francesco
di Sales dal 1815 al 1855 (SEI, Torino 1946) 6; F. Desramaut, Les Memorie I de
Giovanni Battista Lemoyne, 116-119; Dẫn nhập vào ấn bản phê bình MO 18-19.
11

2.4 Page 14

▲torna in alto
những bình diện đa dạng này, mà những vấn nạn thông diễn học
quan trọng rút ra từ đó; những vấn nạn ấy, chúng ta sẽ cố tập
trung vào phần kế tiếp. Tuy nhiên, trước khi bàn đến những vấn
đề như thế, thì trước tiên chúng ta phải đặt trình thuật giấc mơ
ấy vào trong bối cảnh thuật trình của nó, nghĩa là, trong toàn bộ
tác phẩm mà đã chuyển trao nó cho chúng ta.20
Hồi ký Nguyện xá là một bản văn tự thuật trong đó Don
Bosco hòa trộn với nhau lịch sử của Nguyện xá Thánh Phanxicô
Salê và câu chuyện đời ngài, nhằm để lại một bài học giá trị cho
tương lai đối với những kẻ thừa tự thiêng liêng của ngài.21 Tác giả
đã làm rõ những ý định của mình ngay từ những dòng đầu tiên
của bản thảo này:
Vậy, cuốn sử biên niên này phục vụ mục đích nào? Nó sẽ là một hồ sơ
giúp người ta vượt thắng những vấn đề có thể xảy đến trong tương lai
bằng cách học hỏi từ quá khứ. Nó dùng để làm cho biết chính Thiên Chúa
đã luôn hướng dẫn chúng ta ra sao. Nó sẽ cho con cái của cha được giải
trí đôi chút hầu có thể đọc biết những cuộc phiêu lưu của cha mình. Hẳn
nhiên chúng sẽ say sưa đọc nó khi Thiên Chúa gọi cha để đến tính sổ đời
mình, khi cha không còn ở giữa chúng nữa.22
Vậy Hồi ký là một câu chuyện xây dựng; qua sự lọc lựa và
nối kết các sự kiện với nhau, nó nhằm chuyển giao không chỉ
những biến cố nền tảng vốn ghi dấu Nguyện xá được sinh ra,
20 Để hiểu luận lý thuật truyện trong Hồi ký, xem bài viết hay của A. Giraudo,
“L’importanza storica e pedagogico-spirituale delle Memorie dell’Oratorio,” trong
G. Bosco, Memorie dell’oratorio di S. Francesco di Sales dal 1815 al 1855 (LAS,
Roma 2011) 5-49.
21 Được ngỏ cho các Salêdiêng hiện tại và tương lai, Hồi ký rõ ràng có thể được phân
biệt với những bản văn khác trước kia về lịch sử được Don Bosco viết: Lá thư gởi
cho vị Đại diện Thành phố năm 1846; Bản The Outline and Historical Outlines of
1854 and 1862, vốn tập trung vào những biến cố liên quan đến những bài giáo lý tại
nhà thờ Thánh Phanxicô Assisi, và rồi được chuyển tới Viện Nương Náu của bà
Barolo, v.v, cho tới lúc đến Nhà Pinardi. Những bản van này được nhắm đến những
vị có thẩm quyền hay công chúng, hay những ân nhân và những người mạnh thường
quân mà Don Bosco muốn cống hiến cho họ một bài ngắn gọn về sự kai sinh và mục
đích của cơ sở của ngài, cũng như trình bày những hoạt động xảy ra ở đó và những
kết quả giáo dục gặt hái được.
22 MO-en 30.
12

2.5 Page 15

▲torna in alto
nhưng cả cái bí quyết sâu xa vốn nằm sau kinh nghiệm này, làm
cho nó thành có thể được và đặc trưng hoá nó một cách cốt yếu.
Tuy nhiên, công trình/tác phẩm đó không là một sử biên niên
suông về các biến cố; nó cũng rõ ràng nhắm làm cho người đọc
can dự vào cuộc phiêu lưu được kể lại tới độ khiến họ tham gia
vào nó như một câu chuyện vốn can dự đến họ và, họ được kêu
gọi tiếp tục, khi họ bị câu chuyện chụp bắt.23 Nét này, Pietro
Braido nhấn mạnh rất hiệu quả; ngài tạo ra lối diễn đạt rất hay
“những hồi ký về tương lai” để nêu bật đặc tính chúc thư vốn đặc
trưng hoá sự thuật truyện của Don Bosco, ngay cả trước khi nó là
một tài liệu.24
Trong khi tái cấu trúc lời giải thích về quá khứ vốn liên kết
sự khai sinh của Nguyện xá với một biến cố thiêng liêng chính xác
của người thuật chuyện, giấc mơ chín tuổi đóng vai trò có tính
“chiến lược” (strategic). Thực thế, chính nhờ nó, ta có được cái
chìa khoá để giải thích toàn câu chuyện, và ta nhận diện được sự
kiện diệu kỳ vốn tạo nên cội nguồn siêu nhiên. Giấc mơ đó là một
nét hiển nhiên nhất rằng về Nguyện xá thánh Phanxicô Salê và Tu
hội vốn hiện hữu ở đó, không phải chỉ có sáng kiến của một linh
mục quảng đại, nhưng thật sự là có Thiên Chúa sáng kiến. Ghi
nhận chỗ đứng của giấc mơ này trong cấu trúc trình thuật của Hồi
ký, Giraudo nói:
Biến cố này trở nên thiết thân với dàn bài của bản văn như là khởi đầu
của “Hồi ký” về Nguyện xá, khi xác định nó được phân thành ba thập
niên. Thực thế, Mười năm tuổi thơ (1815-1824) được biểu thị là một
khúc dạo đầu quan trọng, nhưng không “có tính nguyện xá” đúng thực.
23 “Đỉnh cao của chiến lược lôi kéo độc giả được đạt đến với giấc mơ về người nữ
mục tử, được đặt trong vận chuyển từ Convitto tới Valdocco, nghĩa là, từ giai đoạn
của những kinh nghiệm ban đầu hầu như có tính chất cá nhân, tới sự hiện thực sau
cùng của Nguyện xá, mà có một tính chất cộng đoàn […] trong những con chiên
được biến thành những mục tử […] những trẻ của Don Bosco [đã] được mời để nhìn
nhận chính mình là những người tiếp nối sứ mệnh của Chúa Quan phòng được thấy
trước từ ban đầu trong kinh nghiệm tiên tri của giấc mơ đó, như một phần sống động
của lịch sử”. (A. Giraudo, “L’importanza storica,” 19).
24 P. Braido, “Scrivere ‘memorie’ del futuro,” RSS 11 (1992) 97-127.
13

2.6 Page 16

▲torna in alto
Trái lại, thập niên từ 1825-1835, Thập Niên Đầu Tiên, chính xác bắt đầu
với người kể chuyện miêu tả mình lúc mười tuổi, cố ý chăm sóc các trẻ
em bằng cách làm “điều cha có thể làm vào tuổi của cha lúc đó và tạo nên
một thứ nguyện xá ngày lễ.” Bằng cách này, việc bắt đầu giấc mơ, được
gợi lên qua những dụng cụ văn chương được vay mượn từ tưởng tượng
(fiction), mặc lấy một giá trị đặc biệt: nó trở thành báo trước một bản
văn mang tính lịch sử-văn chương (historico-literary) mà nó tiền dự
những ý nghĩa, dàn bài và cấu trúc của nó; nói tắt, nó trở thành một dấu
vết có thể nhận diện được về một phổ khúc hùng biện được nhắm vào
những ý hướng của tác giả. Trong truyền thống Salêdiêng nó được giải
thích theo một ý nghĩa ngôn sứ và hình dung trước, điều ấy quả thật quan
trọng.25
Vậy, giấc mơ đó được đặt vào trong cấu trúc của Hồi ký như
chính cột trụ từ đó những cái vòm của thuật trình bắt đầu. Trong
phẩm chất của việc xảy ra diệu kỳ, một cách nào đó, nó là chính
cái tiền đề dứt khoát để hiểu cái luận lý siêu nhiên của mọi sự tiếp
theo. Chắc chắn, Don Bosco không gán bất kỳ đặc tính định mệnh
nào cho tiền đề này, như thể ngài đã tìm thấy định mệnh của mình
được định sẵn một cách rõ ràng. Khi khai triển câu chuyện, ngài
không chút dấu diếm con đường phức tạp và trắc trở của sự phân
định ơn gọi mà giấc mơ đó chẳng miễn cho ngài chút xíu nào cả.
Nhưng, đọc lại giấc mơ từ vị trí của ngài như linh mục và đấng
sáng lập, ngài không thể không hiểu nó như một mặc khải tiền dự
và ngôn sứ. Những lời ngài đóng ấn cho câu chuyện – “những điều
cha sẽ phải nói sau đây sẽ mang lại một ý nghĩa nào đó cho tất cả
điều này” – rõ ràng làm chứng điều này.26
Một khi ta nhìn nhận những điều này thì câu hỏi mà học giả
về Don Bosco và kinh nghiệm thiêng liêng của ngài nhất thiết phải
hỏi chỉ có thể là như sau mà thôi: Tầm quan trọng ngoại thường
mà Don Bosco gán cho giấc mơ này quá nhiều hầu đặt nó thành
chìa khoá để đọc Hồi ký, cốt yếu có phải là kết quả của một khí cụ
có tính thuật trình được động lực bởi những ý hướng xây dựng
không, hay có phải nó diễn tả một xác tín cá nhân được đâm rễ
25 A. Giraudo, “L’importanza storica,” 21ff.
26 MO-en 36.
14

2.7 Page 17

▲torna in alto
nghiêm chỉnh trong thực tại sự kiện không? Nói cách khác và
thẳng thừng hơn: Có phải Don Bosco phóng đại những chi tiết
khác nhau của câu chuyện, khi nhấn mạnh tầm quan trọng của
biến cố đó hầu lôi kéo tốt đẹp hơn những độc giả của mình vào
thiên sử ca của Nguyện xá, hay có phải ngài làm sống lại những
chi tiết nguyên thuỷ của một biến cố vốn là ngoại thường trong
chính nó hay không? Có một sự vĩ đại nguyên thuỷ trong sự kiện
lịch sử không? Hoặc có phải điều này chỉ là có thể gán cho cách
thức nó được kể ra thôi?
Ta phải làm rõ rằng chính cách thức mà ta hiểu công việc
giải thích có tính phê bình đó tuỳ thuộc vào câu trả lời trước
những câu hỏi này: Hoặc nó nên mặc lấy hình thức của một sự giải
trừ cấu trúc mang tính khử huyền thoại hoá như một cách đến
gần chân lý lịch sử hiện thực vượt quá thuật trình, hoặc nó phải
mặc lấy hình thức của một sự tiếp nhận tin tưởng (nhưng không
ấu trĩ) bản thuật trình như một cách tìm thấy chiều sâu lịch sử
của biến cố qua nó.
2. Những vấn đề thông diễn học
Trả lời cho những câu hỏi mà trình thuật giấc mơ đặt ra
thì thiết yếu nhưng lại rất thách đố. Thiết yếu, bởi vì chúng ảnh
hưởng sâu xa cách thức chúng ta hiểu kinh nghiệm thiêng liêng
và đoàn sủng của Don Bosco vốn đến từ nó. Mặc dù sự vĩ đại của
Don Bosco được dựa trên đời sống thánh thiện của ngài, chứ
không phải trên những hiện tượng ngoại thường vốn đi kèm theo
đó, thì điều sau [những hiện tượng] không thể bị coi là không
đáng kể và tuỳ phụ, hoặc theo diện lịch sử hoặc theo diện thần
học. Thực thế, cùng lối tiếp cận phê bình ấy áp dụng cho những
điều kỳ diệu trong đời sống các thánh – hiển nhiên trên bình diện
rút tỉa hay loại suy – mà thần học áp dụng cho những cử chỉ lạ
lùng của Đức Giêsu được các Tin mừng thuật lại. Những cử chỉ
như thế không thể bị giản lược vào những yếu tố ngoài rìa, nhưng
“là một thời khắc cốt yếu của mặc khải về Vương quốc, mà Đức
15

2.8 Page 18

▲torna in alto
Giêsu minh nhiên nối kết với lời ngài công bố như những dấu chỉ
về Vương quốc đã ở đây rồi (Mt 12:28). Những phép lạ của Đức
Giêsu chỉ là một khía cạnh của lời ngài: người ta nói rằng lời Đức
Giêsu không phải là giáo thuyết nhưng là một hành động, một
hành động chữa lành.”27 Vì vậy, chúng là một loại “chữ ký” mà
Chúa Cha đặt trên những công cuộc của Chúa Con nhập thể, để tỏ
rằng những công việc của ngài làm cho Thiên Chúa hiện diện và
hoạt động trong lịch sử và bắt đầu thời cánh chung cho nhân loại.
Vì vậy, người môn đệ được gọi để chiêm ngắm Thiên Chúa
hoạt động giải phóng trong những cử chỉ của Đức Giêsu như
người làm phép lạ - Thiên Chúa chăm sóc cho con người – và để
nhận lấy một lời vốn thách đố họ bằng đức tin. Vậy, trong những
cử chỉ có tính phép lạ của Đức Giêsu, người môn đệ được mời
chiêm ngắm Thiên Chúa hành động giải phóng và chăm sóc con
người cũng như đón nhận một lời vốn thách đố họ bằng đức tin.
Câu hỏi xem trình thuật Phúc âm có nói về những biến cố thật sự
hay không, hầu khôi phục ý nghĩa thách đố của chúng, hoặc chỉ
cho những sự tái thiết muộn màng và mạnh mẽ mà sau cùng xa
khỏi thực tại lịch sử, hiển nhiên không phải là một câu hỏi mà có
thể chẳng tác động gì đến chúng ta. Căn cứ vào sự tỉ lệ thuận thích
đáng, câu hỏi mà ta phải tự hỏi về những điều ngoại thường trong
cuộc đời Don Bosco và cách riêng về giấc mơ khi ngài lên chín,
thuộc vào cùng trật tự của những nhận xét này.
27 A. Bertuletti, Dio, il mistero dell’unico (Queriniana, Brescia 2014) 395ff. “Họ can
thiệp chống lại những hình thức bệnh tật vốn trao ban một hình thức cụ thể cho sự
xấu vốn đe doạ toàn thể đời sống. Họ hiện thực hoá sự cam kết của TC cho con người
và đạt đến hiệu quả của chúng khi họ xác quyết dự thế triệt để mà Đức Giêsu gọi là
‘tin’: sự xác tín mật thiết rằng ý muốn TC hướng đến con người được xác quyết
không chút hàm hồ tán trợ ơn cứu độ của ngài. […] Điều này giải thích tính loại suy,
được nhấn mạnh bởi các thánh sử, giữa phép lạ và dụ ngôn. Như các phép lạ, du
ngôn nối kết chiều kích phán xét với chiều kích xây dựng. Chúng được nhắm để vượt
thắng sự chống cưỡng mà con người đối nghịch với sự chấp nhận Lời Chúa bởi vì
họ thiếu tin tưởng rõ ràng. Một biến cố xảy ra trong hiện tại vốn thay đổi bộ mặt trái
đất, nhưng phải được tìm kiếm để dược hiểu rõ” (396).
16

2.9 Page 19

▲torna in alto
Tuy nhiên, trình bày câu trả lời quả rất đòi hỏi, bởi vì ít
nhất nó hàm ý bàn đến ba trật tự của những vấn đề mà bây giờ
chúng ta sẽ cố gắng đối diện, biết rõ tính phức tạp của chúng cũng
như những giới hạn khảo cứu của chúng ta. Chúng liên hệ đến mối
tương quan giữa ký ức, câu chuyện và lịch sử (§ 2.1.), tính chất
của kinh nghiệm giấc mơ (§ 2.2.) và những tiêu chuẩn thần học
cho phép chúng ta tiếp cận những hiện tượng ngoại thường trong
đời sống thiêng liêng và giải thích ý nghĩa của chúng (§ 2.3.). Một
trình thuật xây dựng, được soạn thảo năm mươi năm sau biến cố
đó, có thể có tính khả tín nào khi đánh giá phẩm chất hiện thực
của kinh nghiệm đó? Khi giả định rằng trình thuật đó khả tín, thì
một kinh nghiệm “hàm hồ” như kinh nghiệm của giấc mơ đó có
thể có một sự thích đáng mạnh mẽ như nó có thể được đề xuất,
trong ánh sáng của những biến cố theo sau và lời giải thích chúng
từ một viễn cảnh của người tin, như một chìa khoá cho lời giải
thích về câu chuyện cuộc đời của Don Bosco không? Sau khi cũng
thủ đắc những dữ liệu này, người ta có thể hợp lý tin rằng giấc mơ
lúc chín tuổi đó là một hiện tượng siêu nhiên mang tính chất ngôn
sứ không?
Hiển nhiên, ba câu hỏi này được xoắn kết chặt chẽ, bởi vì
đặc tính siêu nhiên khả thể của giấc mơ không thể không có một
sự nổi bật (quan trọng) đặc biệt hợp theo cách thức mà trong đó
người kể chuyện lưu giữ ký ức về nó, và đối với những bên lề của
sự tự do thuật trình mà nhờ đó ngài diễn bày sứ điệp. Vậy, ta nhận
biết sự nhất quán nhân học trong kinh nghiệm giấc mơ đó; sự
nhất quán này hiển nhiên cũng tác động/ảnh hưởng đến việc nó
có thể có một sự thích ứng hiện sinh mạnh mẽ và có thể là một
không gian để Thiên Chúa thông giao. Ba vấn đề này theo một
nghĩa phải được xét cùng nhau; nhưng tính phức tạp của chúng
và ước muốn phải sao cho rõ ràng, bao có thể trong loại câu hỏi
này (!) đề xuất nên tiến từng phần (per partes). Độc giả mà thấy
khó để chấp nhận cách lý luận này có thể bỏ qua nỗ lực đó và đi
trực tiếp tới lời bình giải giấc mơ.
17

2.10 Page 20

▲torna in alto
2.1. Ký ức, câu chuyện và lịch sử
Suy tư trưởng thành nhất về vấn nạn của sự thuật truyện
có lẽ là suy tư được nhà triết gia Pháp Paul Ricoeur đặt ra với ý
tưởng của ông về căn tính thuật truyện, mà thoạt tiên ông trình
bày trong cuốn sách Time and Narrative, trong một lý thuyết về
kể chuyện, rồi được lấy lại trong cuốn sách Oneself as Another,
trong khung của một lý thuyết về chủ thể.28 Sự giao thoa giữa hai
viễn cảnh – của thuật truyện và của căn tính hữu vị - thì tỏ lộ, bởi
vì luận đề của Ricoeur hệ tại ở việc chủ trương rằng ta không thể
hiểu thế giới của chủ thể và thế giới của bản văn như hai thế giới
tách biệt và tự quản, mà cái trước (câu chuyện) của nó chỉ là dấu
chỉ (luôn thiếu sót so với nguyên bản) của cái sau mà thôi (thực
tại lịch sử, rốt cục không thể đạt đến trong tính sự kiện
/factualness của nó). Trái lại, lý thuyết về căn tính thuật trình xác
quyết rằng chủ thể và câu chuyện chỉ cùng hiện hữu mà thôi: con
người không thể đến gần chính mình khác hơn bằng cách kể
chuyện của mình, và ta không thể hiểu câu chuyện đó trừ phi qua
sự sẵn lòng cho phép căn tính của ta được biến đổi.29
28 P. Ricoeur, Tempo e racconto. I (Jaca Book, Milano 1986); Tempo e racconto II.
La configurazione del racconto di finzione (Jaca Book, Milano 1987); Tempo e
racconto III. Il tempo raccontato (Jaca Book, Milano 1988); Id., Dal testo all’azione.
Saggi di ermeneutica (Jaca Book, Milano 1989); Id., Sé come un altro (Jaca Book
Milano, 1993); Id., “L’identité narrative,” Revue des sciences humaines 95 (1991)
35-47. [Chúng tôi ghi nhận rằng tất cả điều này có trong tiếng Anh trong nhiều ấn
bản khác nhau mà có thể được tìm thấy trên mạng: Time and Narrative and Oneself
as Another.]
29 Vì vậy, luôn có một chuyển động vòng tròn giữa bản văn và hành động: chúng là
cực khách thể và chủ thể của cùng một sự hoàn thành. Bản văn bày tỏ hành động bởi
vì nó cung cấp khuôn mẫu cho việc giải thích nó. Hàn hđộng thì như một bản văn
bởivì nó có một dự phóng, một ý định, một tác nhân (cai gì, tại sao, ai). Vì lẽ này,
câu truyện cho thấy những nét biệt loại của hoạt động con người: cấu truc phẩm trật
của những hoạt động phức tạp; đặc tính lịch sử của chúng; cấu trúc viễn đích của
chúng, nghĩa làm sự qui chiếu tới chân trời sự sống toàn thể. Nhưng đàng khác, ngôn
ngữ không được hiểu cách triệt để trừ phi như một hành động: nó chỉ diễn đạt một
cái gì đã được thiết lập, nhưng đóng góp vào việc thiết lập nó.
18

3 Pages 21-30

▲torna in alto

3.1 Page 21

▲torna in alto
Nền tảng của lý thuyết này là hiểu biết/ý thức về cái biện
chứng vốn ở bên trong với điều mà theo một từ ngữ đơn giản,
ngôn ngữ gọi là căn tính của con người. Theo hạn từ này, hai ý
nghĩa được đặt chồng lên nhau, những ý nghĩa mà tiếng Latinh
diễn đạt với hai bổ trợ khác nhau: idem và ipse. Chữ thứ nhất chỉ
đến căn tính như “sự giống như nhau” và hàm ẩn ý tưởng về một
điều mà vẫn còn và không thay đổi, còn chữ thứ hai chỉ về căn
tính như “căn tính cá vị” (ipseity) và chỉ tới điều gì là riêng, hữu
vị, chứ không xa lạ. Qua sự phân biệt này, Ricoeur cho thấy rằng
người ta không thể hiểu căn tính của một người chỉ như một thực
tại vĩnh viễn trong thời gian tương đương với chính mình (idem)
khác hơn với giá là đánh mất cái căn tính cá vị không thể giản lược
được của họ. Thực thế, căn tính hữu vị được hiện thực trong cái
biện chứng của điều còn lại và điều liên tục thay đổi và vì thế
giống một câu chuyện hơn là một đối vật. Việc dùng cùng một tên
để chỉ một người từ khi sinh đến lúc chết không xoá đi sự kiện
rằng con người này liên lỷ kinh nghiệm sự thay đổi thể xác và tâm
thần. Thực vậy, thời gian được kinh nghiệm bởi cái ipse thì không
bao giờ có thể giản lược vào thời gian thể lý-vũ trụ, mặc dù không
thể tách khỏi nó. Vì vậy, theo Ricoeur, khái niệm về sự thuật
truyện có thể cung cấp một mô hình tốt để đến gần được căn tính
hữu vị (ipseity) bởi vì tiến trình của sự thiết lập chính mình tổ
chức một sự tiếp diễn (sequence) của những biến cố tách biệt, đối
kháng và dị thể thành một tính duy nhất. Hiểu đời sống con người
như một tính duy nhất thuật truyện làm cho việc tổng hợp hoá sự
vĩnh viễn (permanence) và thay đổi thành có thể được, mà cái này
không chiếm lãnh cái kia.30
30 Như Ricoeur nói, “tính chủ thể không phải là một sự tiếp diễn không nhất quán
của các biến cố cũng không phải là một tính bản thể (substantiality) bất biến, không
thể đến gần việc tiến thàn/becoming. Chính loại căn tính này mà chỉ sự cấu thành
thuật truyện có thể tạo dựng với tính năng động của nó. Căn tính thuật truyện nằm ở
giữa […] giữa sự thay đổi thuần khiết và căn tính tuyệt đối” (P. Ricoeur, “La vita:
un racconto in busca di narratore,” trong ID., Filosofia e lingua, ed. D. Jervolino
[Guerini e Associati, Milan] 169-185, 184ff.).
19

3.2 Page 22

▲torna in alto
Vì vậy, lý thuyết về căn tính thuật trình đặt vấn nạn về căn
tính hữu vị vượt quá cái khác giữa một ‘cái tôi’ vốn đến gần ngay
tức khắc với chính căn tính của nó, trong suốt với chính mình, và
một “cái hắn” vốn được nắm bắt từ bên ngoài với những dụng cụ
là sự kiến tạo có phân tích, nghĩa là, một tác nhân lịch sử được
giản lược vào sự biểu thị khách quan. Căn tính hữu vị thì không
phải là căn tính của ‘cái Tôi’ theo Descartes cũng chẳng phải ‘cái
hắn’ lịch sử, nhưng là căn tính của một ‘bản ngã’ (Self), chỉ được
đến gần qua hình thức thuật truyện. Ta không thể trở về lại trong
hình thức một khái niệm (không ai có thể nói bản ngã (Self) chỉ
trong hình thức trừu tượng của một ý tưởng), hay qua cái khuôn
mẫu (model) thô thiển (heuristic) của các khoa học tự nhiên (Bản
ngã (Self) do định nghĩa không bao giờ có thể khách thể hoá như
một sự kiện). Tính phức tạp của kinh nghiệm sống chỉ có thể được
khôi phục qua sự bắt chước (mimesis) của thuật trình vốn qui tụ
những biến cố của hiện hữu vào trong một mạng lưới. Sự trung
gian thuật trình cho thấy rằng biết mình là một giải thích của bản
ngã.
Ta phải thêm hai giải thích nữa vào những yếu tố lý thuyết
được gợi nhắc vắn gọn này. Lý lẽ sâu xa tại sao con người chỉ biết
chính mình bằng cách giải thích chính mình phải được tìm thấy
trong sự kiện rằng chính các biến cố đời sống, chứ không chỉ ngôn
ngữ thuật lại chúng từ đằng xa, có một sự xuất chúng biểu tượng
độc đáo (nguyên thuỷ/original) vốn làm cho chúng không thể
giản lược vào sự kiện thường nghiệm suông. Bản ngã (Self) xảy ra
trong chúng, chứ không chỉ tỏ lộ chính mình. Chính vì thế ký ức
vốn nối kết chúng trong câu chuyện là chìa khoá độc nhất để đến
gần phẩm chất có ý hướng mà chúng có và nó tạo thành hình thức
sử tính độc đáo của chúng, vượt qua bất kỳ chủ thuyết giản lược
thực chứng nào.31
31 Vì lẽ này, ngay cả công trình ly thoát một cách khoa học nhất của sử gia một cách
tối hậu có hình thức củamột câu chuyện, vốn xác định khởi điểm và điểm tới, được
đạt đến qua một việc đan xen mà trong đó những vai chính và những tác nhân khác
20

3.3 Page 23

▲torna in alto
Thứ đến, hành vi nhờ đó người kể đồng hình dạng với
những truyện ngụ ngôn của diễn từ họ nói không chỉ kết thúc với
bản văn nhưng được nhắm đến cho độc giả. Đọc là thời khắc quan
trọng, vì khả năng của thuật trình để biến hình kinh nghiệm của
người nhận nằm ở “sự hoà trộn (fusion) của những chân trời”.
Bản văn luôn mời độc giả nhìn thế giới một cách khác và, vì sự
thuật truyện không bao giờ là trung lập theo luân lý (ethically
neutral), nó cũng mời độc giả hành động cách khác biệt. Vì vậy,
người ta không thể đến gần ý nghĩa của bản văn mà không phát
huy (thực hiện) sự đồng hình dạng của chính căn tính mình, chân
trời biểu tượng mà chính câu chuyện của họ được đặt vào trong
đó.
Đối với vấn đề chúng ta đang bàn luận, nghĩa là, mối liên
kết giữa ký ức, thuật trình và lịch sử trong thuật trình của giấc mơ
chín tuổi, lý thuyết của Ricoeur cống hiến những yếu tố lợi ích
hiển nhiên về lý thuyết. Nó cho phép chúng ta hiểu rõ hơn rằng
thuật trình mà Don Bosco cho chúng ta về kinh nghiệm của ngài
không thể chỉ được hiểu (nắm bắt) như một thuật trình chất thể
suông về biến cố đó, nhưng phải được hiểu như là cách thức bắt
chước (mimesis) qua đó Don Bosco làm cho cái Ngã của mình đến
gần với chúng ta trong một hình thức mà sẽ không thể đạt được
chỉ qua sự tái thiết có tính tài liêu mà thôi.
Sự kiện rằng giai thoại giấc mơ đó xuất hiện như một yếu
tố sáng lập trong kiến trúc trình thuật của Hồi ký chỉ tới tầm quan
trọng mà người thuật truyện nhận biết khi cấu trúc căn tính của
mình. Don Bosco vẽ những vòng cung (arches) của câu chuyện
bằng cách làm cho giấc mơ đó thành sự tiền dự về bức tranh lịch
sử tổng quát, bởi vì, trong sự lặp lại (reprise) hậu nghiệm (a
posteriori), ngài làm về cuộc đời mình, ngài tìm thấy ở đó biến cố
được bắt trong sự tương tác của một cốt truyện được tác động. Lịch sử không thể
được tóm tắt trong lý thuyết; nó chỉ có thể được hiểu bởi vì nó đượckể, nghĩa làm nó
có một tính khả tri mang tính thuật truyện.
21

3.4 Page 24

▲torna in alto
vốn làm cho việc thâu họp nó thành sự duy nhất thành có thể
được.
Theo nghĩa này, sự kiện là trình thuật được viết 50 năm
sau khi xảy ra không giản lược tính khả tín của nó. Một trình thuật
được gom lại khi tỉnh dậy hay thậm chí việc ghi lại cách thường
nghiệm (không thể được) hiện tượng tâm thần sẽ không cho
chúng ta bất kỳ sự đến gần chân chính hơn với điều Gioan Bosco
như một đứa trẻ kinh nghiệm trong chính cá tính (ipseity) của
mình. Lý luận như thế sẽ phản bội một khoé nhìn về bản ngã như
ý thức trong suốt đối với chính mình và sẽ giản lược những đường
nét của kinh nghiệm nhân loại vào những giới hạn của một sự tức
thời mà không có chiều sâu nào. Kinh nghiệm đời sống hằng ngày
của chúng ta không trùng hợp với mức độ ý thức vốn đi theo nó
và với sự hồi phục chúng ta có thể làm từ nó trong thời khắc đó.
Nhiều sự xảy ra (hành động, chọn lựa, thái độ, gặp gỡ) chỉ trở nên
rõ ràng cho chúng ta trong những hàm ý của chúng ở đằng xa, qua
sự hồi phục mà chúng ta làm từ chúng khi đối thoại với một người
bạn hay một vị linh hướng. Vậy thuật trình và sự so sánh với
những người khác làm chúng ta có thể nhận biết điều mà tính
đương thời sát nghĩa của các sự kiện ngăn cản ta không thấy. Nói
cách dễ tiếp cận nhất, ý nghĩa của kinh nghiệm thì như hạt giống
tăng trưởng (lớn lên) trong mảnh đất của ý thức và chỉ triển khai
những năng lực của nó qua những nguồn ‘văn hoá’ vốn cho phép
giải thích nó. Vì vậy, ký ức không chỉ là một cái lọc vốn chọn lựa
và giữ lấy những kỷ niệm, được dành để càng bị lu mờ hơn; nó là
chỗ của sự phiền phức có tính thuật truyện về chiều sâu biểu
tượng của kinh nghiệm mà chính bản ngã chúng ta kinh nghiệm.
Đây là lý lẽ sau cùng (tối hậu) tại sao không có ký ức không có căn
tính.
Đọc giấc mơ chín tuổi như một loại biên niên sử về các sự
kiện, khi bàn đến những lời của giấc mơ đó như thể chúng là
những ipsissima verba sẽ là một sự thông diễn ấu trĩ. Có lẽ việc
đọc như thế có thể xem như một diễn đạt của sự tin tưởng tối cao
22

3.5 Page 25

▲torna in alto
(utmost) vào tính thực tại của bản văn, nhưng trong thực tế nó
hàm ẩn một sự coi thường cốt yếu đối với cái cốt truyện phức tạp
với chính ảo tưởng là có thể đạt tới tính chất thể của một dữ liệu
không thể tranh cãi được. Sự “tăng trưởng” mà biến cố 50 năm
trước trải qua trong ý thức của Don Bosco không phải là một yếu
tố bị bỏ quên hay lấy đi, bởi vì chính qua sự tăng trưởng này mà
ý nghĩa của kinh nghiệm giấc mơ chín muồi tới độ tìm ra chính
thời gian, bối cảnh và những lời thích hợp nhất để được trở lại
trong hình thức tra hỏi mà nó đã có.32
Đọc giấc mơ này như một “kiến thiết nhân tạo” suông mà
thôi, kết quả của một sự nhấn mạnh có ý hướng vốn đã làm đầy
những khoảng cách của ký ức, sẽ là một thông diễn học của nghi
ngờ mà, một cách thẳng thắn, dường như không biện chính được.
Thực thế, nó tạo nghi vấn không chỉ lời đề xướng lại của một biến
cố, nhưng tính khả tín toàn vẹn của bức tranh đầy đủ mà Don
Bosco cống hiến cho chúng ta về căn tính trình thuật của ngài.
Thực thế, vai trò cấu trúc mà câu chuyện của giấc mơ đó có trong
cốt truyện của Hồi ký thì tương đương với tầm quan trọng nó có
trong hình thể (configuration) mà người kể gán cho đời mình. Lời
giải thích giấc mơ đó như sự tỏ lộ của một sáng kiến thần linh,
hiển nhiên xuyên qua những dòng của câu chuyện và hiện diện
minh nhiên trình bày nó, nêu nghi ngờ những xác tín sâu xa nhất
đi kèm với Don Bosco trong việc thực thi sứ mệnh và trong sự
chuyển giao đoàn sủng: như một cái gì không đến từ ngài, nhưng
có một nguồn gốc khác. Giấc mơ đó là một biểu tượng của nguồn
cội này trong những hạn từ thuật truyện – và như vậy trong ý thức
của Don Bosco thật sự như thế. Chính vì thế, một sự nghi ngờ triệt
để của một vị thánh vốn kể cho ta chính câu chuyện của mình qui
chiếu hơn tới một sự chứng thực về một chân trời hiện sinh của
32 Những sửa chữa được tìm thấy trong thủ bản, và ấn bản có tính phê bình của
Antonio Da Silva Ferreira làm nên sẵn đấy, chứng thực cho phẩm chất chính xác qua
sự chọn lựa ngôn ngữ học.
23

3.6 Page 26

▲torna in alto
độc giả, nghĩa là, một sự chứng thực của độc giả sẵn lòng cho phép
mình được định hình lại bởi biến cố của lời được ban cho mình.
Tóm lại, chúng ta tin rằng việc đọc trình thuật giấc mơ
chín tuổi như sự mimesis thuật trình vốn một cách ngay thật quay
trở lại tầm quan trọng mà kinh nghiệm giấc mơ đã có trong việc
tạo thành cái bản ngã của Don Bosco là thông diễn học nhất quán
nhất: vừa phê bình vừa tin tưởng. Vì vậy, điều này khiến ta có thể
xác quyết rằng sự vĩ đại nguyên thuỷ thuộc về chính sự kiện chân
thật (lịch sử) nhưng chỉ qua sự tăng trưởng trong ý thức (ký ức)
ta có thể tìm thấy những lời để được trở lại bằng sự thuật truyện
(câu chuyện).
2.2. Kinh nghiệm giấc mơ
Nhưng một giấc mơ có thể có ý nghĩa như thế không? Lý
luận của người phương Tây tân thời lập tức dẫn chúng ta tới câu
trả lời ‘không’. Tuy nhiên, sự tức thời này đơn giản không phải là
một sự tự phát, nhưng bởi vì những khuôn mẫu văn hoá vốn đã
ổn định trong văn hoá chúng ta suốt bao thế kỷ của thời Khai sáng.
Đang khi đối với người thượng cổ, với luật trừ là Aristote
và một số môn đệ của ông, giấc mơ qui chiếu tới một cái gì khách
quan, thật sự và cụ thể, dù được liên kết với thần linh, ma thuật
hay cái thông thường,33 thì đối với người tân thời, vốn có khuynh
hướng làm cho những không gian của ý thức thiêng liêng trùng
khớp với những không gian của sự nhận biết lúc tỉnh táo, chúng
trình bày mình như một thứ kinh nghiệm được giảm thiểu mà chỉ
33 Đối với thế giới cổ điển, xem E. Dodds, I Greci e l’Irrazionale (La Nuova Italia,
Firenze 1959) (cách riêng chương Schema onirico e schema di civiltà) [có sẵn trong
tiếng Anh ở archive.org như The Greeks and the Irrational]; L. Binswanger, Il sogno.
Mutamenti nella concezione e interpretazione dai greci al presente (1928)
(Quodlibet, Macerta, 2009); Đối với thế giới Kinh thánh, xem J.M. Husser, “Songe,”
in Supplement au Dictionnaire de la Bible 12 (1996) 1439-1543; E.R. Hayes - L.-S.
Tiemeyer (eds.), “I Lifted my Eyes and Saw”. Reading Dream and Vision Reports in
the Hebrew Bible (Bloomsbury, London 2014).
24

3.7 Page 27

▲torna in alto
một thực tại đồng tác thành rất khiêm tốn có thể được giao cho
nó. Lịch sử triết học cho thấy rằng với lời Descartes xác quyết về
Cogito, có một việc trục xuất mang tính tỷ lệ tương ứng của giấc
mơ ra khỏi những biên cương của sự thật và một khuynh hướng
đẩy nó ra bên lề trong lãnh vực ảo tưởng/giác. Điều mà không thể
gán cho lãnh vực ý tưởng rõ ràng và phân minh, điều mà không
thuộc vào thế giới của ý nghĩa dễ hiểu và thuôc lý (rational), đều
được coi là thời khắc yếu kém của ý thức.
Luisa De Paula viết rõ ràng:
Trong thời kỳ từ những suy niệm về triết học đệ nhất đến Traumdeutung
(giải thích giấc mơ), con người thức tỉnh đặt chính mình xa cách với cái
bản ngã đêm tối bằng cách nhốt nó vào chốn hư ảo. Sự tách chia có tính
nhị nguyên giữa tâm trí thức tỉnh và lý trí giấc mơ ngay tức khắc cũng là
một độc quyền của cái trước trong lãnh vực của cái thực. Vì vậy, ta không
thể hiểu sự lý tán của ý thức tỉnh thức khỏi cái Cogito ban đêm và tính
tối cao (ưu đẳng/supremacy) của cái trước trên cái sau hoặc như một
dữ liệu sinh học và cấu thành của con người, hoặc như một biến thể
(variable) độc lập của tiến trình lịch sử, nhưng đúng hơn ta nên đóng
khung nó trong lối đường rộng hơn của văn minh phương Tây vốn dẫn
tới sự ly tách giữa bản ngã (ego) và thế giới, thân xác và linh hồn, giác
quan và lý trí, cùng với hạn từ đó chầm chậm bị gạt ra bên lề khỏi chân
trời của thực tại.34
Cuốn The Interpretation of Dreams của Freud tới một mức
rộng lớn là tột đỉnh của tiến trình này. Thực thế, cha đẻ của lý
thuyết phân tâm mang câu hỏi của giấc mơ tới trung tâm chú ý
của văn hoá với cái giá là hiểu biết nó không như một kinh nghiệm
nguyên thuỷ để được ta hiểu vì chính giá trị của nó, nhưng như
một thực tại được rút tỉa, một triệu chứng, một phần sót lại. Trong
khái niệm của Freud, “nội dung rõ rệt” của giấc mơ thì như một
mặt tiền ảo giác (illusory) che dấu một chân lý bị ẩn kín, là “tư
tưởng ngầm” mà ta phải đạt đến. Vì vậy, kinh nghiệm hình ảnh
của giấc mơ không có giá trị cho chính mình, không có ý nghĩa của
34 L. De Paula, Il sogno tra radicalismo scettico e realismo onirico,
http://www.uniurb. it/Filosofia/isonomia/2008depaula. pdf, 3.
25

3.8 Page 28

▲torna in alto
chính mình, nhưng chỉ là tiếng dội méo mó của một cái gì vốn ở
chỗ khác, trong vô thức. Vì vậy, nó chỉ có lợi theo mức độ nó qui
chiếu tới ý nghĩa tiền-hiện hữu, mà nó không là gì khác hơn một
sự diễn đạt của ý nghĩa đó. Để cho giấc mơ lại nên dễ hiểu, tâm lý
học tân thời đã giả định cái vô thức, một phi chỗ (non-place) ở đó
những kiến tạo ban đêm qui chiếu tới những ao ước vỡ mộng
(frustrated) và những tưởng tượng bị dời đi.35
Tuy nhiên, lối tiếp cận này cho thấy sự bất xứng hợp
(inadequacy) của nó theo thời gian và nay phân tâm học tách
mình khỏi lối tiếp cận của Freud. Thực thế, ý thức “sống những
cuộc phiêu lưu của đêm tối với cùng một sự mãnh liệt của ban
ngày; những hình ảnh của giấc mơ trình bày mình cho chúng ta
với một sự hiển nhiên không kém những hình ảnh khi ta thức.”36
Tri giác không trùng hợp với ý thức: chúng ta liên lỷ bị chìm ngập
trong những tri giác (âm thanh, thị giác, khứu giác); chúng không
nhất thiết lôi kéo chúng ta chú ý khi đang thức, nhưng không
ngừng là thực sự. Vì vậy, không thể giản lược thực tại ý thức vào
sự tỉnh thức có tính chú ý và những dụng cụ của tư tưởng. Chính
cách thức trong đó tri giác thế giới và việc trao ban ý nghĩa xảy ra
trong chúng ta hàm ẩn việc xem xét một lãnh vực rộng lớn của
35 “Freud thất bại để đi vượt qua một định đề cơ bản của tâm lý học thế kỷ 19: giấc
mơ là sử thi ca của hình ảnh. Nếu giấc mơ chỉ là thế, ta có thể tát cạn nó trong một
sự phân tích tâm lý được dẫn dắt hoặc theo một phong thái máy móc của một khoa
tâm sinh lý (psychophysiology) hay trong phong thái của một sự tìm kiếm các ý
nghĩa. Nhưng giấc mơ có lẽ lớn hơn nhiều một sử thi ca của những hình ảnh, vì lý lẽ
đơn giản rằng nó là một kinh nghiệm có hình ảnh (imaginary experience); và nếu nó
không thể bị tát cạn – nhưta đã thấy – bởi một sự phân tích tâm lý học, chính bởi vì
no rơi vào tầm nhìn của lý thuyết về tri thức. Cho đến thế kỷ 19, chính trong những
hạn từ của lý thuyết về tri thức mà vấn đề giấc mơ được đặt định. Giấc mơ được
miêu tả như một hình thức tuyệt đối biệt loại của kinh nghiệm, và nếu có thể nêu bật
tâm lý học của nó, điều này được thực hiện cách thứ phụ và rút tỉa từ lý thuyết về tri
thức mà định vị nó như một loại kinh nghiệm. Chính truyền thống bị lãng quên này
mà Binswanger đảm nhận lại trong Dream and Existence” (M. Foucault, Il sogno
[Raffaello Cortina, Milano 2003] 28).
36 L. De Paula, Il sogno tra radicalismo scettico e realismo onirico, 16.
26

3.9 Page 29

▲torna in alto
kinh nghiệm hơn những điều mà chúng ta có thể thống trị một
cách thuộc lý.
Vì vậy, khi mơ màng, con người không ‘kém’ là chính mình
hơn trong cuộc sống tỉnh thức, nhưng nó là thế theo một hình
thức khác, giá trị biệt loại của nó phải được thừa nhận trong cái
tiếp diễn (continuum) của hiện hữu. Bằng cách mơ, con người
thiết lập một mối liên hệ khác với sự vật, áp dụng một cách cư trú
khác trong thế giới mà không chỉ là ‘ảo tưởng” (illusion), mặc dù
nó không có hình thức sáng chói của sự trừu xuất nhận thức. Nay
khoa thần kinh đồng ý sự kiện này nhờ thiết lập khảo cứu. Khoa
chụp X quang (Radioscopic visualisation) cho thấy rằng đang khi
chúng ta mơ, não chúng ta ghi nhận những đỉnh tối đa của hoạt
động, có thể so sánh với những đỉnh nó chỉ đạt tới trong những
thời khắc của sự tập trung chú ý tối đa khi thức.
Vì vậy, để ban lại cho giấc mơ cái khả năng lên tiếng của nó,
thì khôi phục lại mối tương giao nguyên thuỷ của ý thức với thân
xác và thế giới quả là thiết yếu. Triết học đương thời, với bối cảnh
của nó trong hiện tượng luận, cống hiến những đóng góp quan
trọng cho sự triển khai (elaboration) một lối tiếp cận quân bình
vốn cho phép nhập hiệp những dữ liệu khoa thần kinh với sự chú
ý đến những kinh nghiệm của chủ thể. Bằng cách này, giấc mơ
chuyển từ việc là một ‘phi chỗ’ (non-place) của ý thức tới một việc
thức tỉnh theo hiện tượng luận của Thế giới hữu vị (Eigenwelt).
Dĩ nhiên, điều này hàm ẩn sự kính trọng đối với chiều kích tối
sáng (chiaroscuro) mà giấc mơ mang với nó, việc nó trốn thoát
khỏi những yêu cầu của bản ngã (ego) không ngủ để vây bọc nó
cách mạnh mẽ trong những phạm trù của chính mình.
Ý tưởng rằng giấc mơ cho thấy việc tỏ lộ của cái Lebenswelt
hay thế giới sinh động của ngôi vị trong cách thức họ được thiết
lập, khôi phục và giải thích lại một trực giác của triết gia Hy lạp
Heraclitus, mà một trong những mảnh viết của ông tuyên bố: “đối
với những ai đang thức, có một thế giới chung, nhưng cho những
ai đang ngủ, một người được rút vào một thế giới riêng biệt của
27

3.10 Page 30

▲torna in alto
chính mình” (idios kosmos).37 Ludwig Binswanger, người dẫn giải
lớn nhất38 của sự phân tích hiện sinh và tâm thần hiện tượng học,
và Michel Foucault, trong giai đoạn tư duy ban đầu, cống hiến một
đóng góp quan trọng để khai triển trực giác này. Hơn là việc cố
định trên những hình ảnh giấc mơ cá nhân để giải mã ý nghĩa
thuộc lý ẩn dấu của chúng, họ cho thấy cơ hội để nhìn vào giấc mơ
như một hành vi có ý hướng của ý thức để nêu ra những hướng ý
nghĩa của nó.
Foucault viết về điều này:
Trong và qua tính siêu việt của nó, giấc mơ vén mở cái vận hành (chuyển
động) nguyên thuỷ nhờ đó trong sự cô tịch không thể giản lược của nó,
cuộc đời dọi phóng mình tới một thế giới vốn cấu thành chính nó như
nơi chốn của lịch sử của nó […] Nhờ việc bẻ gãy với tính khách quan này
vốn quyến dũ ý thức tỉnh thức, khôi phục cho chủ thể nhân linh sự tự do
triệt để của nó, giấc mơ một cách nghịch lý tỏ lộ chuyển động của tự do
hướng tới thế giới, điểm nguyên thuỷ từ đó tự do trở thành thế giới.39
Bằng cách này, vai trò nguyên thuỷ của trí tưởng trong vận
hành siêu việt tính của ý thức được khôi phục. Nó
Không phải là một cái gì chỉ thêm vào hay thứ phụ cho điều là đối tượng
của tri giác hay cảm giác, nhưng đúng hơn là tiền điều kiện/điều kiện
tiên quyết bất khả thế để bất kỳ “thực tại” nào, sự vật hay ngôi vị, xuất
hiện, để trở nên hiện diện với tôi; kinh nghiệm giấc mơ bộc lộ sự trong
suốt của trí tưởng không ngừng làm việc.40
37 Đây là mảnh IX, được trích dẫn trong M. Foucault, Il sogno, 42.
38 L. Binswanger, Il sogno. Mutamenti nella concezione e interpretazione dai greci
al presente (1928) (Quodlibet, Macerata 2009); Sogno ed esistenza (1930) (SE,
Milano 1993).
39 M. Foucault, Il sogno, 43.
40 L. De Paula, Il sogno senza inconscio. Immaginazione notturna tra psicologia e
fenomenologia (Alpes, Roma 2013) 31. Ngay cả chỉ để nhìn một người được yêu
thương, tôi cần trí tưởng tượng. Chính nhờ nó mà, tận cốt lõi của tri giác, tôi có thể
nắn hình một người và những đối vật bao quanh người đó. Trong kinh nghiệm tri
giác, một chuyển động của sự bí mật (ulteriority) và sự siêu việt luôn hoạt động, một
năng động lực có ý thướng vốn tổ chức và phối hợp hoạt động giác quan, mở ra chân
trời của nó.
28

4 Pages 31-40

▲torna in alto

4.1 Page 31

▲torna in alto
Trí tưởng cho thấy chuyển vận cấu thành độc đáo của tính
hiện hữu (beingness) trong thế giới, một loạt những hành vi có ý
hướng nhờ đó một thế giới được nên hiện diện đối với ý thức. Sự
khôi phục này rất quan trọng bởi vì nó nới rộng các chân trời của
mối liên hệ giữa con người và chân lý: chân lý không thể xuất hiện
cho con người mà không cho thấy sự nối kết của nó với thế giới
và không làm cho chiều kích tưởng tượng can dự vào.
Nó cũng hồi phục nhu cầu nắm bắt chính giấc mơ trong
chân trời sinh động của chủ thể, trong việc chủ thể toàn diện rộng
mở với thế giới và đời sống. Đây là cách thức triết gia Maria
Zambrano nói về nó:
Thay vì chỉ được phân tích, giấc mơ phải được hấp thụ, đó là một tiến
trình thực sự. Lời giải thích những giấc mơ về thực tại một cách nào đó
rõ ràng xảy ra trong một loại giấc mơ thuộc mức độ thứ hai trong lúc
thức. Người mà tham gia vào giấc mơ tiếp nối nó cách sáng sủa […] Tri
thức có giá trị thích hợp cho những bước tiến của ngôi vị phải thật sinh
động: chỉ khi đó nó mới tri thức chân thật và giải phóng.41
Vì vậy, trí tưởng giống giấc mơ (dreamlike) không thể đến
gần sự tỉnh thức bằng sự phân tích vốn khử cấu trúc nó, nhưng
phải chuyển đổi (transfer) nó thành hành động của người mơ. Nó
mở rộng tới phía trước hơn là phía sau; nó diễn đạt một chuyển
động trong đó ngôi vị định vị chính mình hơn là một kho chứa
(deposit) của điều mà nó đã kinh nghiệm. Vì thế, giấc mơ chỉ tới
một “hướng chiều”, một “định hướng” về thế giới của mình:
không phải với ý tưởng rõ ràng sáng chói nhưng như một vận
hành bên trong của trí tưởng. Chính bằng cách lắng nghe vận
hành như thế mà ta có thể hiểu giấc mơ.
Ở điểm này không khó để hiểu rằng, nếu ta trồi hiện từ định
kiến (thành kiến) tân thời hướng tới người mơ, sức mạnh khởi
hứng và hướng dẫn mà giấc mơ chín tuổi đã có trên đời của Don
Bosco mới có những lý lẽ vững chắc cho sự có lý (plausibility) của
41 M. Zambrano, Il sogno creatore (Mondadori, Milano 2002) 24.
29

4.2 Page 32

▲torna in alto
nó. Trong chân trời của những thành tựu nhân học gần đây nhất
về “ý thức giấc mơ” nó là một sự kiện mà không nêu lên những
chống đối. Giấc mơ thời niên thiếu diễn tả một “hướng tới”, một
“vận hành” đời sống có ý hướng của người mơ (thực vậy, như
chúng ta sẽ thấy, một sự sửa chữa của chuyển động) vốn đòi hỏi
để trở thành thực tại. Lebenswelt (thế giới sống) của Gioan diễn
đạt chính mình một cách hấp dẫn, trong rất nhiều qui chiếu:
những qui chiếu về khung cảnh (sân chơi, căn nhà), những qui
chiếu về tương quan (mẹ ngài), những qui chiếu tôn giáo (hai
nhân vật uy nghiêm), những qui chiếu văn hoá (các thiếu niên,
những con vật hung dữ, những con chiên), nhưng trên hết, qua
chúng một hướng đời sống rõ ràng được diễn đạt: không phải với
ý tưởng sáng chói, vì lẽ người mơ chẳng hiểu các sự vật chính ở
bình diện này, nhưng được những hình ảnh đầy ngập với năng lực
trợ giúp.
Sau khi thiết lập được một khả thể nhân học rằng giấc mơ
có sức mạnh hướng dẫn thực sự trong đời sống, nay chúng ta đi
đến trật tự thứ ba của những câu hỏi. Trong giấc mơ của Gioan
chúng ta gặp hai nhân vật vốn trình bày mình như những nhân
vật siêu việt, thật sự với ý nghĩa Kitô và Thánh mẫu học rõ ràng:
người đàn ông uy nghi và người nữ với vẻ quí phái. Có phải các
ngài đơn giản là những hình ảnh vốn trồi hiện từ những tưởng
tượng ban đêm của một đứa trẻ, có lẽ như một kết quả của một
biến cố nào đó trước kia vốn cống hiến một gợi ý hay không? Hoặc
như Don Bosco dường như đã tin ngày một thâm tín hơn, giấc mơ
đó có phải là một hiện tượng siêu nhiên không? Với ý thức rằng
đạt được những câu trả lời không thể phản bác (incontestable)
trước những loại câu hỏi này quả là không thể được – nếu chỉ bởi
vì những niềm tin, thái độ, kinh nghiệm và lập trường cá nhân
hoạt động trong lãnh vực này hơn trong những lãnh vực khác –
chúng tôi sẽ cố gắng cung cấp cho độc giả ít nhất một vài yếu tố
vốn có thể đóng góp cho sự minh định, mà không bỏ đi việc đề
xướng câu trả lời mà chúng tôi xét là thuyết phục nhất.
30

4.3 Page 33

▲torna in alto
2.3. Hiện tượng ngoại thường
Để bàn đến câu hỏi về tính chất “siêu nhiên” của giấc mơ
chín tuổi, thật đáng ghi nhớ rằng trước tiên trong đời sống Don
Bosco có những hiện tượng ngoại thường là một sự kiện ‘nói có
sách mách có chứng’ và rất nhất quán. Có vô số giai thoại trong
đó những sự lạ lùng xâm nhập vào đời sống của vị thánh và, trong
nhiều trường hợp, điều này xảy ra trước mắt của chính những kẻ
sau này sẽ tuyên thệ làm chứng trong tiến trình phong thánh. Đây
là trường hợp của những sự phục hồi bất ngờ khỏi những bệnh
nặng hay không thể chữa được, chẳng hạn, như mù loà hay bại
liệt; chúng xảy ra khi Don Bosco ban phép lành của Mẹ Phù hộ;
hoặc những ổ bánh được tăng lên lạ lùng; giữa những người khác
nữa, nó được cha Dalmazzo kể lại; như một thiếu niên, ngài trực
tiếp chứng thực phép lạ đó; hoặc những lời ngài tiên báo về
những biến cố tương lai mà các chứng nhân khác nhau chứng
thực rằng chúng được hoàn thành cách chi tiết.
Gợi nhớ thái độ mà Don Bosco đã luôn có đối với những
hiện tượng ngoại thường này vốn đi kèm với tác vụ của ngài cũng
thật quan trọng. Theo các chứng nhân làm chứng, ngài rất ly thoát
khỏi tất cả điều này; ngài không tìm kiếm danh tiếng rút ra từ đó,
dưới bất kỳ cách nào; trái lại, ngài lo sợ những sự kiện như thế
nảy sinh sự náo loạn về ngài. Một chứng từ trực tiếp hơn đối với
thái độ của Don Bosco trước những giấc mơ của ngài đến từ cha
Cagliero, người thốt lên lời cung của mình trước tiến trình thông
thường (phong thánh):
Tôi có mặt năm 1861 khi ngài kể cho chúng tôi một giấc mơ khác trong
đó ngài đã thấy tương lai của Tu hội đang bắt đầu, dù chưa được Toà
Thánh công nhận (ca ngợi, hoan hô). Ở đây tôi lưu ý đến sự tế nhị của
Đầy Tớ Chúa; từ lúc ngài bắt đầu có những giấc mơ này, ngài đã tham
khảo cha Linh Hướng Cafasso tinh tường và thánh thiện, người đã bảo
Don Bosco tiến bước một cách ý thức khi gán tầm quan trọng cho những
giấc mơ này mà ngài xét là để Thiên Chúa vinh quang hơn và ích lợi cho
31

4.4 Page 34

▲torna in alto
các linh hồn. Don Bosco nói điều này cho chúng tôi là những bạn hữu
thân cận nhất của ngài.42
Vì vậy, Don Bosco cho thấy thái độ trách nhiệm, niềm tri ân
và sự khiêm nhường trước những giấc mơ và, tổng quát hơn,
trước những “điều ngoại thường” vây bọc đời sống ngài, mà
những bậc thầy thiêng liêng vĩ đại luôn dặn dò trong những hoàn
cảnh này. Từ viễn cảnh này ngài cũng bộc lộ tầm vóc thiêng liêng
phi thường và sự tự do tinh thần đáng khen. Những giấc mơ của
ngài, được chấp nhận với sự ngoan nguỳ khiêm cung và sự phân
định khôn ngoan
đặt nền những xác tín và nâng đỡ các sự nghiệp. Không có chúng người
ta không thể cắt nghĩa một số nét đặc trưng thuộc linh đạo của Don Bosco
và những người Salêdiêng. Chúng đáng được học hỏi cẩn thận, không
phải chỉ vì nội dung sư phạm và luân lý của chúng nhưng vì điều tự thân
của chúng và vì cách thức Don Bosco, những người trẻ, những người tán
thưởng và những kẻ thừa kế thiêng liêng của ngài hiểu chúng.43
Tính thực tế và công cảm thực tiễn mà Don Bosco đã thừa
hưởng từ dân tộc mình, được diễn đạt hùng hồn qua câu nói cùn
của bà nội, “chúng ta đừng để ý đến mộng mị làm chi”, sẽ không
cho phép những giấc mơ ảnh hưởng ngài sâu xa đến nỗi ngài
không coi chúng là những người mang chở một sứ điệp thiêng
liêng mà ta phải đi theo.44
42 Copia Publica Transumpti Processus Ordinaria, 1195r-v.
43 PST2, 507.
44 Dù sao chăng nữa, giữa những môn đệ của ngài, niềm tin rằng những giấc mơ, đối
với đa phần, là những “thị kiến thầnlinh” chân thật thì phổ biến. Đây là cách thức
Cagliero diễn đạt chính mình, chẳng hạn, trong lời cung khai được nói ở trên: “Giữa
những mặc khải mà Tôi Tờ Chúa đã có khi là một đứa trẻ và khi là linh mục, và điều
đó ngà igọi là những giấc mơ…” (Copia Publica Transumpti Processus Ordinaria,
1135r). Cerruti cũng chứng thực rằng đây là một khái niệm chung giữa các thiếu
niên: “Tôi và đa phần các bạn tôi hầu như tin rằng chúng là những thị kiến, nghĩa là,
những cách trong đó Chúa tỏ cho Don Bosco điều ngài muốn, và trên hết, điều gì cần
thiết cho sự thiện thiêng liêng của chúng tôi.” (ibid., 1362v). Những chứng từ thuộc
loại này có thể nhiều thêm.
32

4.5 Page 35

▲torna in alto
Về giấc mơ chín tuổi một cách trực tiếp hơn, khởi điểm để
lý luận về đặc tính siêu nhiên của nó chỉ có thể là đoạn sau đây
trích từ Hồi ký:
Nhưng khi cha đến Roma năm 1858 để nói cho Đức Giáo hoàng về Tu hội
Salêdiêng, ngài hỏi cha kể cho ngài mọi sự mà giới siêu nhiên đã gợi hứng
về nó. Vậy chỉ lúc đó, lần đầu tiên, cha nói mọi sự về giấc mơ cha đã có
lúc chín hay mười tuổi. Đức Giáo hoàng đã lệnh cho cha phải viết xuống
giấc mơ ấy thật chi tiết và để lại nhằm kích lệ cho con cái của Tu hội mà
sự thành lập Tu hội chính là lý do cho việc thăm viếng Roma này.
Don Bosco sâu xa thâm tín rằng không ai sẽ đặt tay để thành
lập một tu hội mà không có những dấu chỉ rõ ràng từ trên cao;
dường như qua những lời trên, ngài diễn đạt mình xác tín rằng
giấc mơ ngài có khi còn là thiếu niên đã là một trong những dấu
này. Xem ra mệnh lệnh của Đức Piô IX bắt soạn ra một bản nháp
chính xác là một lời xác quyết có thẩm quyền, nếu mặc nhiên, về
điều này.
Nhưng ta phải hiểu ra sao những thông giao siêu nhiên này,
mà lịch sử linh đạo cống hiến vô vàn chứng từ về chúng, và tới
mức nào diễn đạt một ý kiến đối với tính chân chính của nó là có
thể được? Suy tư cẩn thận mà một thần học gia nổi tiếng K.
Rahner đã khai triển về điều này trong bài viết “Visions and
Prophecies” có thể giúp chúng ta trình bày một câu trả lời cho
những câu hỏi này.45
Để có được hiểu biết thần học về những hiện tượng này,
Rahner đưa vào một sửa đổi quan trọng cho lối tiếp cận của khoa
biện giáo theo giáo khoa vốn nhìn chúng trong khung của mối
tương giao giữa mặc khải công và mặc khải tư. Khi ghi nhận tính
bất nhất của lược đồ này, nhà thần học Đức nắm lấy cơ hội này để
đóng khung vấn đề đó từ viễn cảnh của những hiện tượng đặc
45 K. Rahner, Visions and Prophecies (Herder and Herder, New York, 1964) dù
những trích dẫn ở đây là một bản dịch trực tiếp từ ấn bản tiếng Ý: K. Rahner, Visioni
e profezie (Vita e Pensiero, Milano 1995). Những qui chiếu trang sách được lấy từ
ấn bản tiếng Ý.
33

4.6 Page 36

▲torna in alto
sủng mà với chúng Thánh Thần đóng góp vào việc hướng dẫn
Giáo Hội suốt bao thế kỷ, bằng cách cống hiến những ánh sáng đặc
thù của mình để đối diện những thách đố Giáo Hội đối diện. Vì
vậy, khi bàn đến các thị kiến, vấn đề không phải là hỏi xem chúng
thêm điều gì vào mặc khải Kitô học, nhưng đúng hơn cách thức/
(làm thế nào) và tới mức nào chúng góp phần để nhập thể nó
trong thế đại và tình huống biệt loại. Giá trị của chúng một cách
cốt yếu không ở bình diện của xác quyết, như một sự chứng thực
về một chân lý nào đó, nhưng ở trên bình diện mệnh lệnh
(imperative). Chúng tiên vàn không diễn đạt một ý tưởng, nhưng
đúng hơn một mệnh lệnh, một thái độ phải được đảm nhận;
chúng là những dấu chỉ đồng hình đồng dạng với một kinh
nghiệm thiêng liêng, khi khích lệ người thụ nhận, và có lẽ những
người khác được can dự vào cá vị này để hoàn thành một trách
vụ quan trọng nào đó vì sự sống của Giáo Hội. Cái mệnh lệnh được
Thiên Chúa khởi hứng trong một chi thể Giáo Hội vì Giáo Hội để
hành động trong một tình trạng lịch sử có sẵn dường như đối với
chúng ta là yếu tính của một “mặc khải tư” có tính ngôn sứ của
loại hậu Kitô hữu.46
Những hiện tượng như thế thì có thể được, điều ấy là một
sự kiện đức tin chắc chắn: “Mạc khải tư là có thể được qua những
thị kiến và những kinh nghiệm liên quan đến nghe (auditory), đối
với một Kitô hữu, điều ấy thì cốt yếu chắc chắn. Thiên Chúa, một
Thiên Chúa hữu vị và tự do, có thể làm cho tinh thần thụ tạo có
thể tri nhận ngài không chỉ qua những công việc của ngài nhưng
cũng qua lời tự do và hữu vị.”47 Đàng khác, họ là gì chỉ có thể kết
quả của sự phân định cẩn thận, và không bao giờ đòi phải có sự
phê chuẩn riêng và chân thật của fides cattolica, vì nội dung của
chúng không được trao cho Giáo Hội chính thức (official) vì Giáo
Hội để thông chuyển chúng một cách thẩm quyền cho các tín hữu,
46 K. Rahner, Visioni e profezie, 52. Hậu Kitô hữu ở đây được hiểu theo nghĩa là
“thuộc về một kỷ nguyên theo sau biến cố Kitô học”.
47 K. Rahner, Visioni e profezie, 38f.
34

4.7 Page 37

▲torna in alto
nhưng đúng hơn một uy tín vốn được liên kết với sự rõ ràng mà
có thể đạt được. Trong một số trường hợp, đối với người thụ nhận
thị kiến và có lẽ cũng đối với những người khác, một uy tín có thể
là một vấn đề của fides divina chân thật và riêng, nghĩa là, một uy
tín được ban cách hữu vị cho Thiên Chúa bằng cách nhìn nhận
rằng người ta đã bị ngài thách đố.
Vì thế, Rahner đòi hỏi một thái độ quân bình lành mạnh mà,
nhiều hơn trong quá khứ, nhận biết vai trò cốt yếu và không thể
thay thế của đặc sủng ngôn sứ trong đời sống Giáo Hội, nhưng
đồng thời gợi nhắc rằng “trong những câu hỏi này, những câu trả
lời rõ nhất và xác thực nhất (apodictic), cũng như những giải đáp
đơn giản nhất và thực tiễn nhất, không nhất thiết cũng là chính
đáng nhất.”48
Về những dạng thức (modalities) của khoé nhìn siêu nhiên,
ta phải ghi nhận trước tiên rằng Thiên Chúa tỏ lộ qua những dấu
chỉ và hình ảnh “tương ứng với đặc tính nền tảng của Kitô giáo
hơn là một sự kết hiệp thần bí thuần khiết không có “những hình
ảnh”, từ đó vấn đề cổ xưa luôn luôn trồi hiện lại, như tính tôn giáo
như thế của sự siêu việt thuần tuý của tinh thần Kitô hữu cách
chân chính.”49 Sự loại suy giữa những thị kiến này và cấu trúc của
sự nhập thể trong đó con người và thần linh được kết hiệp mà
không lẫn lộn hàm ẩn việc nhìn nhận rằng trong hiện tượng chúng
ta đang bàn nhất thiết phải ghi nhớ cả những luật tâm thần vốn
rút từ những khả năng thiêng liêng của con người mà có thị kiến,
cũng như sáng kiến mà qua đó Thiên Chúa can thiệp vào chủ thể.
48 K. Rahner, Visioni e profezie, 31.
49 Ibid, 39, ghi chú 12. Đàng khác, nhất thiết phải hiểu, chính từ cấu trúc nhập thể
nền tảng này trong đó TC và tạo thành được qui tụ trong hiệp nhất mà không lẫn lộn,
rằng người ta có thể đến gần TC chỉ trong dấu chỉ - ngay cả trong diện mạo của thị
kiện – chỉ với điều kiện ngườ ta không gắn bó mình với dấu chỉ (noli me tangere)
như thẻ nó là một cáigì dứt khoát và tối hậu, chính TC, nhưng người ta chứng thực
cho nó bằng cách siêu việt nó, và nắm bắt nó bằng cách để nó tự do” (ibid).
35

4.8 Page 38

▲torna in alto
Điều này trước tiên có nghĩa rằng “để cho một thị kiến thật
sự là thực tại thiêng liêng của một chủ thể đặc thù, nói cách siêu
hình, nó phải thật sự là ‘hành vi’ (hiện thể) của chủ thể này, nghĩa
là, không chỉ được Thiên Chúa gây ra trong chủ thể, nhưng cũng
thực sự là công việc của chủ thể này, mà chính họ hoàn thành.”50
Thực thế, ngay cả những thị kiến được Thiên Chúa gợi lên, được
đâm rễ trong cấu trúc tâm-thể/sinh lý của chủ thể, vốn sẽ kinh
nghiệm chúng trong những chân trời của đời sống mình (chẳng
hạn, trong ngôn ngữ ông nói, với những hình ảnh mà ông có thể
nhận biết và v.v.).51 Trong trường hợp chúng ta, bất kỳ phẩm chất
thần học nào của biến cố đó, ta phải nắm vững rằng điều xảy ra
được hoàn thành qua những khả năng của Gioan Bosco như một
thiếu niên. Thật sự chính cậu đang mơ, ý thức của cậu không phải
là một loại màn hình thụ động các hình ảnh thiên đài được phóng
chiếu lên trên đó, có thể nói như thế; nhưng với khả năng tưởng
tượng của mình, nó hoàn toàn đóng góp vào việc sản sinh diện
mạo và diễn từ.
Một minh định quan trọng thứ hai liên quan đến sự kiện
rằng lối diễn đạt “thị kiến này là do Thiên Chúa”, như Rahner ghi
nhận, tự nó hàm hồ một cách ngoại thường, bởi vì mọi ân sủng
đều do từ Thiên Chúa mà ra, ngay cả khi nó có thể giải thích/cắt
nghĩa hoàn hảo trong luật tự nhiên. Con người tôn giáo chí lý nhận
biết Thiên Chúa tự do ban ân sủng để cứu độ họ, ngay cả trong
một biến cố mà ta có thể giải thich cách tự nhiên. Tuy nhiên, theo
50 Ibid. 66.
51 “Cách cụ thể, hiển nhiên là hầu như không thể nói chính xác ở đâu, trong hành vi
thị kiến, cái biên giới chạy giữa những luật tâm thần tất yếu có giá trị và những luật
tự nhiên, ngay cả nếu tất yếu, vốn bị treo lại qua sự can thiệp kỳ diệu của Thiên
Chúa.” (66) Hơn nữa, “nếu nhất thiết phải giả định một yếu tố chủ quan đã có trong
thị kiến tưởng tượng, thì điều này có thể thậm chí hơn như thế sau khi thị kiến, ngay
cả ở nơi chúng là những người tuyệt đối lương thiện: những sự sửa sai không tự ý,
những sai lỗi của trí nhớ, sử dụng những khuôn mẫu tư duy tiền quan niệm và một
ngữ vựng đã được đóng gói trong câu chuyện đó mà với nó những viễn cảnh là những
sự thêm vào không tự nguyện, được chuyển động cách ngẫu hứng của một loại thêm
vào, sự miêu tả và giải thích có tính tâm lý về biến cố đó, mà tiếp nối để tốt hơn hay
tệ hơn lệ thuộc vào khả năng tự quan sát của người thị kiến” (97ff).
36

4.9 Page 39

▲torna in alto
một nghĩa rất đặc thù, những thị kiến này có cội nguồn của mình
trong sự can thiệp siêu nhiên chân thật của Thiên Chúa, nghĩa là,
vượt quá những luật lệ có bản tính thể lý (physical) và tâm thần;
chúng phải được miêu tả như là “có cội nguồn thần linh.”52 Ngay
cả trong trường hợp này, nhất thiết vẫn phải phân biệt giữa (a)
điều gì là kết quả của việc Thiên Chúa cư ngụ thường hằng nơi
một tín hữu mà ta có thể gọi thật đúng là những thị kiến siêu
nhiên, chứ không phải là phép lạ theo nghĩa chuyên môn – và (b)
cái gì là kết quả của việc Thiên Chúa can thiệp diệu kỳ vốn treo
các luật tự nhiên và vì vậy cũng treo những luật tâm lý bình
thường. Rahner nói rất thích đáng:
Thực tiễn, thật rõ: nói một thị kiến được coi là Thiên Chúa tạo ra theo
nghĩa thứ nhất hay thứ hai của một biến cố siêu nhiên cách riêng từ hai
thời khắc có thể đồng qui trong cùng một thị kiến quả là không dễ dàng.
Hơn nữa, ta phải nhớ rằng ý nghĩa tôn giáo của một thị kiến siêu nhiên
theo nghĩa thứ nhất, bởi bản chất của nó có thể là cốt yếu lớn hơn một
thị kiến vốn là siêu nhiên theo nghĩa thứ hai, vì điều mà lạ lùng theo nghĩa
chuyên môn cũng không nhất thiết là điều hoàn hảo nhất, theo quan
điểm hữu thể học và đạo đức.53
Cuối cùng, khi bỏ sang một bên những khía cạnh khác của
vấn đề phức tạp này, thì nhận diện một yếu tố vốn giúp hiểu ta
muốn nói gì khi một thị kiến được giả thích như “lời tiên tri” và
điều gì phân biệt lời tiên tri kitô hữu chân chính với hiện tương
tâm thần là sự nhìn xa (đang được bàn cãi) quả là vẫn còn quan
trọng. Rahner nói, trong trường hợp của những thị kiến có tính
cận tâm lý (parapsychological) người linh thị nhìn thấy “một phần
ngẫu nhiên nhỏ của tương lai, nguời ta có thể nói một mảnh nhỏ
tuyệt đối tình cờ của một cuốn phim dài, nhưng không có mảnh
này được xen nhập vào một sự triển khai rộng hơn, tự nó có ý
52 Ibid. 68.
53 Ibid. 69.
37

4.10 Page 40

▲torna in alto
nghĩa, có một lời giải thích về ý nghĩa.”54 Bản chất của thị kiến tiên
tri chân chính thì rất khác:
Ít nhất tận cốt lõi của nó, đây không phải là một “thị kiến” nhưng là một
“lời”. Thích đáng, nó không cho thấy một mảnh tương lai như một hình
ảnh, nhưng chia sẻ một cái gì của nó như nó giải thích nó. Chính vì vậy,
một giải thích như thế thì tăm tối trong những chi tiết của nó – chính bởi
vì nó đến từ Thiên Chúa, chứ không phải bất chấp sự kiện rằng nó đến
từ Thiên Chúa – bởi vì nó nói về ý nghĩa của tương lai, nhưng không chút
được hiểu như một phương thế để lẩn mình khỏi hay để thấy trước điều
đó; đúng hơn, nó nhắm giữ cho con người tư do rộng mở dám tin tưởng
vào Thiên Chúa. Vì vậy, nó không có một phong thái của một nhà viết
biên niên sử vốn chuyển động lạ lùng vào tương lai và từ đó giải thích
điều họ kinh nghiệm; nhưng đúng hơn, nó mạc khải cho người mà người
đó ngỏ lời cho một cái gì của tình trạng hiện hành qua cái nhìn thoáng về
tương lai mà ông cần nâng đỡ cái bây giờ hiện tại, trong trung tín và tin
tưởng.55
Ở điểm này chúng ta cần trở lại giấc mơ của chúng ta, khi
tóm lược những dữ liệu ta đã có được và cố gắng để dứt khoát
tiến tới. Chúng ta nói rằng giấc mơ lúc chín tuổi đóng một vai trò
kiến tạo nền tảng để khai triển thuật trình đan xen nhau của Hồi
ký, một vai trò vốn tương ứng với tầm quan trọng hiện sinh mà
Don Bosco gán cho kinh nghiệm như giấc mơ này trong việc cấu
trúc cái căn tính tường thuật của ngài. Ta cũng nói rằng câu
chuyện, được viết 50 năm sau, không đơn giản là một thuật trình,
nhưng là một sự khôi phục mang tính thuật truyện vốn đến từ ký
ức thu góp lịch sử của chính nó lại với nhau trong một tính duy
nhất và trao lại ý nghĩa của kinh nghiệm nguyên thuỷ theo một
cách trưởng thành và tư duy. Điều này trở thành có thể hiểu được
hơn nhiều vì chúng ta vừa thấy rằng ý nghĩa của giấc mơ ta không
54 Ibid, 119. Người linh thị cận tâm lý một cách vô ngã nắm bắt/hiểu một mảnh nhỏ
của tương lai, mà tuyệt đối nhân quả, vô nghĩa và mù quáng, lướt vào lãnh vực tri
thức của ông. Điều mà được thấy trực tiếp thì được thấy rõ ràng và cụ thể, như thể
ngay tại chỗ. Điều này có thể được qui chiếu như một tường trình. Nhưng điều được
thấy rõ ràng như thế vẫn còn cô lập (tự thân) và vì thế, bất chấp tính rõ ràng của nó,
vẫn không thể hiểu được.
55 Ibid.
38

5 Pages 41-50

▲torna in alto

5.1 Page 41

▲torna in alto
nên tìm ở những hình ảnh cá nhân hay những lời xác đáng, nhưng
trong hướng chiều (định hướng) mà trong đó trí tưởng cho thấy
đang vận chuyển trong một hành vi siêu việt và rộng mở. Chính
trong bối cảnh năng động này mà các chi tiết cá nhân tỏ lộ tính
duy nhất và định hướng của nó.
Nay, trong ánh sáng của điều được nói về những thị kiến
siêu nhiên, chúng ta ngạc nhiên nếu những trang này về giấc mơ
mà Don Bosco gán cho nó một tầm quan trọng như thế chỉ là một
âm vang trống rỗng của một kinh nghiệm, trong đó, dù không ý
thức nó, ngài chỉ lắng nghe chính mình hoặc nó thực sự cho chúng
ta nội dung của một sự thông giao thần linh đặc biệt có một bản
chất tiên tri và tiền dự.
Những minh định được cung cấp cho đến giờ cho phép
chúng ta cấu trúc (đóng khung/frame) câu trả lời của chúng ta mà
không có những thái quá tối đa hoặc tối thiểu. Tối đa và sai lầm sẽ
là ý tưởng rằng nội dung của giấc mơ là một cuộc gặp gỡ Đức Chúa
và Đức Nữ Trinh trong đó các ngài được nhìn thấy và nghe thấy
theo cách thức loại suy với điều xảy ra trong tri giác giác quan
bình thường. Vì vậy, những lời các ngài xác nhận sẽ được hiểu là
những lời một cách ‘chất thể’ đến từ môi miệng của Đức Giêsu và
Đức Maria, vốn từ trời xuống thăm cậu thiếu niên miền Becchi.
Như chúng ta đã thấy, khái niệm này đi quá chiều kích nhân học
của biến cố đó, nghĩa là, nó xao nhãng vai trò của ý thức nơi Gioan
Bosco như một thiếu niên – chân trời nhận biết, trí tưởng, những
tài năng – đã đóng trong hiện tượng đó, và như vậy, chấp nhận ý
tưởng ấu trĩ về tính tức thời thiêng liêng. Đàng khác, giản lược
giấc mơ đó vào sự kiến tạo của vô thức nơi người mơ hay vào một
diễn đạt của trí tưởng tượng mang tính tôn giáo nhiệt huyết của
ngài quả là tối thiểu và cũng sai không kém. Nội dung của giấc mơ
không có một chút nào những nét của một điều được đón nhận,
nhưng đơn giản của một điều được sản sinh. Xét cách siêu hình,
luận đề này không phải là không thể được, nhưng nó đụng phải
nhiều chứng cớ luân lý và thiêng liêng. Để hỗ trợ nó, thực thế, ta
39

5.2 Page 42

▲torna in alto
phải nói rằng bằng cách đặt câu chuyện của giấc mơ đó lúc ngài
chín tuổi như một chìa khoá cho việc đọc Hồi ký Nguyện xá và vì
vậy, câu chuyện tông đồ và thiêng liêng của ngài, Don Bosco bị lừa
hay, thậm chí tệ hơn, lừa dối chính mình, về một yếu tố tuyệt đối
dứt khoát cho lịch sử cá nhân và đời sống cùng sứ mệnh của Tu
hội ngài, nghĩa là, sự hiện diện của tiếng gọi rất đặc biệt từ trên
cao, mà giấc mơ là dấu chỉ và dấu ấn của nó. Vô thức của một thiếu
niên đã sản sinh một bản văn đặc sủng quan trọng từ hư vô, một
điều vốn khởi hứng hàng ngàn tín hữu, và đã cống hiến những
trực giác thiêng liêng quan trọng cho một trong những đấng sáng
lập vĩ đại trong lịch sử Giáo Hội, mà không có bất kỳ sự can thiệp
đặc thù nào từ phía Thiên Chúa quả là rất khó mà tưởng được!
Bỏ sang một bên hai thái cực trên ở cả hai cực của quang
phổ, và để ý đến tầm vóc (stature) của sứ mệnh mà Thiên Chúa
ký thác cho Don Bosco – cái tầm vóc của một sứ mệnh được Thiên
Chúa đặt định để phát triển một cách ngạc nhiên vì phúc lợi của
Giáo Hội phổ quát – tin rằng giấc mơ đó, như Don Bosco hiểu, thực
sự là một sự thông giao siêu nhiên tương tự với những giấc mơ mà
có thể được đọc thấy trong những câu truyện Kinh thánh lớn về các
giấc mơ của các tổ phụ hay những thị kiến ban đêm của các ngôn
sứ quả là hoàn toàn hợp lý. Dựa trên những tiêu chuẩn được ta
thường xét đến trong thần học thiêng liêng, thì sự lượng giá này
dường như nhất quán nhất với toàn thể của câu chuyện thiêng
liêng của vị thánh. Tuy nhiên, đối với chúng ta, có thể nói xem ta
nên hiểu bản chất siêu nhiên của sự thông giao này như một phản
ánh (suy tư) có tính đặc sủng về hành vi tạ ơn trong tâm hồn của
kẻ được gọi, hay như một thị kiến thật sự ‘kỳ diệu’ theo nghĩa
chuyên môn, dường như thật khó khăn, dù ít quan trọng hơn.
Thực vậy, ta phải nói rằng ý nghĩa “tôn giáo” của nó không lệ
thuộc chính vào điều này.
Cuối cùng, nêu bật rằng chính vì sự soi sáng đến từ Thiên
Chúa, nên đơn giản nó không có những nét của một sự khả tri tức
thời vốn sẽ xá miễn Don Bosco khỏi những khó khăn khi phân
40

5.3 Page 43

▲torna in alto
định ơn gọi và khỏi phải qui chiếu đến sự trung gian giáo hội, quả
thật quan trọng hơn. Cốt yếu, nội dung của giấc mơ đó không
trình bày cậu thiếu niên từ Becchi với tương lai theo cách thức là
thấy trước rõ ràng [mọi sự] nhưng qua một khích lệ (injunction)
trong hiện tại. Cậu nghe nói điều cậu phải làm trong hiện tại để
tương lai đó trở thành khả thể, như một tặng phẩm không xá miễn
cậu khỏi cam kết, nhưng đúng hơn áp đặt nó, và rất đòi hỏi. Điều
này cũng xác quyết rằng giấc mơ đó không phải là một tiếng vang
rỗng tuếch trong đó cậu chỉ lắng nghe cái vô thức của mình nhưng
là một kinh nghiệm tôn giáo thực sự mà trong đó cậu lắng nghe
một sứ điệp từ Thiên Chúa.
Một hành vi của ý thức giống như giấc mơ của Don Bosco khi là
một thiếu niên mà cùng lúc cũng là lời tiên tri của Thiên Chúa, được
cho (rendered) trong một hình thức của một sự thủ tâm
(recollection), một câu chuyện trong đó lời ngôn sứ đã được đọc
dưới diện sự hoàn thành liên tục: tóm lại. đây là giấc mơ mà bây
giờ chúng ta sắp vạch lại và chúng ta sẽ cố gắng giải thích sứ điệp
của nó.
3. Đọc giấc mơ theo thần học
3.1. Cấu trúc trình thuật và chuyển động giấc mơ
Dựa trên những tiền đề thông diễn học được khai triển cho
đến giờ, chúng ta nay có thể tiếp cận bản văn của giấc mơ lúc chín
tuổi, mà chúng ta lưu giữ theo ấn bản có phê bình của Antonio da
Silva Ferreira và chúng ta sẽ chỉ tách khỏi ở hai thay đổi nhỏ.56
Chúng ta chia câu chuyện thành những đoạn; để thuận tiện, chúng
56 Bản văn có tính phê bình thì ở trong MO-it 34-37. Hai biếnđổi được chỉ ra bởi
Aldo Giraudo trong G. Bosco, Memorie dell’oratorio di S. Francesco di Sales dal
1815 al 1855 (LAS, Roma 2011) 62ff., ghi chú 18: “presemi”, ở đó Da Silva đọc là
“presomi”; và ghi chú 19: thêm vào “ed ogni cosa disparve”, một cách ngẫu nhiên bị
Da Silva bỏ đi.
41

5.4 Page 44

▲torna in alto
ta ghi kèm chúng với một chữ viết tắt đặt trong ngoặc vuông [ghi
chú của dịch giả: bản phiên dịch Anh ngữ từ New Rochelle 2010]
[C1] Chính vào tuổi đó cha có một giấc mơ. Nó đọng lại trên tâm
trí cha một ấn tượng sâu xa suốt đời.
[I] Trong giấc mơ này dường như cha ở gần nhà cha trong một
sân khá rộng. Một đám trẻ rất đông đang chơi ở đó. Đứa thì cười,
số khác chơi trò chơi, chúng văng tục chửi thề. Khi nghe những lời
xấu xa đó, cha tức khắc lao vào giữa chúng, cố bắt ép chúng câm
miệng ngay bằng cách la hét và dùng nắm đấm của mình.
[II] Đúng lúc đó, một người đàn ông quí phái xuất hiện, ăn mặc
sang trọng. Ông mặc một chiếc áo khoác trắng, dung nhan ông rực
sáng đến nỗi cha không thể nhìn thẳng mặt ông. Ông gọi đích danh
cha, bảo cha chịu trách nhiệm coi sóc những đứa trẻ này, và ông
nói thêm: “Con sẽ phải chiếm được những người bạn này của con
không phải bằng những cú đánh nhưng bằng sự dịu dàng và tình
yêu. Con hãy bắt đầu dạy ngay cho chúng tội lỗi thật xấu xa còn
nhân đức thật giá trị.” Bối rối và hãi sợ, cha trả lời cha chỉ là một
đứa trẻ nghèo và dốt nát. Cha không thể dạy giáo lý cho các thiếu
niên đó. Lúc đó, các trẻ đó ngừng đánh nhau, la hét và chửi thề;
chúng qui tụ quanh người quí phái đang nói.
[III] Không biết mình nói gì, cha hỏi: “Ông là ai mà lại lệnh cho con
làm điều không thể được?”
Chính vì như không thể được đối với con mà con phải làm cho nó
thành có thể được bằng vâng phục và chiếm được hiểu biết.
Ở đâu, bằng cách nào con có thể đạt được hiểu biết?
Ta sẽ cho con một bà giáo. Nhờ bà hướng dẫn con có thể trở nên
khôn ngoan. Không có bà, mọi khôn ngoan là sự ngu dại.
Nhưng ông là ai mà lại nói thế
Ta là con của người đàn bà mà mẹ con dạy con phải chào một ngày
ba lần.
42

5.5 Page 45

▲torna in alto
Mẹ của con cũng bảo con không được giao du với những người mà
con không biết trừ phi được bà cho phép. Vậy xin ông cho con biết
tên ông.
Tên Ta à, con hãy hỏi mẹ Ta.
[IV] Lúc đó, cha thấy một bà dáng vẻ cao sang đứng bên cạnh ông.
Bà mặc một áo choàng óng ánh như thể được đính bằng các vì sao
sáng. Khi thấy qua các câu cha hỏi và trả lời cha thật bối rối, bà ra
hiệu cho cha đến gần bà. Bà dịu dàng cầm tay cha và nói: “con hãy
nhìn xem này”. Nhìn quanh cha thấy các thiếu niên đã biến mất.
Thay vào đó là vô số thú vật, nào dê, chó, mèo, gấu và những con
vật khác.
Đây là cánh đồng con làm việc. Con hãy nên khiêm nhường, mạnh
mẽ và nhiệt tâm. Và điều gì con sẽ thấy xảy ra cho những con vật
này trong chốc lát là điều con phải làm cho các trẻ của ta.”
Cha nhìn quanh lần nữa và ở nơi trước kia cha thấy toàn thú
hoang, nay là những con chiên hiền lành. Chúng nhảy tung tăng và
kêu be be như thể chào đón người đàn ông uy nghiêm và người đàn
bà quí phái.
Vào lúc này, vẫn còn mơ, cha bắt đầu khóc. Cha xin bà giải thích để
cha có thể hiểu, bởi vì cha không biết tất cả điều có nghĩa gì cả.
Đoạn bà đặt tay lên đầu cha và bảo: “vào đúng lúc, con sẽ hiểu mọi
sự.”
[C2] Đến đó, một tiếng động làm cha choàng tỉnh và mọi sự biến
mất. Cha hoàn toàn hoang mang. Tay cha như thể đau vì đấm đá
túi bụi, mặt cha cũng sưng lên vì bị chúng đấm đá. Ký ức về người
đàn ông và người phụ nữ, cùng những điều cha nói và nghe, chiếm
trọn tâm trí cha đến nỗi cha không thể nào ngủ lại được nữa.
Đến sáng cha đã kể ngay giấc mơ đó cho mọi người. Trước tiên,
cha kể cho các anh của mình. Họ cười nhạo điều ấy. Rồi cha kể cho
mẹ cha và bà nội. Mỗi người giải thích một kiểu. Anh Giuse nói: “em
sẽ trở thành kẻ chăn dê, chiên cừu và những thú vật khác.” Mẹ cha
bình luận: “Ai mà biết, con có thể trở nên một linh mục”. Riêng Antô
cay độc: “có lẽ mày trở thành tướng cướp.” Nhưng bà nội, dù không
43

5.6 Page 46

▲torna in alto
thể đọc hay viết, lại hay biết thần học tôt đẹp và phán quyết chung
cục: “chú tâm đến mộng mị làm gì.”
Cha đồng ý với bà nội. Tuy nhiên, cha không thể bỏ giấc mơ đó khỏi
tâm trí cha. Những điều mà cha sẽ phải kể sau đây sẽ trao ban một
ý nghĩa nào đó cho những điều này. Cha giữ im lặng về những điều
này, và những người thân của cha chẳng chú ý đến chúng. Nhưng
khi cha đến Roma năm 1858 để nói cho Đức Giáo hoàng về Tu hội
Salêdiêng, ngài yêu cầu cha kể cho ngài mọi sự vốn đã có thậm chí
sự gợi ý nào về siêu nhiên. Chỉ lúc đó, lần đầu tiên, cha kể mọi sự về
giấc mơ này mà cha đã có lúc 9 tuổi hay 10 tuổi. Đức Giáo hoàng
ra lệnh cho cha viết ra giấc mơ đó trong tất cả các chi tiết và để nó
lại như một lời khích lệ cho con cái của tu hội mà lý do cha thăm
viếng Roma chính là để thành lập nó.
3.1.1. Các nhân vật và cấu trúc
Câu chuyện giấc mơ trình bày một sự khai triển vốn đi theo
cấu trúc thuật trình rất đơn giản, dù không thiếu tính phức tạp
nào đó. Nền tảng, chúng được dựa trên lược đồ ba phần
(tripartite) vốn cung cấp bài trình bày về người hành động, hành
động và phản ứng thỉnh thoảng. Không thể loại bỏ một cấu tố văn
chương là sự hoàn thành cốt truyện, cách riêng trong những đối
thoại, mọi tinh hoa nhân loại trong sự kiến tạo (xây dựng) cốt
truyện đều vắng bóng ở đây, điều ấy quả thật hoàn toàn rõ ràng.
Cả trên bình diện phân tích, điều này xác quyết tính khả tín
(plausibility) của sự giao tiếp cốt yếu với kinh nghiệm giấc mơ
của một đứa trẻ.
Mặc dù ta hiển nhiên tìm thấy những yếu tố nền tảng của
linh đạo Salêdiêng trong tường thuật này, thì hơn thế, ta có thể
nhận ra một số từ ngữ vốn sẽ trở thành “chuyên môn” trong việc
giải thích sứ mệnh của Don Bosco, như “lòng mến thương”, “hộ
trực”, “giáo dục”, “các linh hồn”, “ơn cứu độ”, v.v đều vắng bóng.
Những ý tưởng tương đương với chúng được diễn đạt qua ngôn
ngữ mà một đứa trẻ miền quê có thể đến gần được là: “lãnh trách
nhiệm”, “chiếm được các bạn của con”, “cánh đồng” trong đó phải
44

5.7 Page 47

▲torna in alto
“làm việc”, làm cho con “khiêm nhường, mạnh mẽ, nhiệt tình”,
“dạy… tội lỗi và nhân đức.”
Vai chính của giấc mơ này rõ ràng là chính người mơ,
những nơi chốn thật thân quen với cậu, đầy dân chúng với sự hiện
diện vui tươi và lễ hội trẻ trung, nhưng cũng sẵn sàng bị sự xấu
làm hư hoại (đánh nhau, chửi thề). Những nhân vật khác cách nào
đó đều được cậu biết đến. Tách khỏi đám trẻ, không ai trong họ
được nhận diện, và mẹ ngài, mà sự hiện diện của bà được gợi lên
nhưng không tích cực trong giấc mơ, hai người đối thoại của
người mơ là người đàn ông quí phái và người nữ có dáng vẻ cao
sang, rõ ràng có thể đồng nhất với Đức Giêsu và Mẹ Maria. Những
nét của người đàn ông là età virile [không được dịch sang tiếng
anh là “manly age” “đứng tuổi”, nhưng được hàm ẩn
“dignified”/quí phái.], ăn mặc quí phái, được biệt hoá bằng chi tiết
là áo choàng trắng mà “gli copriva tutta la persona” [lần nữa,
không được dịch từng chữ như “vây bọc cả người”, nhưng được
hàm ý bởi hạn từ “áo choàng”], khuôn mặt chói sáng đến nỗi “cha
không thể nhìn thẳng vào ông”: tất cả những chi tiết ấy dường
như qui chiếu đến hình ảnh trong Phúc âm về sự biến hình của
Chúa. Hành động của ngài được ghi dấu bằng quyền bính (“ngài
bảo cha”), nhưng cũng bởi sự gần gũi đối với Gioan (“ngài gọi cha
đích danh”), và chúng tạo nên một hiệu quả gây ra an bình trên
những đứa trẻ qui tụ quanh người đang nói. Còn người Nữ có
dáng vẻ cao sáng được giới thiệu là người mẹ của người đàn ông
quí phái kia; bà cũng có một áo choàng dường như được đính
bằng những vì sao sáng và là bà giáo từ đó ta học được sự khôn
ngoan chân thật. Yếu tố trực tiếp nhất chỉ tới căn tính của bà, rõ
ràng tỏ lộ bà là Đức Maria, đó chính là việc qui chiếu tới thói quen
hằng ngày của cậu thiếu niên; cậu đã học thuộc kinh Truyền tin từ
bà mẹ của mình, và cậu dùng kinh ấy để chào Đức Nữ Trinh ba lần
một ngày.
Ghi nhận trong giấc mơ không qui chiếu đến người cha quả
thật thú vị; điều ấy rõ ràng tương ứng với hoàn cảnh của Gioan,
45

5.8 Page 48

▲torna in alto
mồ côi cha lúc hai tuổi, như ngài cho ta biết. Có lẽ điều này cũng
chuyển thành việc không nói đến Chúa Cha trên trời, vì không
gian của Đấng Siêu việt hoàn toàn được Đức Giêsu và Maria thống
lĩnh. Dường như đây cũng là một nét trong kinh nghiệm tôn giáo
của thiếu niên Gioan không trải qua bất kỳ sự hoàn thành thần
học nào vào lúc viết. Có lẽ vắng bóng sự hiện diện rõ ràng của
người cha hiền có thể đề xướng một sự khởi hứng nào đó để suy
tư về sự kết nối của nó với sứ mệnh mà Gioan nhận được trong
giấc mơ đó: thực thế, mạnh mẽ và nhiệt huyết làm việc vì sự thiện
của con cái, đây là điều riêng của người cha. Thực thế, tư cách là
cha chính là nét đặc trưng hiển nhiên nhất mà Don Bosco sẽ nhập
thể vì muôn vàn thanh thiếu niên. Tuy nhiên, chúng ta treo diễn
từ này lại, theo như giấc mơ đã làm, khi giới hạn chúng ta vào việc
đề xướng rằng sự vắng bóng người cha có lẽ chính là không gian
biểu tượng mà Giáo Hội phải làm đầy một cách hữu vị.
Trình thuật được trình bày với một cấu trúc mà ta có thể
chia thành những phần sau:
[C1] Khung nguyên thuỷ
[I] Thị kiến về những đứa trẻ và sự can thiệp của Gioan
[II] Người quí phái xuất hiện
[III] Đối thoại về căn tính của nhân vật
[IV] Người phụ nữ cao sang xuất hiện
[C2] Đóng khung
Lúc này, bỏ sang một bên cái khung ban đầu (rất ngắn) và
cuối cùng (rộng hơn), chúng ta chú ý đến nội dung của kinh
nghiệm giấc mơ. Sự phân chia thành bốn phần tương ứng với hệ
quả/tiếp diễn rõ ràng của các quang cảnh.
Phần thứ nhất [I] trình bày thị kiến khởi sự, với một tình
trạng thách đố mà Gioan lập tức và hấp tấp đáp trả. Khung thứ hai
[II] giới thiệu “cái vặn xoay” (twist) là người quí phái xuất hiện
làm gián đoạn sáng kiến của Gioan và hướng nó đi theo một
hướng khác, qua một mệnh lệnh và lời dạy vốn khiến cậu bối rối
46

5.9 Page 49

▲torna in alto
và sợ hãi. Cảnh đó có thể được tiếp tục, bao gồm phần đối thoại
với nhân vật đó, nhưng bài miêu tả về những đứa trẻ ngừng đánh
nhau và qui tụ quanh người đang nói, theo chúng tôi, mang đến
một sự ngừng nghỉ trong thuật trình và mở ra một tính duy nhất
mới. Phần ba [III] khác biệt với những phần khác bởi vì nó không
chứa đựng những hành động; nó chỉ có một cuộc đối thoại nhanh
gọn được tạo nên bởi bốn câu hỏi tạo áp lực và những câu trả lời
chúng. Ở trung tâm của cuộc đối thoại là câu hỏi về căn tính của
nhân vật, nhưng những câu trả lời dần dần chuyển chú ý sang sự
hiện diện của bà mẹ của ngài. Phần cuối cùng của giấc mơ [IV]
trình bày sự xuất hiện của nhân vật thứ hai, người phụ nữ cao
sang; qua bà, các nỗi nghi ngờ của Gioan được trả lời. Nó cũng chỉ
tới một trách vụ phải được thực thi; nó đề ra sự chuẩn bị; nhưng
diễn từ của nó được đan xen với một quang cảnh vốn là một “thị
kiến trong thị kiến”; nó rõ ràng được dẫn nhập bởi một mệnh
lệnh: “con nhìn này”. Những lời và thị kiến diễn đạt một sứ điệp
mang tính giải thích (explanatory) nhưng thực sự kết luận của nó
lại được ghi dấu bởi người mơ càng thêm bối rối và qui chiếu tới
những điều được hiểu trong tương lai.
3.1.2. Thế căng thẳng trong trình thuật
Khi đảm nhận từng đơn vị cách chi tiết hơn để mang tới sự
căng thẳng của trình thuật xuyên qua chúng, ta có thể nói rằng
trong phần một [I] nhận biết vị trí không gian của giấc mơ là một
sân rất rộng gần nhà quả là có thể được. Từ đầu, sự gần gũi và
rộng mở mang tính gia đình của chân trời phẩm chất hoá môi
trường của trí tưởng mà trong đó thế giới sống (Lebenswelt) của
người mơ tỏ lộ. Khung cảnh thật náo động ồn ào với đám trẻ đang
chơi. Tuy nhiên, yếu tố lộn xộn lập tức chiếm hữu vì chúng văng
tục chửi thề. Thái độ được người mơ nhìn nhận là không thể chấp
nhận và rất thách đố; và cậu can thiệp bằng hành động dứt khoát
và bạo lực; trong đó nhận ra tính cách hung hăng tự nhiên của
47

5.10 Page 50

▲torna in alto
đứa trẻ miền Becchi quả là không khó chút nào.57 Vì vậy, giai
thoại đầu tiên có thể được phân một cách lược đồ thành ba thời
khắc: (1) nơi chốn không gian của người mơ, (2) thái độ tiêu cực
của nhóm trẻ em, (3) phản ứng tự phát của Gioan.
Có một song luận hiển nhiên về cấu trúc giữa phần II và IV.
Thực thế, trong cả hai, có một yếu tố ba phần rõ ràng: sự xuất hiện
của nhân vật, mệnh lệnh/chỉ thị (được trình bày trong hình thức
ba phần), phản ứng trước những lời của nhân vật. Trong trường
hợp của người đàn ông sang trọng, bản văn có thể được sắp xếp
như sau:
[1] Người đàn ông sang trọng xuất hiện và những nét đặc
trưng của ngài.
[2] Ông ra lệnh/chỉ thị
a. Đảm trách những đứa trẻ (câu nói gián tiếp)
b. Không phải bằng những cú đánh
c. Bắt đầu ngay…
[3] Phản ứng của Gioan và phản ứng của trẻ.
Trong trường hợp của người phụ nữ cao sang:
[1] Thị kiến về người phụ nữ và những nét đặc trưng
57 Về dự thế vội vàng và nóng nảy của tính cách nơi DB, chúng ta có những chứng
từ quan trọng này của những người đã biết ngài rất thân: “Do chính ngài thú nhận,
mà tôi đã nghe, ngài tự nhiên rất nóng nảy và ngạo mạn và không thể chịu bị chống
đối, nhưng với nhiều hành vi ngài có thể kìm giữ mình nhiều đến nỗi trở thành một
con người an bình và hiền lành và làm chỉ chính mình đến nỗi dường nhưngài không
bao giờ làm bất kỳ điều gì như thế” (Marchisio, in Copia Publica Transumpti
Processus Ordinaria, 629r). Cha Cagliero và Rua cũng phán đoán tương tự: “Do
ngài thú nhận, ngài tự nhiên rất nóng nảy và kiêu ngạo, vì thế ngài không thể chịu bị
chống đối, và ngài cảm thấy một đấu tranh nội tâm không diễn đạt được khi ngài
phải xin ai giúp đỡ” (Cagliero, ibid., 1166r); “Ngài thật nóng nảy, như tôi, và nhiều
người khác ở với tôi, có thể thấy; bởi vì trong nhiều trường hợp chúng tôi ý thức ngài
phải cố gắng biết bao để đè nén giận dữ bởi vì những thất bại/chậm trễ xảy ra cho
ngài. Và nếu điều này xảy ra trong lúc tuổi ngài đã cao, thì có chỗ để tin rằng tính
chất tuổi trẻ của ngài còn mạnh mẽ hơn nhiều” (Rua, ibid. 2621 r-v).
48

6 Pages 51-60

▲torna in alto

6.1 Page 51

▲torna in alto
[2] Bà ra lệnh (chỉ thị) với một quang cảnh biểu tượng
Thị kiến về những thú hoang
a. Đây là cánh đồng của con
b. Hãy làm cho con nên khiêm nhường, mạnh mẽ và
nhiệt huyết
c. Con thấy gì … con sẽ phải làm
Các thú dữ đổi thành chiên hiền lành
[3] Phản ứng của Gioan và người Nữ đảm bảo rằng tương lai
sẽ hiểu hết.
Thứ song luận về cấu trúc và lược đồ thì rõ ràng: hai nhân
vật được trình bày với những nét đặc trưng tương tự vốn nối kết
tính siêu việt (áo quần cao sang và ánh ngời sáng của nhân vật)
và sự gần gũi (Người đàn ông gọi đích danh cậu, Bà mời cậu đến
gần, cầm lấy tay cậu, đặt tay trên đầu cậu); trong cả hai trường
hợp đều có sự chỉ định bó buộc: (“Hãy bắt đầu ngay”, [đây là] điều
con phải làm”) về một sứ mệnh giới trẻ và lời dạy phải theo
phương pháp dịu hiền và tử tế. Thậm chí trong cả hai cảnh, cuộc
gặp gỡ đều kết thúc như nhau: Gioan bị tách ra, bối rối và mất tinh
thần (dismayed), đang khi những người thừa hưởng sứ mệnh của
cậu đã có một sự biến đổi an bình (trong cảnh một các trẻ ngừng
đánh nhau và qui tụ quanh người đàn ông quí phái, còn trong
cảnh hai, những thú dữ biến thành chiên hiền lành đang tung tăng
và kêu vang quanh người đàn ông và người phụ nữ). Tuy nhiên,
mặc dù sự song đối của những yếu tố từ quan điểm chức năng và
năng động, hai thời khắc đó không đơn giản là sự lặp lại. Thực thế,
thời khắc thứ hai xem ra là sự bắt đầu lại (resumption) của thời
khắc thứ nhất vốn mãnh liệt hoá tính năng động và đối chọi, gia
tăng ánh sáng, nhưng một cách nghịch lý cũng thêm đen tối và lộn
xộn. Vì vậy, với sự biện chứng này, hai giai thoại giữ cho sự căng
thẳng của chuyển động giấc mơ sinh động.
49

6.2 Page 52

▲torna in alto
Theo một cách hoàn toàn hợp với tâm lý của đứa trẻ, vốn
tự phát quay sang mẹ mình để tìm giải thích, chức năng của cảnh
thứ hai là cống hiện một sự minh định về cảnh thứ nhất. Người mẹ
của người đàn ông sang trọng xuất hiện như một người trung gian
để hiểu sứ điệp mà bà đã hiểu nó cách thích đáng. Tuy nhiên, đang
khi bà giải thích nội dung qua các hình ảnh (thị kiến về những thú
vật), như những bà mẹ thường làm với con cái mình, bà cũng giữ
lấy chiều kích mầu nhiệm vốn vây quanh nó. Tên của nhân vật, mà
Gioan muốn biết từ người phụ nữ vẫn còn chưa được biết, đang
khi trách vụ được ký thác cho cậu chỉ mới rõ ràng một phần thôi.
Điều thoạt đầu xem ra là một chỉ thị luân lý phải được thực hiện
“ngay” trên nhóm thiếu niên, sau này xem ra là sứ mệnh tương lai
lâu dài, một cánh đồng phải được làm việc cần mẫn, thực hiện một
công việc được minh hoạ một cách bí ẩn: “Con phải làm cho con
cái của ta điều mà con thấy xảy ra cho các thú vật này trong chốc
lát.” Trách vụ được giao phó là mang đến một sự biến đổi
(metamorphosis) (thiêng liêng) mà chắc chắn xem chừng là không
thể được trên bình diện nhân loại. Chẳng có gì ngạc nhiên cả: một
đứa trẻ chín tuổi không hiểu gì: thế căng thẳng giữa sự rõ ràng và
tăm tối của cảnh thứ nhất (phần II) được triệt để hoá trong cảnh
thứ hai (phần IV), dẫn tới những hệ quả cực độ.
Sự gia tăng trong căng thẳng giữa những lần hiện ra thứ
nhất và thứ hai được hoàn thành qua cuộc đối thoại căng thẳng
của phần III, với bốn câu hỏi/yêu cầu thúc bách: “ông là ai”; “Ở
đâu, và bằng cách nào…?” “Ông là ai…?” “Xin nói cho con tên của
ông.” Rõ ràng, câu hỏi trung tâm liên quan đến căn tính của nhân
vật vốn đưa ra “cú xoay vặn định mệnh” trong giấc mơ đó, đòi hỏi
người mơ phải thay đổi cách hành động của mình. Theo cách này,
chủ đề sứ mệnh mà cậu Gioan sẽ phải thực hiện (cốt yếu cho phần
II và IV) kết nối bất khả phân với câu hỏi về người khởi sự
(instigator) vốn chỉ định sứ mệnh đó cho cậu. Nhưng cùng với câu
hỏi về người khởi đầu, cũng có câu hỏi về tính khả thi (feasibility)
của trách vụ đó, vốn dường như hoàn toàn bất tương xứng với
50

6.3 Page 53

▲torna in alto
những nguồn năng lực của người mơ. Một sự căng thẳng giữa tính
khả thể và tính bất khả thể của sự nghiệp đó được thêm vào cái
biện chứng giữa sự sáng tỏ và tăm tối của sứ mệnh mà trên kia ta
đã nhắc đến; những dòng đầu tiên của cuộc đối thoại hiển nhiên
lộ rõ thế căng thẳng ấy: “Ông là ai mà lại ra lệnh cho con làm điều
không thể?” “Chính vì xem ra đối với con là không thể được mà
con phải làm cho nó thành khả thể qua sự vâng lời và chiếm được
hiểu biết.”
Đàng khác, những câu trả lời cho phần III này dần dần
chuyển chú ý tới câu hỏi về người mẹ, vốn sẽ xuất hiện trong phần
IV, với việc nhân đôi các nhân vật quan trọng. Thực thế, có hai bà
mẹ được nói đến: người mẹ của người đàn ông quí phái và người
mẹ của Gioan. Người sau đã là một bà giáo khả tín đối với cậu; cậu
nại tới chính lời mẹ mình dạy để biện chính cho yêu cầu của mình:
“Mẹ cháu bảo cháu không được giao du với những người mà cháu
không biết trừ phi được bà cho phép. Vậy xin cho cháu biết tên
ông?” Người đàn ông quí phái cho thấy rằng ông biết và phê chuẩn
lời dạy của bà mẹ ấy vì ông cũng nại tới bà: “Ta là con của người
phụ nữ mà mẹ con dạy con phải chào ba lần một ngày.” Nhưng
đây là bà mẹ khác, người đàn ông nói, “Mẹ của Ta” mà tại trường
của Bà, Gioan phải đặt mình để học sự khôn ngoan vốn làm cho
những điều không thể thành có thể.
Vì vậy, phần III này, nếu một đàng nó dường như một sự
chuyển tiếp giữa hai cuộc xuất hiện, thì đàng khác nó đưa vào
những yếu tố chủ đề một chiều sâu lớn: người mơ sẽ tìm thấy chìa
khoá để đến gần căn tính của người đàn ông quí phái và đạt được
sự khôn ngoan vốn làm cho điều không thể thành có thể từ người
Mẹ/Bà giáo huyền nhiệm, mà mẹ/bà giáo của cậu đã làm cho cậu
biết đến Bà. Sự ghép nối (concatenation) cho thấy làm thế nào sự
căng thẳng giữa một “thặng dư của những kẻ không biết” và tính
“quen thuộc (familiarity) của những người đã được ban cho” là
cung điệu thuật trình của giấc mơ, hình thức trong đó cái novum
51

6.4 Page 54

▲torna in alto
siêu việt đi vào Lebenswelt (thế giới sống) của người mơ để thay
đổi nó từ những nền tảng.
Vậy, tóm tắt cấu trúc thuật trình vốn trồi hiện từ sự phân
tích, chúng ta có thể đạt tới lược đồ này:
[I] tình trạng ban đầu
1. nơi chốn không gian của giấc mơ
2. thái độ sai lạc của những đứa trẻ
3. phản ứng tự phát của Gioan
[II] phần liên quan đến người đàn ông sang trọng
1. Người quí phái xuất hiện và những đặc trưng của ông
2. Mệnh lệnh/ba chỉ thị của ông
a. đảm trách những đứa trẻ (câu nói gián tiếp)
b. không phải bằng bợp tai…
c. bắt đầu ngay…
[III] Cuộc đối thoại ở giữa
“Ông là ai…?”
“Ở đâu, bằng cách nào…?”
“Ông là ai…?”
“Xin cho con biết tên của ông đi.”
[IV] Phần về người phụ nữ có dáng vẻ cao sang
1. Thị kiến về người phụ nữ và những đặc trưng của bà
2. Mệnh lệnh của bà/ba lời dạy bện vào nhau với quang
cảnh biểu tượng:
Thị kiến về những thú dữ
a. Đây là cánh đồng của con
b. Hãy làm cho con nên khiêm nhường, mạnh mẽ và
nhiệt huyết
52

6.5 Page 55

▲torna in alto
c. Điều con thấy… con phải làm
Những thú dữ biến thành chiên hiền lành
3. Phản ứng của Gioan và người nữ đảm bảo rằng sau
này cậu sẽ hiểu
3.1.3. Chuyển động có ý hướng
Sự phân tích cấu trúc của bản văn và xem xét sự căng thẳng
trình thuật vốn chạy xuyên suốt qua câu chuyện nay cho phép
chúng ta nắm bắt “vận hành hướng tới”, “cái hướng đi”, “chuyển
động có ý hướng” vốn đặc trưng hoá kinh nghiệm giấc mơ đó.
Chúng ta đã thấy rằng quang cảnh đó xảy ra trong một môi trường
gia đình nhưng từ ban đầu thì rất mở và nhiều người hiện diện
(trẻ em đang chơi). Sự tri nhận về một yếu tố là sự xáo trộn (chửi
thề) kéo theo Gioan can thiệp một cách dữ tợn bởi vì cậu muốn
đàn áp thái độ (hành xử) tiêu cực này. Vì vậy, đây là một “chuyển
động hướng tới” đầu tiên vốn diễn đạt một khuynh hướng tự
nhiên tới sự can thiệp tích cực, để lấy trách nhiệm và có lẽ một
khuynh hướng lôi kéo công chúng chú ý, tất cả điều ấy hoàn toàn
tương ứng với những dữ liệu ta biết về tính khí tự nhiên của
người mơ.
Tuy nhiên, đang khi cử chỉ này nắn hình tất cả sức thúc bách
của nó được tạo nên bằng cùi chỏ và la to (“cha lập tức nhảy vào
giữa chúng… lúc đó), thì xảy đến một sự kiện gây ngạc nhiên vốn
đòi phải thay đổi dứt khoát “chuyển động” có ý hướng và chuyển
sang một “hướng” mới. Hai yếu tố phải thay đổi. Trước tiên, mục
tiêu phải là “chiến thắng” những người bạn bằng cách trở nên vị
lãnh đạo của chúng, chứ không chỉ đàn áp sự dữ; thứ hai, phương
pháp: “không phải bằng đấm đá, nhưng bằng sự hiền dịu và tình
yêu.” Ta có thể coi mọi sự khai triển nữa trong giấc mơ là sự minh
định và đào sâu sự thay đổi hướng đi này, những kỳ vọng
(prospect) tương lai và những nhu cầu hiện tại của nó.
53

6.6 Page 56

▲torna in alto
Tuy nhiên, khi đối diện với sự thay đổi chuyển động có ý
hướng này được đòi hỏi “từ bên ngoài”, thì lập tức trồi hiện lên
một sự chống cưỡng “từ bên trong” người mơ. Nó lộ ra dưới hình
thức của những vấn nạn vốn dựa trên hai yếu tố: sự không thích
đáng (“đứa trẻ nghèo và dốt nát, không thể nói về đạo giáo”) và
khó khăn trong hiểu biết (“Cha không biết tất cả điều này có nghĩa
gì”). Chống đối thứ nhất được trả lời bằng việc chỉ tới phương thế
vốn làm cho điều không thể nên có thể: vâng phục và tri
thức/khôn ngoan. Chống đối thứ hai được trả lời với một qui
chiếu tới tương lai: điều không rõ bây giờ sẽ sáng sủa đúng lúc.
Ta không thể dấu kín cái nghịch lý được chứa đựng trong những
câu trả lời này, vì tận yếu tính chúng xác quyết rằng điều thật sự
đòi hỏi (!) sẽ trở nên hoàn toàn rõ ràng chỉ bằng cách vâng phục
mệnh lệnh đó mà thôi. Tuy nhiên, có một sự đảm bảo có sức
mạnh/tính khả thể, được đảm bảo từ trên cao; nó bù lại tính
không thích đáng/tính bất khả thể được người kể chuyện tri nhận
và một ánh sáng hiện tại và tương lai được ban tặng làm cho mức
độ tăm tối có thể chịu được (sustainable). Mặc dù chuyển động
mới – hay nói rõ theo hạn từ Kitô hữu: sứ mệnh mới - có thể
dường như là cực kỳ khó khăn và tăm tối, vì thế nó phải được thực
hiện. Đây là đặc tính của mệnh lệnh mà giấc mơ mang với nó.
Mệnh lệnh đến từ hai nhân vật huyền bí. Người đàn ông quí
phái thật sự là cội nguồn và là sự qui chiếu dứt khoát: ngài không
chỉ can thiệp trước tiên và cực kỳ mạnh mẽ, nhưng sự phản kháng
tiếp sau đối với thị kiến về các thú vật một lần nữa lại nói đến ngài
(“Cha xin Người Nữ lên tiếng để cha có thể hiểu”). Người nữ với
dáng vẻ quí phái, được ký thác cho Gioan như là bà giáo vững chắc
và có thẩm quyền, thực sự tuỳ thuộc vào người Con, vì rốt cục bà
không làm gì hơn là trung gian ý muốn của ngài. Từ quan điểm
thần học, việc bà có thể dạy điều dường như là không thể được và
tăm tối với con người (Lc 1:37) thì hoàn toàn đúng.
Ấn tượng của mệnh lệnh đó trên ý thức của người mơ được
miêu tả trong khung cuối cùng của giấc mơ. Hồi ký thuật rằng
54

6.7 Page 57

▲torna in alto
Gioan thức dậy và mọi sự biến mất. Thị kiến giấc mơ kết thúc,
nhưng không phải hiệu quả của nó, in đậm không chỉ trong tâm
trí mà cả trên thể xác nữa:
cha hoàn toàn bối rối. Tay cha ê ẩm do những cú đấm, còn mặt cha
đau vì những cú đấm cha nhận được. Ký ức về người đàn ông và
người nữ, và những điều cha xem thấy và nghe được, chiếm trọn tâm
trí đến nỗi tối đó cha không thể ngủ lại được nữa.
Điều này hoàn toàn hợp lý, vì trung tâm thần kinh của bộ
não suốt giấc ngủ thực sự gởi những dấu hiệu tới những cơ quan
của thân xác, theo một cách thức đển nỗi bố trí chúng tới hành
động. Giống như một giấc mơ có thể làm cho bạn la to, thì cũng
vậy, nếu kinh nghiệm thật lôi cuốn, nó có thể làm cho tay và mặt
bạn đau nhức. Thực thế, không có gì như thân xác, xét như một
chứng từ khả tín về cái va chạm (impact) – thể lý và tâm thần –
của cái thực, bởi vì nó không chỉ là đám cơ năng, nhưng là “thân
xác/xác thịt” vốn giao động và rung động. Trong trường hợp này,
chứng từ của thân xác thì đặc biệt mạnh mẽ, ngang bằng với tính
mãnh liệt của sự thúc đẩy nó cho thấy: một sự thúc đẩy sẽ đạt tới
hướng dẫn toàn đời sống; thực vậy, nó sẽ đạt tới hướng dẫn nhiều
người.
Sau khi thức dậy khá lâu rồi, vì lẽ tối đó cậu chẳng thể ngủ
lại, Gioan “không phí giờ” khi kể cho anh em cậu về giấc mơ đó.
Họ cười nhạo, rồi cậu kể cho mẹ và bà nội như một ngày kia ngài
sẽ kể cho những độc giả tương lai. Vậy, những giải thích mâu
thuẫn nhau bắt đầu; Don Bosco không dấu điều đó: giải thích vui
đùa (giữ chiên dê) và giải thích vô trách nhiệm (tướng cướp), giải
thích hoài nghi (không chú ý vào mộng mị) và thiêng liêng (trở
thành một linh mục). Người đến gần cốt lõi của kinh nghiệm ấy
hơn cả chính là mẹ của cậu, đã được gợi lên trong kinh nghiệm
giấc mơ. Người vốn sẽ cống hiến cho giấc mơ cái bóng phủ thẩm
quyền nó cần để trở thành một sứ điệp công cộng và một lời tiên
tri có tính giáo hội là người mà sẽ đóng vai trò biểu tượng của
người cha trong Giáo Hội, Đức Giáo hoàng.
55

6.8 Page 58

▲torna in alto
Nhưng chúng ta đã bắt đầu làm một bài đọc đức tin, và vì lý
do đó mở ra cho thấy rõ hơn, cần phải có một bối cảnh. Vì vậy,
những hình ảnh và năng động của giấc mơ đó phải được liên hệ
với điều mà trong đời sống Giáo Hội, tạo thành “qui điển” của
ngôn ngữ đức tin, nghĩa là, những bản văn Kinh thánh.
3.2. Bối cảnh Kinh thánh
Giữa những bản văn Kinh thánh vốn phải được coi là một
tiêu chuẩn thông diễn cho kinh nghiệm thiêng liêng của giấc mơ
lúc chín tuổi, hiển nhiên trước hết có những bản văn vốn qui chiếu
tới tính khả thể rằng Thiên Chúa thông giao với con người qua sự
trung gian của trí tưởng giấc mơ. Niềm thâm tín này được diễn
đạt, mặc dầu với sự cẩn thận đúng đắn, rõ ràng trong cả giao ước
thứ nhất và giao ước mới và có một loạt chứng thực trải rộng và
được liên kết. Đối với giao ước thứ nhất gợi nhớ những giấc mơ
là đủ: giấc mơ của Abraham (St 15,12tt), Giacop (St 28,10), Giuse
(St 37,5-11; trong St 39-41 Giuse sau này xuất hiện như người
giải thích các giấc của hai vị quan tước và của Pharao), Gideon (Tl
6,25tt), Samuel (1 Sm 3,2tt), Nathan (2 Sm 7,14-17) và Salomon
(1V 3). Sau cuộc lưu đầy, những thị kiến ban đêm của Dacaria (Dcr
1-6) và Danien (Dn 7) – trong Dn 2 Danien giải thích những giấc
mơ của Nabuchodonoso – được miêu tả, đang khi ngôn sứ Gioen
loan báo rằng giấc mơ và thị kiến sẽ đi kèm với thời của việc đổ
tràn Thần khí: “Sau đó, Ta sẽ đổ thần khí Ta trên hết thảy người
phàm. Con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, người già
được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến. Trong những ngày đó,
Ta cũng sẽ đổ thần khí Ta trên tôi nam tớ nữ” (Ge 3,1). Tầm quan
trọng đặc biệt của sách này xuất hiện nếu chúng ta xem xét rằng
nó được lấy từ sách Công vụ trong phần tả lại phép lạ Ngũ tuần
(Cv 2,17-21), và ta thấy trong việc Đấng phục sinh tuôn đổ thần
khí lời ngôn sứ Gioen được hoàn thành và những dấu chỉ vốn đi
kèm nó khi đến thời các đặc sủng ngôn sứ trải rộng trong đó giữa
dân Chúa. Giấc mơ đoán biết trước của Giuđa Maccabê, vốn tiên
56

6.9 Page 59

▲torna in alto
báo cuộc chiến thắng trước trận chiến chống lại Nicano vẫn được
kể vào giữa bản văn giao ước thứ nhất (2 Mcb 15,11tt).
Vì vậy, việc Thiên Chúa có thể nói cho con người qua giấc
mơ hoàn toàn được chấp nhận trong Kinh thánh, mặc dù có
những cảnh báo vốn khuyên chống lại việc tin tưởng vào những
giấc mơ dối trá (Đnl 13,2-4) và mọi hình thức đồng bóng tuyệt đối
bị cấm ngặt (Đnl 18,10).
Trong Tân ước, Tin mừng Matthêu trình bày ba lần Thiên
Chúa thông giao cho Giuse trong một giấc mơ (Mt 1,20; 2,13;
2,20) và một cho các đạo sĩ (Mt 2,12); Mt tường trình rằng, trong
cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, vợ của Philatô gởi cho ông một ghi
nhận nói rằng: “ông đừng liên quan gì đến người vô tội ấy, vì hôm
nay tôi khổ nhiều bởi một giấc mơ về ông ấy.” (Mt 27,19). Trong
Công vụ, những thị kiến ban đêm được tường trình bởi Ananias
(Cv 9,10-12) và Phaolô (Cv 16,9; 18,9).58
Vì vậy, thái độ Kinh thánh đối với giấc mơ thật phức tạp:
thận trọng khôn ngoan, nhưng không ức đoán. Nó dành chỗ cho
tính khả thể rằng những người của Thiên Chúa nhận được những
mạc khải đặc biệt trong lúc ngủ, nhưng nó tuyệt đối loại đi rằng
ta có thể yêu cầu hay kêu xin những thông giao như thế.
Sự loại suy hiển nhiên nhất mà có thể tìm thấy giữa một giai
thoại Kinh thánh và giấc mơ của đứa trẻ ở Becchi có lẽ được tìm
thấy trong ơn gọi ban đêm của Samuen, được miêu tả trong 1 Sm
3,1tt. Mặc dù bản văn linh hứng ấy không miêu tả một giấc mơ
của Samuen, thì đoạn văn được đưa vào với một lời xác quyết
58 Nếu, đàng khác, Gióp xác quyết rằng Thiên Chúa “Đang đêm, trong giấc mộng,
xảy ra một thị kiến, khi một giấc ngủ mê ập xuống trên người phàm, lúc họ thiếp đi
trên giường ngủ. Bấy giờ Người mở tai cho phàm nhân, làm cho họ sợ hãi vì những
lời cảnh cáo, để kéo họ xa những việc đã làm giúp họ tránh được thói kiêu căng” (G
33,15-17); Đàng khác, các ngôn sứ cảnh báo: Các ngươi chớ để cho mình bị lầm lạc
vì các ngôn sứ đang ở giữa các ngươi, cũng như vì các tay bói toán; đừng tin theo
mộng mị các ngươi mơ thấy, bởi vì chúng chỉ nhân danh Ta mà tuyên sấm điều dối
trá cho các ngươi. Ta chẳng hề sai chúng” (Gr 29,8-9; cf. Gr 27,9).
57

6.10 Page 60

▲torna in alto
rằng vào những ngày đó, “thị kiến không rộng khắp”, vậy đề
xướng rằng loại hiện tượng này thuộc về kinh nghiệm mà trẻ
Samuen có trong đêm trường, khi chính mình nhiều lần nghe
được gọi đích danh. Đàng khác, ý tưởng về một thị kiến ban đêm
chân thật đang khi đứa trẻ ngủ được xác quyết bởi sự kiện là sáng
hôm sau Samuen “sợ phải nói thị kiến đó cho Eli” (3,15). Đối với
Samuen cũng thế, kinh nghiệm về một ơn gọi ban đêm trong lúc
cậu ngủ được kéo dài trong những thị kiến khác. Vào cuối cảnh
ơn gọi ban đêm, ta nói rằng “Chúa tiếp tục hiện ra tại Silô, vì Chúa
mặc khải chính mình cho Samuen tại Silô nhờ lời của Đức Chúa.”
(3,21)
Nobert Hofmann59 nêu bật sự song đối mà ta có thể tìm thấy
giữa giấc mơ chín tuổi và những thuật trình Kinh thánh về ơn gọi
ngôn sứ. Giữa những trình thuật đó, giấc mơ của Giêrêmia có thể
được dùng như một nguyên mẫu:
Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng: “Trước khi cho ngươi thành
hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta
đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” Nhưng
tôi thưa: “Ôi! Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ,
con không biết ăn nói!” ĐỨC CHÚA phán với tôi: “Đừng nói ngươi còn
trẻ! Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì,
ngươi cứ nói. Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”,
– sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Rồi ĐỨC CHÚA giơ tay chạm vào miệng
tôi và phán: “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi” (Gr 1,4-9).
Nội dung phác hoạ của câu chuyện về ơn gọi nằm dưới
những câu văn này; nó cũng xảy ra trong những quang cảnh ơn
gọi khác được Giao ước thứ nhất trình bày một danh sách bao
gồm những yếu tố sau: miêu tả tình trạng của khởi hành và cuộc
gặp gỡ với Đấng kêu gọi, sứ mệnh, kẻ được gọi chống lại, sự bảo
đảm được trợ giúp, dấu chỉ. So sánh với lược đồ Kinh thánh của
59 N. Hofmann, “Der Berufungstraum Don Boscos,” Schriftenreihe zur Pflege
salesianischer Spiritualität 29 (1991) 1-48. Một ấn bản được giản lược bằng tiếng Ý
có thể được tìm thấy trong: N. Hofmann, “Il sogno della vocazione di don Bosco,”
trong ABS, Bollettino di collegamento n. 11, 43-65.
58

7 Pages 61-70

▲torna in alto

7.1 Page 61

▲torna in alto
Giao ước thứ nhất, ơn gọi và cấu trúc của giấc mơ, Hofmann kết
luận rằng giữa hai [lược đồ], “xuất hiện một sự đồng qui rộng lớn
không chỉ về tính chất mô thể, nhưng cả trong diện nội dung, mà
ta cũng có thể chứng nghiệm thấy khi phân tích các chi tiết.”60
Cách riêng, giữa những điểm tương tự ấy, những nét có ý nghĩa
thần học rõ ràng hơn đáng được nêu bật, chẳng hạn nhân vật thần
linh đột nhiên và đột xuất ngự đến và mang lại lời kêu gọi; tính
chất xã hội của sứ mệnh, vốn không bao giờ chỉ liên quan đến vụ
việc hữu vị của kẻ được gọi mà thôi, nhưng liên quan đến một dân
tộc được trao cho ngài; người được gọi ý thức về sự bất xứng triệt
để của mình bởi lẽ không hề có sự tỉ lệ giữa trách vụ rất vĩ đại với
cá nhân thiếu nhiều khả năng. Trong trường hợp của Giêrêmia,
sự song đối giữa những chống đối của vị ngôn sứ trẻ: “A, Chúa!
Con không biết nói ra sao cả vì con chỉ là một thiếu niên” – và
những chống đối của Gioan trong giấc mơ – “bối rối và sợ hãi, cha
đáp rằng cha là một đứa trẻ nghèo và dốt nát, cha không thể nói
cho những thiếu niên này về tôn giáo” – thì hoàn toàn hiển nhiên.
Điều này không nhất thiết hàm ý rằng tác giả của Hồi ký Nguyện
xá ý thức sử dụng lược đồ Kinh thánh, bởi vì bản tính chung của
kinh nghiệm ơn gọi thì đủ để biện chính tính tương tự của bản
văn. Dù sao chăng nữa, ta không nên ngạc nhiên rằng những câu
chuyện Kinh thánh đóng một vai trò khởi hứng, ít là một cách
tiềm ẩn, trong hành vi trình thuật của Don Bosco.
Về câu hỏi về sự thay đổi của “chuyển động có ý hướng” –
từ một cử chỉ tự phát đàn áp điều xấu tới một hướng dẫn giải
phóng hành động tới điều thiện – sự qui chiếu hiển nhiên nhất
của Giao ước thứ nhất là câu chuyện của Môsê. Sách Xuất hành
không nói về tuổi trẻ của vị lãnh đạo. Giai thoại duy nhất vốn đứng
giữa việc Môsê sinh ra và khi ông đến tuổi khôn lớn là việc giết
người Ai cập và cuộc trốn chạy của ông (Xh 2,11-15), được theo
sau bởi trình thuật về hôn nhân với Zipporah, con gái của Reuel.
60 N. Hofmann, “Il sogno…”, 53.
59

7.2 Page 62

▲torna in alto
Bài ca đáng được tường trình, bởi vì nó có thể mang đến một vài
nhận xét quan trọng:
Hồi đó, ông Mô-sê đã lớn, ông ra ngoài thăm anh em đồng bào và thấy
những việc khổ sai họ phải làm. Ông thấy một người Ai-cập đang
đánh một người Híp-ri, anh em đồng bào của ông. Nhìn trước nhìn
sau không thấy có ai, ông liền giết người Ai-cập, rồi vùi dưới cát. Hôm
sau, ông lại đi ra, gặp hai người Híp-ri đang xô xát nhau, ông nói với
người có lỗi: “Tại sao anh lại đánh người đồng chủng?” Người đó trả
lời: “Ai đã đặt ông lên làm người lãnh đạo và xét xử chúng tôi? Hay là
ông tính giết tôi như đã giết tên Ai-cập?” Ông Mô-sê phát sợ và tự
bảo: “Vậy ra người ta đã biết chuyện rồi!” Nghe biết chuyện này, Pha-
ra-ô tìm cách giết ông Mô-sê. Ông Mô-sê liền đi trốn Pha-ra-ô và ở lại
miền Ma-đi-an. Ông ngồi bên bờ giếng. (Xh 2,11-15)
Bản văn nêu bật Môsê tăng trưởng, không chỉ thể lý nhưng
cả thiêng liêng. Sự tăng trưởng này được diễn đạt trong một sự
vươn ra tới anh em mình, mà bản văn thuật lại hai lần: c. 11 và c.
13. Vậy, động từ “đi ra” vốn là cốt lõi trong thần học của sách Xuất
hành xuất hiện lần đầu tiên trong đoạn văn này. Ở đây nó diễn đạt
chuyển động tự phát và tự nhiên của Môsê; chuyển động này sinh
ra từ ý muốn thực hiện công lý và chế phục một sự dữ, tuy nhiên
ông hiện thực nó một cách bạo lực và không liên kết với những
hệ quả (outcomes) tiêu cực. Vì thế, cuộc “xuất hành” thứ nhất của
Môsê được miêu tả trong những câu này, những giới hạn của nó
được lộ ra bởi vì “bạo lực không lấy đi bất công, đúng hơn nó làm
cho tình trạng còn tệ hơn trước kia, và trên hết bởi vì tận cội
nguồn của cuộc xuất hành (exodus) này vẫn không có sứ mệnh về
phía Thiên Chúa – thật ý nghĩa: trong toàn vụ việc này ngài im
lặng – nhưng chỉ là lý tưởng và nhiệt tình của một người.”61 Chỉ
qua tiếng gọi tới bụi gai đang cháy, nơi chốn nguyên mẫu cho chủ
đề mặc khải Danh Thiên Chúa, Môsê nhận được một hướng nội
tâm mới, chuyển động đó sẽ đặt ông đứng đầu dân và cho phép
61 Esodo, một phiên bản mới, introduction and commentary do M. Priotto (Paoline,
Milano 2014) 72.
60

7.3 Page 63

▲torna in alto
ông hướng dẫn dân trong đường xuất hành ngay chính, trong
cuộc xuất hành chân thật.
Trong Tân ước, ta có thể nhận ra cùng một chủ đề về sự
thay đổi hướng nội tâm trong câu chuyện của Phaolô thành Tarxô.
Thoạt đầu, ông gắn bó với Lề Luật Thiên Chúa được các tổ phụ
truyền lại; ông diễn đạt nó trong một nhiệt tình bạo lực và gây
hấn vốn tìm cách để chèn ép điều xem ra không thể tương thích
với nền giáo dục tôn giáo ông nhận được. Nhưng, khi Phaolô giải
phóng động lực bên trong, ông kinh nghiệm một cuộc gặp gỡ trên
đường tới Damas vốn lật nhào ông hoàn toàn. Chính cuộc gặp gỡ
này với một luồng ánh sáng khiến ông mù loà và dẫn ông đi tới
trường của Ananias, để học hiểu Thiên Chúa thật sự muốn gì nơi
ông một cách mới mẻ. Từ nay trở đi, Phaolô sẽ định nghĩa mình
là “kẻ được gọi là tông đồ” (x. Rm 1,1; 1 Cr 11) hay “tông đồ của
Đức Kitô Giêsu bởi ý Thiên Chúa muốn” (2 Cr 1,1; Ep 1,1; Cl 1,1);
vậy, ông nhấn mạnh rằng sự thay đổi này không phải là kết quả
của việc ông tìm kiếm nội tâm, việc ông khai triển những tư tưởng
hay suy tư, nhưng là hoa quả của việc Thiên Chúa can thiệp một
cách không thể tiên đoán được và tập hướng đời ông theo một
hướng mới. Vì lẽ này, trước kia Phaolô là “kẻ bách hại và người
của bạo lực” (1 Tm 1,13), nay ông học để “trở nên mọi sự cho hết
mọi người hầu bằng mọi phương thế tôi có thể cứu được một số
người.” (1 Cr 9,22).
Cả hai kinh nghiệm của Môsê và Phaolô soi sáng theo một
cách thấm nhập sự biến đổi bên trong; Gioan buộc phải có sự biến
đổi này để từ bỏ sự thúc đẩy (ép đẩy) tự phát hướng tới thực tại;
Gioan tuyên bố hầu cải thiện nó bằng sức lực của mình, và đi vào
sự chuyển động cũng như phong thái mà Thiên Chúa hành động
trong lịch sử.
Cốt yếu, phong thái này được bao hàm trong giấc mơ như
trong Kinh thánh, qua biểu tượng có tính chất mục tử. Dù trong
giấc mơ chín tuổi hạn từ “mục tử” không xuất hiện rõ ràng, thì
chính hình ảnh tương ứng với hạn từ đó thì rõ ràng được chứng
61

7.4 Page 64

▲torna in alto
thực, cách riêng ở chỗ những đứa trẻ, mà Gioan sẽ phải làm việc
cho, được biểu thị như những con chiên hiền lành.62 Đàng khác,
hình ảnh này thì quen thuộc với một đứa trẻ mà, như tất cả bạn
đồng trang lứa, đã dành nhiều giờ trong ngày chăn đoàn vật trên
cánh đồng. Vì vậy, hoạt động hằng ngày này là một yếu tố của sự
liên kết tự phát với kinh nghiệm tôn giáo của dân Israel, ở đó chăn
chiên là một trong những biểu tượng nền tảng để diễn tả tư cách
lãnh đạo cộng đoàn và chăm nom cho cộng đoàn được sống. Đoàn
vật cần những người tài khéo để hướng dẫn chúng và bảo vệ
chúng khỏi thú dữ; cùng một cách thức đó dân chúng cần những
người lãnh đạo khôn ngoan, và họ chăm sóc đời sống của dân
chúng một cách tận hiến và trách nhiệm. Vì lẽ này, trong giao ước
thứ nhất, tước hiệu “mục tử” thường được gán các vua và những
vai trò trách nhiệm khác; họ không quên rằng hai nhà lãnh đạo vĩ
đại nhất Israel – Môsê và David – là những người chăn chiên/mục
tử đầu tiên theo nghĩa đen của nó. Hơn nữa, tước hiệu này qui
chiếu trên hết tới Thiên Chúa, bởi vì qua những vị mục tử được
đặt làm lãnh đạo cho dân, thì chính ngài thực sự hướng dẫn họ.
“Lạy Mục Tử nhà Ít-ra-en, Ngài là Đấng chăn giữ nhà Giu-se như
chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe!” (Tv 80,2); “còn ta là
dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt” (Tv 95,7);
“CHÚA là mục tử chăn dắt tôi” (Tv 23,1); “Như mục tử, Chúa chăn
giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay” (Is
40,11). Ed 34 trồi hiện lên cách đặc biệt giữa tất cả những bản văn
62 Mặc dù từ ngữ “mục tử” không minh nhiên xảy ra trong câu chuyện này, thì biểu
tượng của nó không chút hoài nghi nằm ở hậu cảnh. Hơn nữa, nó sẽ trở thành minh
nhiên trong một giấc mơ thứ hai, mà Hồi ký Nguyện xá kể lại sau này, phẩm chất
hoá nó như một thứ “phụ lục cho giấc mơ mà cha đã có ở Becchi” (MO [2010] 109).
Trong giấc mơ này, mà Don Bosco đã có vào đêm tối trước Chúa nhật thứ hai trong
tháng Mười năm 1844, một lần nữa ngài thấy cảnh các thú vật đang gầm gừ trở thành
những con chiên hiền lành, nhưng một yếu tố diệu kỳ mới mẻ được thêm vào điều
này, vì nhiều con chiên “được biến thành những mục tử chăm sóc cho những chiên
khác, khi chúng lớn lên.” (130). Cùng nhân vật nữ của giấc mơ đó khi ngài được chín
tuổi cũng trở lại trong giấc mơ này, dưới hình dạng của “người nữ chăn chiên”. Hình
ảnh mục tử, mà trong giấc mơ thứ nhất đã hiện diện như một bối cảnh mặc nhiên đã
trở thành rõ ràng ngày một hơn.
62

7.5 Page 65

▲torna in alto
của giao ước thứ nhất dùng đến ẩn dụ này. Trong đó vị ngôn sứ
diễn tả một phán xét nặng nề về những vị mục tử sai lầm/giả dối;
thay vì hiến mình vì sự tốt lành của dân chúng, họ lại chạy theo
những tư lợi; vị ngôn sứ thuật lại Thiên Chúa quyết định đảm
trách vai trò mục tử trong ngôi thứ nhất: “Chính Ta sẽ chăn dắt
chiên của Ta … Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ
đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ
làm cho mạnh”. Sự cam kết này được hoàn tất với lời hứa rằng
Thiên Chúa sẽ gầy lên một vị mục tử theo lòng ngài: “Ta sẽ cho
xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng; nó sẽ chăn dắt chúng,
đó là Đa-vít, tôi tớ của Ta: chính nó sẽ chăn dắt chúng; chính nó
sẽ là mục tử của chúng.” (Ed 34,23).
Trong Tân ước hình ảnh vị mục tử, mà Đức Giêsu dùng
trong những dụ ngôn và mặc khải thái độ nội tâm của ngài khi
ngài động lòng trước đám đông bị bỏ rơi, đạt đến tột đỉnh trong
diễn từ Kitô học của Ga 10. Trong cuộc tranh cãi với những vị
hướng dẫn chính trị và tôn giáo, được miêu tả là những kẻ làm
thuê, Đức Giêsu trình bày mình là “mục tử nhân lành”, nghĩa là, vì
mục tử chân chính được Thiên Chúa sai đến, ngài biết rõ chiên
của mình, từng con một, và hiến mạng sống mình cho chúng. Vì
vậy, hình ảnh vị mục tử là một trong những hình thức ưu tuyển
mà qua đó thần học về sứ mệnh của Đức Kitô được diễn đạt. Con
được Cha sai đến là vị lãnh đạo; nhờ ngài Thiên Chúa dẫn toàn
nhân loại tới chính mình, giải phóng nhân loại khỏi sự dữ và dẫn
họ vào đồng cỏ sự sống. Tuy nhiên, trong Tân ước hình ảnh này
cũng được dùng cho những người mà Đức Giêsu liên kết với sứ
mệnh của ngài, đó là các tông đồ và những người kế vị; ngài thiết
lập họ như những người hướng dẫn và mục tử của cộng đoàn của
ngài. Lời của Đức Giêsu cho Phêrô “hãy chăm sóc chiên của Thầy”
(Ga 21,15) là một trong những diễn đạt cao nhất về mệnh lệnh
mục vụ này. Trách vụ mà Đấng Phục sinh giao cho vị Tông đồ xuất
hiện như một sự thông phần chân thật vào cử chỉ mà chính Đức
63

7.6 Page 66

▲torna in alto
Giêsu tiếp tục thực thi, dẫn những kẻ thuộc về đàn chiên của ngài
xuyên qua những nẻo đường của lịch sử.
Chiều sâu Kinh thánh của ẩn dụ có tính mục vụ mang đến
một ánh sáng quan trọng trên quang cảnh của giấc mơ vốn trình
bày những con chiên hiền lành tung tăng kêu be be quanh người
đàn ông sang trọng và người nữ quí phái. Sứ mệnh mà cậu thiếu
niên trong giấc mơ nhận lãnh và hoàn toàn vượt quá sức mạnh
của cậu được làm thành có thể bởi sự kiện rằng một cách tối hậu
cậu không được cậy dựa vào sức mạnh của mình, nhưng đúng hơn
phải hành động “bên trong” không gian sống động của Đấng Phục
sinh. Hiểu rằng chính vị Mục tử mới biến đổi những con thú dữ và
vì lẽ đó, các con chiên sẽ vui tươi qui tụ quanh ngài và mẹ ngài,
chứ không phải quanh Gioan, quả là không khó khăn gì.
Vậy, nhận xét này dẫn chúng ta tới chủ thể của biểu tượng
Kitô học và thánh mẫu học trong giấc mơ; chúng ta đã nhất thiết
qui chiếu chúng trong bài bình giải về những phần của câu
chuyện, thật quan trọng đối với hiểu biết nó. Chúng ta đã nhắc
đến những nét đặc trưng huyền bí và quen thuộc vốn đặc trưng
hoá hai nhân vật. Các ngài được đặc trưng bởi một ánh sáng chói
chang làm cho Gioan không thể nhìn thẳng vào người đàn ông,
đang khi ánh sáng đó lại toả rạng mọi phía trong chiếc áo choàng
của người nữ. Rõ ràng, ánh sáng là một trong những nét đặc trưng
nhất của biểu tượng tôn giáo để diễn tả Thiên Chúa và Đấng Siêu
việt: Thiên Chúa khoác “cẩm bào: muôn vạn ánh hào quang” (Tv
104,2). Tuy nhiên, ở đây chúng ta không cần tóm kết tất cả sự
phong phú Kinh thánh của ẩn dụ này, cũng như để giải thích tất
cả những qui chiếu Kinh thánh (cách riêng khải huyền) mà ta có
thể tìm thấy những nét và hoạt động miêu tả hai nhân vật đó. Độc
giả nào quen thuộc chút ít với Kinh thánh sẽ nắm bắt những đề
nghị của nó ngay. Đàng khác, tại điểm suy tư này, dừng lại để hiểu
một số chủ đề thần học và thiêng liêng mà giấc mơ trình bày và
thông truyền cho các độc giả như một gia sản hầu gìn giữ và vun
trồng [điều đó] còn quan trọng hơn.
64

7.7 Page 67

▲torna in alto
3.3. Những chủ đề thiêng liêng
Một bình giải về những chủ đề thần học và thiêng liêng
được tìm thấy trong giấc mơ lúc chín tuổi có thể có những khai
triển rộng lớn để bao gồm một khảo luận bao quát về “tính
Salêdiêng”. Được đọc từ viễn cảnh của lịch sử có những hệ quả
của nó, giấc mơ mở ra vô số đại lộ để khám phá những nét sư
phạm và tông đồ vốn đặc trưng hoá cuộc đời của thánh Gioan
Bosco cũng như kinh nghiệm đoàn sủng bắt nguồn từ ngài. Tuy
nhiên, tính chất và chỗ đứng của bài chúng ta khảo cứu trong một
dự phóng tìm tòi lớn rộng hơn, đòi buộc chúng ta phải giới hạn
mình vào một ít yếu tố thôi, tập trung chú ý của mình vào những
chủ đề chính và đề nghị những hướng để đào sâu sự hiểu biết
chúng ta về chúng. Vì thế, để suy tư thiêng liêng, chúng ta chọn
tập trung vào năm lãnh vực quan trọng, theo thứ tự sau đây, (1)
sứ mệnh mang tính Nguyện xá, (2) ơn gọi tới điều không thể
được, (3) mầu nhiệm của Tôn Danh, (4) sự trung gian từ mẫu và,
cuối cùng (5) sức mạnh của sự hiền lành.
3.3.1. Sứ mệnh Nguyện xá
Giấc mơ chín tuổi đầy ngập các thiếu niên. Chúng hiện diện
từ quang cảnh đầu tiên đến cuối cùng; chúng thừa hưởng mọi sự
xảy ra. Sự hiện diện của chúng được đặc trưng bởi vui nhộn và
chơi đùa; đấy là tiêu biểu (đặc trưng) của lứa tuổi chúng; nhưng
bất trật tự và lối cư xử (thái độ) tiêu cực cũng đặc trưng hoá sự
hiện diện của chúng. Vì thế, trong giấc mơ trẻ em không phải là
hình ảnh lãng mạn của một tuổi quyến dũ, hoặc không bị những
sự dữ của thế giới chạm tới, hoặc chúng không tương ứng với
huyền thoại hậu tân đại về tuổi trẻ như một mùa của hoạt động
tự phát và rộng mở triền miên để thay đổi mà sẽ được gìn giữ qua
tuổi niên thiếu vĩnh cửu. Trong giấc mơ đó, trẻ em thật là “thực”
(real) một cách ngoại thường, cả nơi bề ngoài thể lý cũng như khi
chúng được trình bày một cách biểu tượng dưới hình những thú
hoang. Chúng chơi và ẩu đả nhau, cười hô hố và chửi thề, giống y
như trong thực tế vậy. Chúng dường như không ngây thơ, như
65

7.8 Page 68

▲torna in alto
một khoa sư phạm về tính tự phát tưởng nghĩ chúng là thế; chúng
cũng không thể hành động như thể tự giáo dục mình (tự dạy dỗ
mình), như Rousseau nghĩ chúng như thế. Từ lúc các trẻ xuất hiện
ở “một sân rất rộng” vốn nhìn tới trước những sân chơi lớn của
các Nguyện xá Salêdiêng tương lai, chúng kêu nài một ai đó hiện
diện và hành động. Tuy nhiên, lời đáp trả hấp tấp của người mơ
chẳng phải là một sự can thiệp đúng; phải cần đến một Đấng Khác
hiện diện.
Sự xuất hiện của trẻ em được liên kết với sự xuất hiện của
một nhân vật mang tính Kitô học, như chúng ta bây giờ có thể gọi
ngài không úp mở. Đấng phán trong Tin mừng: “Hãy để trẻ nhỏ
đến với Thầy” (Mc 10:14), ngự đến để chỉ ra cho người mơ chính
thái độ mà qua đó ta phải đến gần chúng và đồng hành với chúng.
Ngài xuất hiện như một nhân vật mạnh mẽ, nam tính, uy nghi với
những nét rõ ràng nêu bật tính cách thần linh và siêu việt của
ngài; cách ngài hành động được nêu bật bởi sự chắc chắn và
quyền năng và ngài tỏ lộ uy quyền trên các sự việc xảy ra. Tuy
nhiên, người đàn ông uy nghi quí phái đó không làm ta khiếp sợ;
đúng hơn, ngài mang an bình ở nơi mà trước đó chỉ có hỗn độn
và ồn ào; ngài tỏ lộ sự thông cảm nhân lành khi nhìn Gioan và
hướng dẫn cậu tới nẻo đường hiền lành và bác ái.
Mối tương quan giữa những nhân vật này – một bên là
những đứa trẻ và bên kia là Chúa (và Mẹ ngài cũng được thêm vào
đó) – xác định những biên giới của giấc mơ. Những cảm xúc mà
Gioan cảm nhận trong kinh nghiệm giấc mơ, những câu cậu hỏi,
trách vụ mà cậu được gọi để hoàn thành, tương lai vốn mở ra
trước cậu [tất cả] hoàn toàn được liên kết với cái biện chứng giữa
hai cực này. Có lẽ sứ điệp quan trọng nhất mà giấc mơ giãi bày
cho người mơ, sứ điệp mà có lẽ cậu hiểu trước tiên bởi vì nó vẫn
in đậm trong tâm trí của cậu, trước cả khi hiểu nó theo một cách
phản tỉnh, chính là những nhân vật này sẽ trở nên thiết thân với
ký ức của cậu và cậu sẽ không thể quên họ suốt cuộc đời còn lại.
Cuộc gặp gỡ giữa giới trẻ bị thương tổn và Thiên Chúa quyền
66

7.9 Page 69

▲torna in alto
năng, giữa nhu cầu cần được cứu độ và việc ngài trao ban ân sủng,
giữa việc chúng ước ao được vui tươi và việc Thiên Chúa ban tặng
sự sống của mình, nay phải trở thành trung tâm tư duy của Gioan,
trở thành không gian của căn tính ngài. Hợp âm của đời ngài sẽ
hoàn toàn được viết trong những nốt mà chủ đề khai sinh này ban
cho cậu: hài hoà nó trong tất cả những tiềm năng hoà hợp sẽ là sứ
mệnh của ngài, sứ mệnh mà ngài phải đổ vào đó tất cả những ân
điển của bản tính và ân sủng.
Như vậy, tính năng động của cuộc đời Gioan xuất hiện trong
thị kiến-giấc mơ như một chuyển động liên tục, một loại tới-lui
thiêng liêng giữa các thiếu niên và Chúa. Từ nhóm trẻ mà cậu lập
tức bổ nhào vào đó, Gioan phải đặt mình bị lôi kéo tới Chúa Đấng
gọi đích danh cậu, và rồi cậu phải khởi hành lại từ Đấng đã sai cậu
đi và với nhiều thẩm quyền hơn, đặt mình làm đầu/thủ lãnh của
những bạn đó. Mặc dù cậu đã nhận những cú đấm mạnh mẽ từ
những đứa trẻ trong giấc mơ đến nỗi cậu vẫn cảm thấy đau khi
thức dậy, và mặc dù cậu lắng nghe những lời từ người đàn ông
quí phái khiến cậu phải bối rối, thì việc cậu ‘đi tới đi lui’ không
phải là một hành trình vô mục đích nhưng là một nẻo đường vốn
dần dần biến đổi cậu và mang theo một năng lực tác sinh sự sống
và tình yêu đối với giới trẻ.
Tất cả điều này xảy ra trong một sân chơi [bản dịch tiếng
Anh dịch từ cortile cũng có nghĩa là sân nhỏ] thì rất ý nghĩa và có
một giá trị giáo dục rõ ràng, vì sân chơi nguyện xá sẽ trở nên nơi
chốn ưu biệt và biểu tượng gương mẫu thuộc sứ mệnh của Don
Bosco. Toàn cảnh được diễn ra trong khung cảnh này, vừa rộng
rãi (một sân rất rộng) và quen thuộc (gần nhà). Sự kiện rằng thị
kiến ơn gọi không có một nơi chốn linh thánh hay thiên đài
(celestial) như bối cảnh của nó, nhưng không gian trong đó trẻ
sống và chơi, rõ ràng chỉ ra rằng sáng kiến thần linh thừa nhận thế
giới của chúng như một chỗ gặp gỡ. Sứ mệnh được trao cho Gioan,
mặc dù nó rõ ràng được hiểu theo nghĩa giáo lý và tôn giáo (“dạy
chúng tội lỗi thật xấu xa, còn nhân đức thật giá trị”), có thế giới
67

7.10 Page 70

▲torna in alto
giáo dục như môi sinh tự nhiên (habitat) của nó. Đứa trẻ chín tuổi
chắc chắn không thể “kiến tạo” sự liên kết của diện mạo Kitô học
với sân chơi và tính năng động của chơi đùa. Thực thế, nó tổng
kết những năng động lực của mầu nhiệm nhập thể trong đó Chúa
Con đảm nhận bản tính thân xác chúng ta hầu cống hiến cho
chúng ta bản tính của ngài; nó nêu bật làm sao không có gì thuộc
nhân bản cần phải hy sinh để dành chỗ cho Thiên Chúa.
Vậy, sân chơi nói về sự gần gũi của ân sủng thần linh với
cách thức trẻ con “cảm nhận”: chấp nhận ân sủng này không nhất
thiết phải bỏ sang một bên tuổi tác theo biên niên, hay xao nhãng
những nhu cầu của nó, hay chống lại nhịp điệu của nó. Khi đã lớn
tuổi, Don Bosco viết trong Giovane provveduto (người bạn đường
của tuổi trẻ) rằng một trong những lừa đảo của ma quỉ là làm cho
người trẻ nghĩ rằng sự thánh thiện thì không tương thích với ước
ao của chúng là sống vui tươi và với sự tươi mát dồi dào thuộc
tính sinh động của chúng, thì đó chỉ là một sự trở lại dưới hình
thức trưởng thành của bài học đã được chỉ ra trong giấc mơ và
rồi trở thành cấu tố cốt lõi trong huấn quyền thiêng liêng của ngài.
Sân chơi nói về nhu cầu hiểu giáo dục ở chính cốt lõi sâu nhất,
nghĩa là, thái độ của cõi lòng hướng tới Thiên Chúa. Nơi đó, giấc
mơ dạy không chỉ có chỗ cho một sự rộng mở nguyên thuỷ với ân
sủng, mà còn có chỗ cho một sự chống cưỡng mà tội lỗi xấu xa
cùng sự bạo tàn của nó ẩn núp trong đó. Vì vậy, chân trời giáo dục
của giấc mơ rõ ràng mang tính tôn giáo, chứ không chỉ nhân đạo;
nó trình bày biểu tượng là sự hoán cải, chứ không chỉ là biểu
tượng của sự phát triển chính mình.
Nơi giấc mơ, giữa sân đầy trẻ và được Thiên Chúa cư ngụ,
Gioan được ban cho một mặc khải về điều sẽ là năng động lực sư
phạm và thiêng liêng của những sân chơi Nguyện xá sau này.
Chúng ta vẫn thích để nhấn mạnh hai yếu tố nữa rõ ràng được cho
thấy trong giấc mơ qua những hành động trước hết của đám trẻ,
và rồi của những con chiên hiền lành.
68

8 Pages 71-80

▲torna in alto

8.1 Page 71

▲torna in alto
Yếu tố thứ nhất ta phải ghi nhận là sự kiện các thiếu niên
“ngừng đánh nhau, la hét và chửi thề: chúng qui tụ quanh người
đàn ông đang nói.” Chủ đề “qui tụ” là một trong những yếu tố thần
học và sư phạm quan trọng nhất của thị kiến/khoé nhìn giáo dục
của Don Bosco. Trong một đoạn văn nổi tiếng được viết vào năm
1854, lời giới thiệu cho những qui chế được soạn thảo cho các trẻ
nguyện xá của thánh Phanxicô Salê ở Turin trong vùng Valdocco,63
ngài trình bày tính chất giáo hội và ý nghĩa thần học của Nguyện
xá như một thể chế bằng cách trích dẫn những lời của thánh sử
Gioan: “Ut filios Dei, qui erant dispersi, congregaret in unum” (Ga
11:52). Như vậy, hoạt động của Nguyện xá được đặt dưới dấu chỉ
là sự “qui tụ cánh chung” của con cái Thiên Chúa vốn là trung tâm
của sứ mệnh của Con Thiên Chúa:
Dường như đối với tôi những lời Tin mừng vốn bảo cho chúng ta
rằng Đấng cứu độ thần linh từ trời xuống thế để qui tụ con cái Thiên
Chúa đang rải rắc khắp cùng thế giới lại, có thể được áp dụng từng
chữ (nghĩa đen) cho giới trẻ của thời đại chúng ta.
Giới trẻ, “thành phần dễ tổn thương nhất song lại quí báu
nhất của xã hội con người” thường bị rải rắc bởi cha mẹ thiếu
quan tâm giáo dục chúng, hay bởi bạn bè xấu ảnh hưởng. Điều
đầu tiên ta phải làm là cung cấp nền giáo dục cho những người
trẻ này chính bằng cách “qui tụ chúng, có thể nói chuyện với
chúng, dạy chúng đời sống luân lý.” Trong những lời này của Lời
giới thiệu bản Quy chế nháp, âm vang của giấc mơ, mà nay đã chín
muồi trong ý thức của nhà giáo dục trưởng thành, thì rõ ràng hiện
diện và có thể nhận ra được ngay. Nguyện xá được trình bày như
một “sự qui tụ” vui tươi của người trẻ quanh một lực hấp dẫn có
khả năng cứu chúng và biến đổi chúng, sức mạnh của Chúa:
“Những nguyện xá này là sự qui tụ trong đó các trẻ, sau khi tham
dự những lễ nghi giáo hội, hân hoan vui chơi chạy nhảy.” Như một
đứa trẻ, Don Bosco hiểu rằng “đây là sứ mệnh của Con Thiên
63 Bản văn phê bình được xuất bản trong P. Braido (ed.), Don Bosco educatore. Scritti
e testimonianza, 3rd ed. (LAS, Roma 1996) 108-111.
69

8.2 Page 72

▲torna in alto
Chúa; điều này, chỉ tôn giáo thánh thiện của ngài mới có thể thực
hiện được mà thôi”.
Yếu tố thứ hai mà sẽ trở thành một nét trong lối thiêng
Nguyện xá là điều được mặc khải trong giấc mơ qua hình ảnh của
các con chiên nô đùa nhảy cẫng và sung sướng kêu be be “như thể
đón chào người đàn ông và bà quí phái đó.” Khoa sư phạm của sự
cử hành sẽ là một chiều kích nâng đỡ Hệ thống Dự phòng của Don
Bosco. Điều này sẽ tìm cách cống hiến cho trẻ em cơ hội hít thở
hoàn toàn niềm vui của đức tin qua nhiều cử hành tôn giáo suốt
cả năm. Don Bosco sẽ nhiệt huyết làm cho cộng đoàn trẻ trung
của Nguyện xá can dự vào việc chuẩn bị các biến cố, chẳng hạn
những cuộc trình diễn kịch nghệ và những biến cố khác vốn cung
cấp sự thoát ra khỏi những bổn phận mệt nhọc hằng ngày và điều
đó sẽ gia tăng những tài năng của trẻ em trong âm nhạc, kịch
nghệ, và thể thao, nhờ đó hướng dẫn trí tưởng của chúng vào
hướng sáng tạo tích cực. Nếu chúng ta xét rằng thông thường giáo
dục được đề xuất trong những phạm vi tôn giáo của thế kỷ 19 có
một cảm nhận khá nhiệm nhặt đối với nó và dường như trình bày
thái độ sốt mến như một lý tưởng sư phạm phải đạt đến, thì lễ hội
lành mạnh của Nguyện xá nổi bật lên như một diễn đạt của thuyết
nhân bản rộng mở để đáp lại những nhu cầu tâm lý của giới trẻ
và một thuyết nhân bản có thể giúp cho tính sáng tạo của chúng.
Vì vậy, niềm vui lễ hội vốn kéo theo sự biến đổi của các thú hoang
trong giấc mơ là điều mà khoa sư phạm Salêdiêng nhắm đến.
Thực thế, sự cử hành và tính lễ hội cống hiến cho con người
dịp thoát ra khỏi những trói buộc (constraints) của đời sống hằng
ngày, để bỏ đi những vai trò vốn vây nhốt (hem) họ trong những
tương quan của họ và chiếu sáng điều gì là cốt yếu, điều gì thật sự
là nền tảng của niềm vui sống và cho phép họ nhận biết chính
mình như một cộng đoàn. Tuy nhiên, ở tận gốc rễ của thái độ lễ
hội, có một câu hỏi bất khả né tránh vốn liên quan đến những cội
nguồn của nó. Trong tất cả văn hóa, thái độ lễ hội giả định một sự
ủy quyền mà những người tham dự vào các lễ hội không thể cung
70

8.3 Page 73

▲torna in alto
cấp lời tường trình của chính mình. Lễ mừng không thể chỉ là kết
quả của một quyết định tự quản; nó không thể được cử hành mà
không có một lý lẽ thật sự để làm như thế, và lý lẽ này phải nảy
sinh từ một kinh nghiệm vốn thực sự làm trương rộng (nới rộng)
những không gian của cõi lòng và đưa vào sự tự do. Bằng không,
sự tự do mà ta kinh nghiệm trong suốt cuộc cử hành sẽ chỉ là một
vỏ sò bên ngoài trống rỗng vốn phủ lấp những khát vọng bị chưng
hửng; rốt cục, một cử hành như thế sẽ là một ảo tưởng chỉ có thể
gây thêm thất vọng. Thay vì tự do, chúng ta kinh nghiệm sự hạn
chế, thay vì cộng đoàn, nó cung cấp “một bầy đoàn”, thay vì niềm
vui chỉ có tiếng động vốn bắt chước niềm vui nhưng không thể
sản sinh niềm vui. Những cử hành lễ hội tại Nguyện xá tập trung
vào sự biến đổi đó mà qua đó đám đông ồn ào được biến đổi thành
những con chiên của giấc mơ. Trung tâm, cội nguồn và mục tiêu
của những cử hành lễ hội vui tươi là Đức Giêsu và Mẹ ngài hiện
diện. Don Bosco biết rằng niềm vui chân chính nảy sinh từ lương
tâm an bình vốn sống trong tình bạn với Chúa. Vì lẽ này, ngài
chuẩn bị cho những ngày lễ bằng những tuần chín ngày giúp đưa
cõi lòng của giới trẻ tới đời sống ân sủng, và qua bí tích Giao hòa
được trình bày như một trải nghiệm chân thật về sự chữa lành
bên trong. Vì vậy, sự cử hành lễ hội là thời khắc tột đỉnh của một
hành trình biến đổi thiêng liêng chân thật trong đó ân sủng Thiên
Chúa là động lực, đang khi bù lại nó qui chiếu tới một sự hoàn
thành tương lai vốn sẽ xảy ra trong niềm vui thiên đài, khi sự biến
đổi của nhân loại sẽ được hoàn thành trọn vẹn. Kinh thánh dạy
rằng toàn thể tạo thành, từ ban đầu, được tập trung tới ngày
Sabbat, ngày Thiên Chúa nghỉ ngơi, nhưng không phải là một
“thời gian rỗng tuếch”, song đúng hơn là một không gian cho tặng
phẩm tự do là gặp gỡ và sự cử hành của tình bạn. Nhân loại tự
phát mang trong chính mình nỗi khát khao đi vào “Ngày của
Chúa”, khát khao hành trình tới một sự sống sung mãn vốn không
còn kinh nghiệm sự nặng nề của cuộc đời cũng như nỗi nhọc nhằn
thường nhật. Sự căng thẳng này đặc biệt sống động trong người
trẻ; một cách mãnh liệt hơn họ tìm kiếm sự nô đùa và vui chơi
71

8.4 Page 74

▲torna in alto
vốn là sự tiền dự một niềm hạnh phúc lớn lao hơn. Don Bosco có
thể sử dụng nền tảng thụ tạo ấy và không gian giáo dục ấy trong
sự căng thẳng này để kiến tạo một kinh nghiệm thiêng liêng về
tính lễ hội chân thật được làm thành khả thể bởi tặng phẩm ân
sủng.
Sự nối kết giữa giải trí trong sân chơi và cử hành trong
phụng vụ chắc chắn là một trong những hệ quả chín muồi của
những trực giác mà giấc mơ mang trong mình. Trong một đoạn
từ Hồi ký Nguyện xá, miêu tả một ngày sinh động tiêu biểu giữa
các thiếu niên, Don Bosco viết: “Cha lợi dụng thời kỳ giải trí không
tổ chức để dẫn các học sinh của cha cách lặng lẽ tới những ý tưởng
về tôn giáo và lợi dụng các bí tích thánh.”64 Trong lá thư nổi tiếng
từ Roma 1884, vốn là một trong những diễn đạt có giá trị nhất về
sự khôn ngoan thiêng liêng của ngài, ngài nhận diện mối liên hệ
rất chặt chẽ giữa “sự không sẵn lòng” (unwillingness) để dấn thân
vào giải trí và “sự lãnh đạm” (lạnh lẽo) trong việc đến gần các bí
tích. Trong sứ mệnh của nguyện xá mà giấc mơ này trao phó cho
ngài, sân chơi và nhà thờ, chơi đùa và phụng vụ, vui cười lành
mạnh và đời sống ân sủng phải được nối kết chặt chẽ như hai yếu
tố bất khả phân của một khoa sư phạm mà thôi.
3.3.2. Tiếng gọi để làm điều bất khả thể
Đang khi đối với các thiếu niên trong giấc mơ nó kết thúc
với sự cử hành, thì đối với Gioan nó kết thúc với sự mất tinh thần
(nản chán) và thậm chí với nước mắt. Đây là một kết quả
(outcome) mà chỉ có thể sững. Thực thế, với một sự đơn giản hóa
nào đó nghĩ rằng những cuộc thăm viếng từ Thiên Chúa là những
người mang chở niềm vui và an ủi mà thôi quả là rất quen thuộc.
Vì thế, thật nghịch lý: đối với một vị tông đồ của niềm vui, đối với
một người khi là một học sinh cấp hai sẽ giúp lập nên “hội vui” và
như một linh mục sẽ dạy cho trẻ của mình rằng sự thánh thiện hệ
64 MO-en 136.
72

8.5 Page 75

▲torna in alto
tại ở “việc sống vui tươi hạnh phúc”, thì quang cảnh ơn gọi lại kết
thúc với nước mắt.
Chắc chắn điều này có thể chỉ ra rằng niềm vui được nói
đến không phải là một sự nhàn rỗi (leisure) thuần túy và một sự
nhẹ dạ xuông, nhưng là một đáp trả nội tâm trước vẻ đẹp của ân
sủng. Đúng như vậy, điều này chỉ có thể được thành tựu qua việc
đòi hỏi những cuộc chiến thiêng liêng, mà Don Bosco tới một mức
lớn rộng sẽ phải trả giá cả vì phúc lộc của những người trẻ của
ngài. Vậy, cách cá nhân, ngài sẽ sống lại sự trao đổi những vai trò
mà cội rễ của nó nằm trong mầu nhiệm vượt qua của Đức Giêsu
và được kéo dài trong những hoàn cảnh của các tông đồ: “Chúng
tôi điên dại vì Đức Ki-tô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Ki-
tô; chúng tôi yếu đuối, còn anh em thì mạnh mẽ; anh em được
kính trọng, còn chúng tôi thì bị khinh khi” (1 Cr 4,10), nhưng
chính trong cách này, “chúng tôi góp phần tạo niềm vui cho anh
em” (2 Cr 1,24).
Tuy nhiên, sự lúng túng mà với nó giấc mơ khép lại, gợi
nhắc trên hết sự bối rối gây xáo trộn (disturbing upset) mà những
nhân vật Kinh thánh lớn lao kinh nghiệm khi đối diện với ơn gọi
thần linh vốn mặc khải chính mình trong đời của họ, và hướng họ
theo một hướng hoàn toàn bất ngờ và chưng hửng. Tin mừng
Luca xác quyết rằng ngay cả Đức Maria cảm thấy bối rối sâu xa
bên trong trước lời của thiên sứ (“nhưng bà thấy bối rối về lời
này” Lc 1,29). Isaia đã thấy lạc lõng trước mặc khải của Thiên
Chúa chí thánh trong đền thờ (Is 6). Amos đã so sánh sức mạnh
của Lời Thiên Chúa bởi đó ông bị chụp bắt với tiếng gầm của sư
tử (Am 3,8), đang khi Phaolô kinh nghiệm trên đường Damas sự
đảo lộn hiện sinh vốn khai sinh từ cuộc ông gặp gỡ Đấng Phục
sinh. Khi làm chứng cho sự hấp dẫn về cuộc gặp gỡ Thiên Chúa
vốn hoàn toàn quyến dũ họ, những người nam và nữ của Kinh
thánh, vào thời khắc tiếng gọi của họ, xem chừng như ngập ngừng,
sợ hãi vì một điều gì tràn ngập họ, hơn là ném mình vội vàng ngay
vào trong cuộc thám hiểm của sứ mệnh.
73

8.6 Page 76

▲torna in alto
Sự bối rối mà Gioan kinh nghiệm trong giấc mơ xem chừng
là một kinh nghiệm tương tự. Nó nảy sinh từ tính chất nghịch lý
của sứ mệnh được giao cho ngài, mà ngài không ngần ngại định
nghĩa là “không thể được” (“ông là ai mà ra lệnh cho con làm điều
không thể được?”). Tính từ, “không thể được” dường như “bị
phóng đại”, như đôi khi là những phản ứng của những đứa trẻ,
cách riêng khi chúng diễn đạt một cảm thức về sự không thích
hợp khi đối diện với một trách vụ thách đố. Nhưng chân lý này
của tâm lý đứa trẻ dường như không đủ để tỏa sáng nội dung của
cuộc đối thoại trong giấc mơ và chiều sâu của kinh nghiệm thiêng
liêng mà nó thông truyền. Còn hơn thế vì Gioan được làm thành
phẩm chất của người lãnh đạo thật sự và có một ký ức tuyệt hảo,
mà sẽ cho phép ngài trong những tháng sau giấc mơ đó lập tức
bắt đầu thành lập một nguyện xá tí hon, làm cho các bạn vui chơi
(giải trí) với những trò chơi tích cực và lặp lại các bài giảng của
cha xứ. Vì thế, theo những lời mà ngài thẳng thắn công bố rằng
ngài “không thể nói về tôn giáo” cho bạn đồng trang lứa, thì nghe
âm vọng xa về sự chống đối của Giêremia trước lời Thiên Chúa
kêu gọi vang lên lại: “con đây còn quá trẻ, con không biết ăn
nói.” (Gr 1:6).
Ở đây cái đòi hỏi điều bất khả thể bị lâm nguy không phải
trên bình diện của những thái độ tự nhiên, nhưng trên bình diện
của điều mà có thể rơi vào chân trời của cái thực, của điều ta có
thể mong đợi theo hình ảnh của mình về thế giới, của điều rơi vào
trong giới hạn của kinh nghiệm. Vượt quá biên giới này, miền của
điều không thể được mở ra, vốn là không gian của Thiên Chúa hoạt
động, theo hạn từ Kinh thánh. Đối với Abraham không thể có một
đứa trẻ bởi một người nữ đã già và hiếm muộn như Sarah; đối với
Đức Nữ Trinh không thể thụ thai và ban cho thế giới Con Thiên
Chúa làm người; ơn cứu độ xem như “không thể được” đối với các
môn đệ, nếu đối với con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn cho
người giàu đi vào vương quốc Thiên Chúa. Abraham được trả lời,
“Nào có điều gì kỳ diệu vượt sức ĐỨC CHÚA?” (St 18,14); Thiên
74

8.7 Page 77

▲torna in alto
thần nói cho Maria rằng “vì đối với Thiên Chúa, không có gì là
không thể làm được” (Lc 1,37); còn Đức Giêsu trả lời cho các môn
đệ không tin rằng “Những gì không thể được đối với loài người,
thì đều có thể được đối với Thiên Chúa.” (Lc 18,27).
Tuy nhiên, biến cố quan trọng nhất trong đó vấn đề thần
học của điều bất khả thể nảy sinh là thời khắc dứt khoát (quyết
liệt) trong lịch sử cứu độ, nghĩa là, bi kịch Phục sinh ở đó biên giới
bất khả thể phải bị vượt qua là chính cái vực thẳm cực kỳ tăm tối
của sự dữ và cái chết. Làm thế nào có thể thắng sự chết? Liệu
chính cái chết không phải là biểu tượng (emblem) bó buộc của
tính không thể được, cái giới hạn không thể vượt qua cho mọi khả
thể tính của con người, sức mạnh thống trị thế giới, cái chiếu bí
(bàn cờ) của nó hay sao? Và liệu cái chết của Đức Giêsu không
đóng ấn một cách bất khả thay đổi cái giới hạn này sao? Với cái
chết này, hơn bất kỳ cái gì khác, sự chết chiến thắng như là sự kết
tận (tận cùng) của mọi tính khả thể, bởi vì với cái chết của Đấng
Thánh nó là một câu hỏi về sự phá hủy tính khả thể của mọi sự và
mọi người.65
Nhưng Thiên Chúa đã tạo dựng sự mới mẻ tuyệt đối đúng
vào cái lõi tủy của sự bất khả thể tối cao này. Bằng cách làm cho
Con đã thành người trỗi dậy trong quyền năng Thánh Thần, ngài
đã tận căn đảo ngược điều mà ta gọi là thế giới của khả thể, và
xuyên thủng những giới hạn mà trong đó chúng ta đóng kín (vây
kín) niềm kỳ vọng thực tại của chúng ta. Vì ngay cả sự bất lực của
thập giá không thể cản ngăn người Con hiến dâng mình, thì tính
bất khả thể của cái chết bị vượt quá bởi sự mới mẻ của sự sống
phục sinh, vốn làm nảy sinh một cuộc tạo dựng dứt khoát và làm
cho mọi sự nên mới. Từ nay trở đi và “một lần là đủ” sự sống
không còn lụy phục cái chết, nhưng cái chết lụy phục sự sống.
Chính trong không gian này được sự phục sinh tạo dựng lên
mà điều bất khả thể trở thành thực tại hiệu quả. Chính ở đây,
65 J.L. Marion, “Nulla è impossibile a Dio,” Communio 107 (1989) 57-73, 62.
75

8.8 Page 78

▲torna in alto
người đàn ông quí phái của giấc mơ, huy hoàng với ánh sáng Phục
sinh, yêu cầu Gioan làm điều không thể được thành có thể. Và ngài
làm thế với một công thức gây ngạc nhiên: “Chính bởi vì điều ấy
xem ra không thể được đối với con, mà con phải làm cho nó thành
có thể được nhờ vâng phục.” Với những lời này, cha mẹ hằng thúc
đẩy con cái mình, khi chúng lần lữa (ngần ngại), để làm điều
chúng cảm thấy không thể làm được, hay chúng không muốn làm.
“Vâng phục và con sẽ thấy con thành công.” Người mẹ hay người
cha nói như thế: Tâm lý học của thế giới trẻ em được kính trọng
trọn vẹn. Nhưng chúng cũng là, và còn hơn nhiều, những lời mà
nhờ đó Người Con mặc khải cái bí quyết của điều bất khả thể, cái
bí quyết vốn hoàn toàn ẩn dấu trong sự vâng phục của ngài. Người
đàn ông quí phái ra lệnh một điều không thể được; qua kinh
nghiệm nhân loại của chính mình, ông biết rằng tính bất khả thể
đó là nơi chốn mà ở đó Cha cùng hoạt động với Thần khí, miễn là
ta mở cánh cửa ra qua sự vâng phục của ngài.
Một cách tự nhiên, Gioan vẫn còn lúng túng và hoang mang,
nhưng đây là chính cảm nhận mà bất kỳ ai cũng trải nghiệm khi
đối diện với phép lạ bất khả thể của phục sinh, nói cách khác, khi
đối diện với phép lạ của các phép lạ mà mọi biến cố cứu độ khác
đều là một dấu chỉ của nó. Sau khi phân tích chi tiết hiện tượng
luận về điều bất khả thể, J.L. Marion bình giải: “vào sáng phục
sinh, chỉ Đức Kitô vẫn có thể nói Tôi: hầu, đứng trước ngài, mọi
cái tôi siêu nghiệm phải nhận biết chính mình như […] một cái tôi
bị thách đố, bởi vì bị hoang mang.”66 Phục sinh có nghĩa là điều
vốn là thật sự nhất trong lịch sử là một điều mà ego không tin xét
một cách tiên thiên/a priori là không thể được. Tính bất khả thể
của Thiên Chúa, để được nhận biết trong thực tại của ngài đòi hỏi
một sự thay đổi chân trời, mà ta gọi là đức tin.
Vì vậy ta không chút ngạc nhiên rằng trong giấc mơ cái biện
chứng khả thể-bất khả thể được xoắn kết với cái biện chứng khác
66 Ibid., 72.
76

8.9 Page 79

▲torna in alto
là rõ ràng và tăm tối. Trước tiên nó đặc trưng hóa chính hình ảnh
của Đức Chúa có khuôn mặt chói lọi đến nỗi Gioan không thể nhìn
vào ngài. Một ánh sáng thần linh từ khuôn mặt đó một cách
nghịch lý lại sản sinh sự tối tăm. Rồi những lời của người đàn ông
và người phụ nữ lại để cậu lẫn lộn và sợ hãi, đang khi rõ ràng giải
thích điều Gioan phải làm. Cuối cùng, có một sự biến đổi mang
tính biểu tượng của những thú hoang, mà, đến lượt mình dẫn tới
một sự không hiểu còn lớn hơn nữa. Gioan chỉ có thể xin minh
định: “Con xin bà nói để con có thể hiểu bà, bởi vì con không biết
tất cả điều ấy có nghĩa gì”; thế nhưng câu trả lời cậu có được từ
người phụ nữ có dáng vẻ cao sang chỉ hoãn lại thời khắc hiểu biết:
“vào đúng lúc con sẽ hiểu mọi sự”.
Thật vậy, điều này có nghĩa rằng chỉ bằng cách thực thi điều
đã hiểu trong giấc mơ, nghĩa là, qua vâng phục, một cơ hội sẽ được
ban cho để minh định sứ điệp của nó. Thực thế, điều này không
chỉ hệ tại ở một ý tưởng được giải thích, nhưng ở trong một lời có
tính hiện thực, một diễn đạt hiệu quả, mà chính bằng cách hiện
thực sức mạnh linh hoạt của nó biểu lộ ý nghĩa sâu xa nhất của
nó.
Cái biện chứng ánh sáng và tối tăm này cũng như những
phương thế tương ứng để tới gần chân lý là những yếu tố vốn đặc
trưng hóa cấu trúc thần học của hành vi đức tin. Thực thế, tin có
nghĩa là bước đi trong đám mây sáng chói theo một cách thức vốn
chỉ cho một người lối đường phải theo nhưng đồng thời loại đi
khỏi người đó tính khả thể là làm chủ nó với cái nhìn của mình.
Bước đi trong đức tin là bước đi như Abraham, ông “đã ra đi mà
không biết mình đi đâu” (Hr 11:8); tuy nhiên, điều này không có
nghĩa rằng họ khởi hành một cuộc thám hiểm, chuyển động tùy ý
(bất chợt/at random), song đúng hơn, theo nghĩa rằng họ khởi
hành trong vâng phục “vì một nơi họ thừa hưởng.” Họ không thể
biết trước mảnh đất được hứa ban cho họ, bởi vì, thực thế, chính
sự sẵn sàng và sự lụy phục nội tâm của họ mới đóng góp vào việc
làm cho nó hiện hữu như một mảnh đất của gặp gỡ và giao ước
77

8.10 Page 80

▲torna in alto
với Thiên Chúa, chứ không chỉ như một không gian địa lý được
đạt tới theo một cách vật chất. Vì vậy, lời Đức Maria nói cho Gioan
– “Vào đúng lúc con sẽ hiểu mọi sự” - không chỉ là những lời khích
lệ hiền mẫu nhân từ, như những lời của các bà mẹ cho con cái
mình khi họ không thể giải thích hơn nữa, nhưng là những lời vốn
thật sự chứa đựng ánh sáng tối đa mà có thể được hiến ban cho
những ai phải bước đi trong đức tin.
3.3.3. Tôn Danh nhiệm mầu
Tại điểm này trong suy tư, chúng ta có thể giải thích tốt hơn
một yếu tố quan trọng khác của kinh nghiệm giấc mơ. Sự kiện là
ở tâm điểm của thế căng thẳng giữa điều khả thể và điều bất khả
thể, giữa điều được biết và điều không được biết, và cũng vậy, ở
cốt lõi của chính thuật trình giấc mơ, là chủ đề về “tôn danh” mầu
nhiệm của người đàn ông quí phái. Thực thế, cuộc đối thoại rất
chặt chẽ trong phần III được đan xen với những câu hỏi nêu lên
cùng một vấn đề: “Ông là ai mà lại nói như thế?”, và cuối cùng “Mẹ
cháu bảo cháu không được chung đụng với những người cháu
không biết, trừ phi bà cho phép. Vì vậy, xin hãy nói cho cháu tên
của ông.” Người đàn ông quí phái bảo Gioan hãy hỏi mẹ ngài “tôn
danh” của ngài; nhưng thực thế, người sau (người nữ) sẽ chẳng
nói cho cậu. Nó vẫn được trùm kín trong mầu nhiệm cho đến cuối.
Trong phần dành cho việc tái cấu trúc bối cảnh Kinh thánh
của giấc mơ, chúng ta đã ghi nhận rằng chủ đề về “tôn danh” được
liên kết chặt chẽ với giai thoại Môsê được gọi tới bụi gai đang cháy
(Xh 3). Đoạn văn này là một trong những bản văn cốt yếu (trung
tâm) của mặc khải trong Giao ước thứ nhất và đặt nền cho tất cả
tư tưởng tôn giáo của Israel. André Lacoque đề nghị rằng ta nên
định nghĩa nó là “mạc khải của những mặc khải”, bởi vì nó cấu
thành nguyên lý duy nhất của trình thuật và cấu trúc có tính quy
tắc vốn phẩm chất hóa trình thuật Xuất hành, “tế bào mẹ” của toàn
78

9 Pages 81-90

▲torna in alto

9.1 Page 81

▲torna in alto
Kinh thánh.67 Ghi nhận bản văn kinh thánh đó diễn đạt như thế
nào tính duy nhất chặt chẽ giữa điều kiện (phận) nô lệ của dân
trong Ai cập, ơn gọi của Môsê và mặc khải tôn danh Thiên Chúa
quả là quan trọng. Mặc khải tôn danh Thiên Chúa cho Môsê không
xảy ra chỉ đơn giản như sự chuyển giao thông tin ta phải biết hay
những dữ liệu ta phải thủ đắc, nhưng như mặc khải về một sự
hiện diện hữu vị mà nhắm vào việc làm nảy sinh một mối liên hệ
vững chắc và khởi đầu một tiến trình giải phóng. Theo nghĩa này,
mặc khải về Danh Thiên Chúa được tập trung tới giao ước và sứ
mệnh.68 “Danh” đó có tính chất mạc khải Thiên Chúa và thực hiện,
vì những ai tiếp nhận nó không chỉ được dẫn vào sự bí mật thần
linh, nhưng là những người nhận lãnh một hành vi cứu độ.69
Thực thế, “Danh” đó không như khái niệm, không chỉ một
yếu tính ta tư duy tới, nhưng là một sự khác biệt ta phải qui chiếu
tới, một sự hiện diện để cầu khẩn, một chủ thể vốn đề xướng
chính mình là Đấng giải thích (interlocutor) chân thật về cuộc
sống. Đang khi hàm ẩn việc công bố một sự giàu có không thể so
sánh về hữu thể học, một Hữu thể giàu có vốn không bao giờ ta
có thể định nghĩa thích đáng, thì sự kiện Thiên Chúa mặc khải
chính mình như một “cái Tôi” chỉ ra rằng chỉ nhờ một tương quan
hữu vị với ngài thì mới có thể đến gần căn tính của ngài, tới gần
mầu nhiệm Hữu thể ngài. Vì vậy, mặc khải “Danh” Thiên Chúa hữu
vị là một hành vi của diễn từ vốn thách đố người thụ nhận, và đòi
buộc họ đặt chính mình đối diện với Đấng đang nói. Thực vậy, chỉ
bằng cách này, ta mới có thể nắm bắt ý nghĩa của “Danh” ấy mà
thôi. Hơn nữa, mặc khải này một cách minh nhiên đứng như nền
tảng cho sứ mệnh giải phóng mà Môsê phải thực thi: “Đấng Hiện
67 A. LaCocque, “La révélation des révélations: Exode 3:14,” trong P. Ricoeur - A.
LaCocque, Penser la Bible (Seuil, Paris 1998) 305.
68 Với qui chiếu tới Xh 3:15, trong đó Danh TC được nối kết với một con người (số
ít) “ngươi sẽ nói”, A. LaCocque xác quyết: “Nghịch lý lớn nhất là đấng mà một mình
ngài có quyền để nói “TÔI-TA”, vốn độc nhất là ‘ehjeh’ (Ta là đấng Ta là) có một
tôn danh vốn bao gồm một ngôi thư hai, một ‘anh’” (A. LaCocque, “La révélation
des révélations: Exode 3,14,” 315).
69 A. Bertuletti, Dio. Il mistero dell’unico, 354.
79

9.2 Page 82

▲torna in alto
Hữu sai tôi đến với anh em.” (Xh 3,14). Khi trình bày mình như
một Thiên Chúa hữu vị, chứ không phải một Thiên Chúa gắn vào
một địa dư, như chính Thiên Chúa của lời hứa, chứ không phải
thuần túy như Đức Chúa của sự lặp lại bất biến, Giavê sẽ có thể
cung cấp một lối đường cho dân ngài khi họ hành trình tiến tới tự
do. Vì vậy, ngài có một “Danh” vốn làm cho mình được biết đến
bởi vì nó thiết lập một giao ước và hướng dẫn lịch sử.
Tuy nhiên, tôn danh này chỉ được mặc khải trọn vẹn chỉ qua
Đức Giêsu. Lời cầu nguyện được gọi là lời nguyện linh mục của
Đức Giêsu, mà ta đọc trong Ga 17, đồng nhất lõi tủy của sứ mệnh
mang tính Kitô học trong sự mặc khải danh Thiên Chúa (c. 6,
11,12,26). Như Ratzinger bình giải, trong đoạn này, “Đức Kitô
xuất hiện cho chúng ta hầu như bụi gai rực lửa, từ đó Danh Thiên
Chúa chảy tuôn trên con người.”70 Nơi ngài, Thiên Chúa trở thành
hoàn toàn “có thể kêu cầu” (invocable), vì nơi ngài Thiên Chúa
hoàn toàn đi vào hiện hữu với chúng ta, sống lịch sử chúng ta và
dẫn nó vào trong sự xuất hành dứt khoát của nó. Cái nghịch lý ở
đây là Danh Thiên Chúa vốn được Đức Giêsu mặc khải trùng khớp
với chính mầu nhiệm của con người ngài. Thực thế, Đức Giêsu có
thể gán cho chính mình tôn danh thần linh – “Tôi là” – được mặc
khải cho Môsê trong bụi gai. Như vậy, Danh Thiên Chúa được mặc
khải trong chiều sâu ba ngôi không thể tưởng nghĩ được, mà biến
cố Vượt qua sẽ hoàn toàn tỏ lộ Mầu nhiệm của ngài. Qua sự vâng
phục đến chết trên thập giá, Đức Giêsu được tôn dương trong
vinh quang và nhận được một “danh vượt trên hết mọi danh
khác”, hầu mọi người sẽ buộc phải quì gối trước ngài, trên trời,
dưới đất và dưới âm phủ.” Vì vậy, chỉ trong “danh” Đức Giêsu, mới
có ơn cứu độ, bởi vì trong lịch sử của ngài Thiên Chúa trọn vẹn
(sung mãn) hoàn thành mặc khải về mầu nhiệm Ba ngôi của mình.
70 J. Ratzinger, Introduzione al cristianesimo. Lezioni sul simbolo apostolico
(Queriniana, Brescia 1971) 93.
80

9.3 Page 83

▲torna in alto
“Xin cho con biết tên ngài”: câu hỏi này của Gioan, ta không
thể trả lời chỉ qua một công thức, danh xưng được dùng như một
nhãn hiệu bên ngoài của một người. Để biết “tôn danh” của Đấng
đang nói trong giấc mơ, đối với Gioan tiếp nhận thông tin là không
đủ; đối với ngài nhất thiết phải làm một cái gì đó trước hành vi
nói của ngài. Nghĩa là, đối với ngài nhất thiết phải di vào mối liên
hệ mật thiết và lụy phục (giao nộp) mà các Tin mừng miêu tả là
“ở lại” với ngài. Chính vì thế, khi các môn đệ hỏi Đức Giêsu về căn
tính của ngài – “Thầy ở đâu?” hay từng chữ “ngài đang ở đâu?” –
ngài trả lời “Đến mà xem” (Ga 1:38 tt). Chỉ bằng cách “ở lại” với
ngài, sống trong mầu nhiệm của ngài, đi vào trong tương quan của
ngài với Chúa Cha, ta mới có thể thật sự biết ngài là ai.
Sự kiện là nhân vật trong giấc mơ không trả lời cho Gioan
bằng cách nói tôn danh của mình, như chúng ta thường làm bằng
cách chia sẻ điều được viết trên thẻ căn cước của ta chỉ ra rằng
“Danh” của ngài, ta không thể chỉ biết như thông tin bề ngoài.
Thiên Chúa mạc khải chân lý của ngài chỉ khi nó được đóng ấn với
một kinh nghiệm giao ước và sứ mệnh. Vì vậy, Gioan chỉ biết
“Danh” đó bằng cách kinh nghiệm cái biện chứng của điều khả thể
và điều bất khả thể, của sự rõ ràng và tăm tối; cậu sẽ biết nó bằng
cách thực hiện sứ mệnh nguyện xá được trao phó cho cậu. Gioan
sẽ biết người lạ quí phái đó là ai bằng cách mang ngài trong chính
mình, nhờ vào một câu chuyện được sống như một lịch sử được
cư trú (sống) bởi ngài. Một ngày kia Cagliero sẽ làm chứng rằng
cách Don Bosco yêu mến thì “rất dịu dàng, vĩ đại, mạnh mẽ, song
hoàn toàn thiêng liêng, tinh tuyền và thật sự thanh khiết,” mạnh
mẽ đến nỗi “nó trao ban một ý tưởng hoàn hảo về tình yêu mà
Đấng Cứu thế mang đến cho trẻ em.”71 Điều này chỉ rằng “Danh”
của người đàn ông quí phái, mà khuôn mặt của ông chói ngời đến
nỗi làm cho ánh nhìn của người mơ sầm tối lại, thật sự đi vào đời
sống của Don Bosco như một ấn dấu. Ngài có experientia cordis
71 Copia Publica Transumpti Processus Ordinaria, 1146r.
81

9.4 Page 84

▲torna in alto
qua nẻo đường đức tin và là sequela Christi. Đây là cách thức duy
nhất trong đó câu hỏi trong giấc mơ có thể được trả lời.
3.3.4. Sự trung gian hiền mẫu
Khi không vững chắc về Đấng sai cậu, điểm mạnh mẽ duy
nhất mà Gioan có thể nắm bắt trong giấc mơ là sự qui chiếu tới
một người mẹ, thực vậy, tới hai người mẹ: người mẹ của người
đàn ông quí phái và mẹ của cậu. Thực thế, câu trả lời cho những
câu hỏi của cậu, vang vọng như thế này: Ta là con của người đàn
bà mà mẹ con đã dạy con phải chào ba lần một ngày” và rồi “hãy
hỏi mẹ ta tên ta là gì.”
Việc định vị của sự minh định hóa khả thể là Đức Maria và
hiền mẫu hẳn nhiên là một yếu tố đáng suy tư. Maria là đấng nơi
mẹ, nhân loại đạt đến sự liên lạc (trao đổi) cao nhất với ánh sáng
vốn đến từ Thiên Chúa; mẹ là thụ tạo mà qua ngài Thiên Chúa đã
trao ban Lời thành nhục thể cho thế giới. Cũng thật ý nghĩa rằng
khi thức dậy khỏi giấc mơ, người hiểu đúng nhất ý nghĩa và viễn
cảnh của giấc mơ là mẹ của Gioan, Mẹ Magarita. Trên những bình
diện khác nhau, nhưng một cách loại suy, Mẹ của Chúa và mẹ của
Gioan biểu thị khuôn mặt nữ giới của Giáo Hội vốn cho thấy mình
có khả năng về trực giác thiêng liêng và là cung lòng trong đó
những sứ mệnh lớn lao hiện hữu và được sinh ra.
Vì thế, không ngạc nhiên rằng hai bà mẹ giống nhau, và
chính ở điểm trả lời câu hỏi mà người mơ trình bày, nghĩa là, căn
tính của Đấng trao cho Gioan sứ mệnh đời sống ngài. Những cử
chỉ chung của cầu nguyện, lời chào chúc của thiên thần vốn
thường ba lần một ngày trong mọi gia đình, đột nhiên hiện ra họ
là gì: một cuộc đối thoại với Mầu nhiệm. Gioan khám phá rằng ở
trường của mẹ mình, cậu đã thiết lập một mối tương quan với
người Phụ Nữ cao sang vốn có thể giải thích mọi sự cho cậu. Vì
vậy, đã có một loại hành xử nữ giới vốn nối kết sự xa cách rõ ràng
giữa “một đứa trẻ nghèo nàn, dốt nát” và con người “ăn vận sang
quí.” Sự trung gian nữ giới Maria và hiền mẫu sẽ đồng hành với
82

9.5 Page 85

▲torna in alto
Gioan suốt cuộc đời và sẽ làm chín muồi trong cậu như một dự
thế đặc biệt để tôn kính Đức Nữ Trinh dưới tước hiệu Phù hộ các
Giáo hữu, và trở thành vị tông đồ của mẹ cho các con cái của mẹ
và cho toàn Giáo Hội.
Sự trợ giúp đầu tiên mà Đức Mẹ ban cho cậu là điều mà một
đứa trẻ tự nhiên cần đến: một bà giáo. Điều bà phải dạy cậu là một
kỷ luật vốn sẽ làm cho cậu nên thật sự khôn ngoan, một điều mà
không có nó “mọi sự khôn ngoan chỉ là ngu dốt.” Chính kỷ luật
đức tin, vốn hệ tại ở việc ca ngợi Thiên Chúa và trong sự vâng
phục, ngay cả khi đối diện với điều không thể được và tăm tối.
Đức Maria trình bày điều này như sự diễn đạt cao nhất của tự do
và như nguồn giàu có nhất của sự phong phú thiêng liêng và giáo
dục. Thực thế, mang trong mình tính bất khả thể của Thiên Chúa
và bước đi trong bóng tối của đức tin là nghệ thuật trong đó Đức
Nữ Trinh vượt trên mọi thụ tạo khác.
Đức Maria dùng kinh nghiệm này như một loại huấn luyện
thực tiễn trong peregrinatio fidei của ngài, mà thường xuyên được
tính tăm tối và hiểu lầm (không hiểu) ghi dấu. Ta chỉ cần nghĩ đến
giai thoại tìm gặp lại Đức Giêsu 12 tuổi trong đền thờ (Lc 2,41-
50). Trước câu người mẹ hỏi: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ
như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm
con!” Đức Giêsu trả lời một cách gây ngạc nhiên: “Sao cha mẹ lại
tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con
sao?” Và thánh sử ghi nhận: “Nhưng ông bà không hiểu lời Người
vừa nói.” Thậm chí ít cái nhiên hơn nữa rằng Đức Maria hiểu khi
tư cách làm mẹ của ngài, vốn đã được loan báo long trọng từ trên
cao, được trương rộng lớn lao để trở thành một gia sản chung của
cộng đoàn môn đệ: “Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng
ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12,50). Và
rồi ở chân thập giá, lúc khắp mặt đất trở nên tối sầm, câu “Này tôi
đây” mà ngài đã tuyên bố vào lúc đầu tiên của ơn gọi ngài, mặc lấy
hình thức từ bỏ cực độ, nghĩa là, tách khỏi con mình mà thế vào
83

9.6 Page 86

▲torna in alto
chỗ của con, bà nhận lấy những đứa con tội lỗi vì họ bà đã để một
lưỡi gươm xuyên thấu trái tim bà.
Khi bà quí phái của giấc mơ bắt đầu thực thi trách vụ của
mình là bà giáo và đặt tay trên đầu Gioan, và rồi nói với cậu: “vào
đúng lúc con sẽ hiểu mọi sự”, bà kéo ra những lời này từ chiều sâu
thiêng liêng của đức tin vốn làm ngài trở thành mẹ của mọi môn
đệ ở dưới chân thập giá. Gioan sẽ phải ở lại dưới sự kỷ luật của bà
suốt cuộc đời còn lại: như một người trẻ, như một chủng sinh,
như một linh mục. Một cách đặc biệt cậu phải ở lại đó khi sứ mệnh
của ngài mặc lấy những chiều kích mà vào thời gian của giấc mơ
ngài không hề có thể tưởng tượng, khi, nghĩa là, ngài trở thành vị
sáng lập của các gia đình tu sĩ, trong lòng Giáo hội, được đặt định
để làm việc cho giới trẻ thuộc mọi lục địa. Chỉ như một linh mục,
Gioan hiểu ý nghĩa sâu xa nhất của cử chỉ mà với nó người đàn
ông quí phái đã cho cậu người mẹ của ngài như một “bà giáo” của
cậu.
Khi một người trẻ đi vào một gia đình tu sĩ, người đó tìm
thấy một vị tập sư mà họ được trao phó cho ngài và người đó sẽ
dẫn họ tới tinh thần của Tu hội và giúp họ lãnh hội (hấp thụ) nó.
Khi xảy ra với một vị Sáng lập, mà phải nhận từ Thánh Thần ánh
sáng đoàn sủng nguyên thủy, Chúa sắp đặt chính Mẹ ngài, Nữ
Trinh của lễ Ngũ Tuần, và Khuôn mẫu Vô nhiễm của Giáo Hội,
hành xử như Bà giáo của ngài. Một mình mẹ, người “đầy ơn phúc”
mới hiểu mọi đoàn sủng từ bên trong, như một người biết mọi
ngôn ngữ và nói với từng người như thể nó là của chính mình.
Thực thế, người nữ trong giấc mơ biết cách nào để chỉ ra
những sự giàu có của đoàn sủng Nguyện xá một cách chi tiết và
thích hợp. Ngài không thêm gì vào lời của Con mình, nhưng soi
sáng chúng với quang cảnh của đám thú hoang vốn trở thành
những con chiên hiền lành và chỉ tới những phẩm tính mà Gioan
sẽ phải triển khai để thi hành sứ vụ, nghĩa là trở nên “khiêm
nhường, mạnh mẽ và nhiệt tâm”. Ba tính từ này, vốn miêu tả sức
mạnh của tinh thần (khiêm nhường), của tính tình (sức mạnh) và
84

9.7 Page 87

▲torna in alto
của thân xác (năng lượng), có một thực tế lớn lao. Đây là những
lời khuyên được ban cho một tập sinh trẻ vốn đã có một kinh
nghiệm dài về công cuộc nguyện xá và biết “cánh đồng” mà cậu
phải “làm việc” trong đó đòi hỏi điều gì. Truyền thống thiêng liêng
Salêdiêng cẩn thận canh giữ những lời của giấc mơ này vốn qui
chiếu tới Đức Maria. Hiến luật Salêdiêng rõ ràng qui chiếu đến
điều này khi nói: “Đức Trinh nữ Maria tỏ cho Don Bosco cánh
đồng lao nhọc của ngài giữa thanh thiếu niên,”72 và gợi nhắc rằng
“dưới sự hướng dẫn của Đức Maria là bà giáo của mình, Don
Bosco sống với giới trẻ của nguyện xá đầu tiên một kinh nghiệm
thiêng liêng và giáo dục mà ngài gọi là Hệ thống Dự phòng.”73
Don Bosco nhận biết Đức Maria đóng một vai trò quyết
định trong hệ thống giáo dục của mình, và nhìn thấy nơi tư cách
là mẹ của ngài sự khởi hứng rõ ràng nhất về “dự phòng” (prevent)
có nghĩa là gì. Sự kiện là Đức Maria can thiệp vào thời khắc đầu
tiên của ơn gọi mang tính đoàn sủng của ngài và ngài đóng một
vai trò trung tâm trong giấc mơ này, sẽ mãi mãi làm cho Don
Bosco hiểu rằng Đức Mẹ thuộc về cội rễ của đoàn sủng; nếu vai
trò khởi hứng của mẹ không thuộc về nguồn cội đoàn sủng, nếu
ta không nhìn nhận vai trò khởi hứng của mẹ thì đoàn sủng ấy
không được hiểu trong tính chân chính của nó. Được ban cho
Gioan như bà giáo trong giấc mơ này, mẹ cũng phải được ban cho
tất cả những ai chia sẻ ơn gọi và sứ mệnh của ngài. Như các đấng
kế vị của Don Bosco không bao giờ mỏi mệt để xác quyết “ta
không thể giải thích ơn gọi Salêdiêng hoặc trong lúc khai sinh
hoặc trong khi phát triển liên tục mà không có Mẹ Maria liên lỷ
hướng dẫn.”74
72 C 70.
73 C 20.
74 E. Viganò, “Mary renews the Salesian Family of Don Bosco”, AGC 289 (1978) 1-
35, 28. Đối với một sự tiếp nhận có phê bình về lòng sùng kính Đức Maria trong lịch
sử của HL Salêdiêng, xem. A. van Luyn, “Maria nel carisma della ‘Società di San
Francesco di Sales’,” trong AA.VV., La Madonna nella “Regola” della Famiglia
Salesiana (LAS, Roma 1987) 15-87.
85

9.8 Page 88

▲torna in alto
3.3.5. Sức mạnh của sự dịu hiền
“Con sẽ phải chiến thắng các bạn của con không phải bằng
những cú đánh nhưng bằng sự hiền dịu và yêu thương”: Hẳn
nhiên, những lời này của người lạ quí phái là những lời nổi tiếng
nhất trong giấc mơ chín tuổi này của Don Bosco; một cách nào đó,
những lời này tóm kết sứ điệp và giãi bày sự khởi hứng của nó.
Đó cũng là những lời đầu tiên mà người đàn ông quí phái nói cho
Gioan; chúng làm ngưng đọng mọi nỗ lực bạo lực của cậu hòng
chấm dứt bất trật tự và chửi thề mà các thiếu niên đã dấn vào.
Chúng không chỉ là một công thức giãi bày một câu nói khôn
ngoan có giá trị mãi mãi, nhưng là lời khuyên vốn loại biệt hóa
chính cách thức mà trong đó Gioan phải thực thi mệnh lệnh ấy
(“Ông bảo cha đứng đầu những trẻ này và thêm những lời này”);
như đã ghi nhận, nhờ những lời này, chuyển động có ý hướng tính
nơi ý thức của Gioan đã được tập hướng lại. Sức nóng và đam mê
đằng sau việc sử dụng nắm đấm phải trở thành động lực tình yêu,
và năng lực gây chia rẽ của sự can thiệp đàn áp phải nhường chỗ
cho sự dịu hiền.
Hạn từ “mansuetudine” [mà trở thành “sự dịu hiền” hơn là
sự “hiền lành” trong tiếng Anh] ở đây có sức nặng quan trọng,
cách riêng khi chúng ta nhớ rằng vào cuối giấc mơ này, tính từ
tương ứng được sử dùng để miêu tả những con chiên tung tăng
quanh Đức Chúa và Mẹ Maria. Điều này gợi ý tới câu mà có lẽ là
một nhận xét rất có lý: Đối với những thiếu niên mà nguyên thủy
là những thú hoang dữ tợn, để trở thành những con chiên “hiền
lành”, trước hết nhà giáo dục của chúng phải trở nên dịu hiền. Dẫu
từ những điểm khác nhau, cả hai bên đều phải trải nghiệm một
sự biến đổi thật sự hầu đi vào quĩ đạo mang tính Kitô học là sự
dịu hiền và tình yêu. Thật dễ hiểu sự thay đổi này đòi hỏi gì đối
với một nhóm những trẻ cãi nhau và cục cằn. Còn đối với một nhà
giáo dục nó có lẽ ít hiển nhiên hơn. Thực thế, đối với nhà giáo dục
mà đã ôm ấp những giá trị tốt lành, tích cực, trật tự và kỷ luật, thì
ta đòi họ sự thay đổi nào?
86

9.9 Page 89

▲torna in alto
Đây là một điều gì đó vốn sẽ có một ấn tượng dứt khoát trên
cuộc đời Don Bosco, trước tiên ở trên bình diện thực hành cách
ngài hành động và, tới một mức nào đó, cũng ở trên bình diện suy
tư lý thuyết. Nó sẽ dẫn Don Bosco tới tuyệt đối loại trừ một hệ
thống giáo dục dựa trên cưỡng bức và hình phạt, và thực sự xác
tín chọn một phương pháp hoàn toàn dựa trên tình yêu mà Don
Bosco sẽ gọi là “Hệ thống Dự phòng”. Tách khỏi những hàm ý sư
phạm khác nhau vốn rút từ chọn lựa này, thì ở đây nêu bật chiều
kích thần học và thiêng liêng nằm dưới định hướng này quả thật
thú vị. Những lời của giấc mơ một cách nào đó là cội nguồn và sự
kích hoạt cho điều này.
Bằng cách đặt mình về phía điều tốt và “luật lệ”, những nhà
giáo dục có thể bị cám dỗ là đóng khung cách thức họ hoạt động
với giới trẻ theo một cách thức đến nỗi qua luật lệ, trật tự và kỷ
luật cốt yếu được thiết lập. Nhưng luật lệ chứa đựng một sự hàm
hồ bên trong nó vốn làm cho luật lệ thành không đủ để hướng dẫn
một người tới tự do; và điều này, không phải chỉ bởi vì những giới
hạn mà mọi luật lệ của con người chứa đựng bên trong nó, nhưng
cũng bởi vì một giới hạn mà rốt cục thuộc về trật tự thần học.
Toàn thể suy tư của Phaolô về lề luật là một sự suy niệm lớn lao
về chân lý này, vì Phaolô đã học từ kinh nghiệm cá nhân của mình
rằng lề luật không ngăn cản ông khỏi là “kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo
và ngạo ngược” (1 Tm 1,13). Kinh thánh dạy rằng cùng một lề luật
được Thiên Chúa ban thì không đủ để cứu độ con người, nếu
không có một nguyên lý hữu vị khác để nhập hiệp và nội tâm hóa
nó trong cõi lòng con người. Paul Beauchamp tóm kết đẹp đẽ
năng động lực này khi ông nói: “Lề luật được đi trước bởi một
điều là ‘bạn được yêu” và được theo sau bởi một điều là “bạn phải
yêu”: “Bạn được yêu” là nền tảng của Lề luật, còn “bạn phải yêu” là
sự chu toàn của Lề luật.”75
75 P. Beauchamp, La legge di Dio (Piemme, Casale Monferrato 2000) 116.
87

9.10 Page 90

▲torna in alto
Không có nền tảng và sự hoàn thành này, Lề luật mang nơi
mình những dấu chỉ của một bạo lực vốn mặc khải nó không có
khả năng để sinh ra điều tốt mà nó đòi buộc người ta hoàn thành.
Trở về lại quang cảnh của giấc mơ, cú đấm cái tát mà Gioan dùng
nhân danh một điều răn thánh thiêng của Thiên Chúa là cấm
phạm thượng [thề thốt, như người Anh nói], mặc khải tính không
thích đáng và hàm hồ của bất kỳ sức thúc đẩy luân lý hóa nào mà
không được nhập thể một cách nội tâm từ bên trên.
Vì vậy, đối với Gioan và đối với những ai sẽ học “lối thiêng
dự phòng” từ ngài, nhất thiết phải ôm ấp một luận lý giáo dục
chưa có tiền lệ vốn đi vượt quá chế độ của lề luật. Luận lý này
được nên khả thể chỉ nhờ Thần khí của Đấng Phục sinh, được đổ
vào lòng chúng ta. Thực thế, chỉ Thánh Thần mới cho phép chúng
ta chuyển từ một sự công bằng hình thức và bên ngoài (nó là sự
công bằng cổ điển của “kỷ luật” và “hành xử tốt” hay sự công bằng
tân thời của “những thủ tục” (tiến trình) và “những mục tiêu đạt
được”) tới một sự thánh thiện nội tâm chân thật vốn làm tốt bởi
vì nó hấp dẫn tận bên trong. Don Bosco sẽ cho thấy rằng ngài có
ý thức này khi rõ ràng công bố trong điều ngài viết về Hệ thống
Dự phòng, là hệ thống hoàn toàn dựa trên lời của thánh Phaolô:
“Charitas benigna est, patiens est; omnia suffert, omnia sperat,
omnia sustinet.”
Chỉ đức ái đối thần, vốn làm chúng ta nên những người
thông phần vào sự sống của Thiên Chúa, mới có thể in dấu trên
công cuộc giáo dục cái tính chất vốn đồng nhất hóa cái phẩm chất
Tin mừng độc đáo của nó. Không phải vô lý mà Tân ước định vị
những nét đặc trưng của “sự khôn ngoan đến từ trên” trong sự
hiền dịu: Sự khôn ngoan “Chúa ban làm cho con người trở nên
trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy
từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng
giả hình” (Gc 3,17). Chính vì thế, đối với những người thực hành
nó cuối cùng gặt hái “mùa công chính” (Gc 3,18), khi hoàn thành
công cuộc hòa bình. Như thế, “sự hiền dịu”, hay trong hạn từ
88

10 Pages 91-100

▲torna in alto

10.1 Page 91

▲torna in alto
Salêdiêng “lòng mến thương”, vốn đặc trưng hóa sự khôn ngoan
là chính dấu chỉ xác định một cõi lòng đã trải qua một sự biến đổi
chân thật của sự phục sinh, và để mình bị tước mất mọi hình thức
bạo lực.
Sức mạnh của mệnh lệnh đầu tiên này, mà có lẽ chúng ta đã
đồng hóa quá nhiều như một chỉ thị, phản ánh những lời Tin
mừng rất mạnh mẽ: “Vì tôi bảo anh em, đừng chống cự người ác.”
(Mt 5,39) hay “hãy xỏ gươm vào bao” (Mt 26,52; x. Ga 18,11). Nó
qui chiếu tới một trong những phẩm tính mới mẻ của biến cố Đức
Kitô, mà vì điều đó tính tuyệt đối của lời tuyên bố chân thật chỉ
được diễn đạt trong hình thức của agapè, nghĩa là, của sự dâng
hiến chính mình vì sự sống của người khác. Khởi đi với những lời
khai mở của giấc mơ, chúng ta thấy mình ở tận chính tâm điểm
của mặc khải Kitô hữu, ở đó nó là một câu hỏi về “diện mạo chân
chính của Thiên Chúa” và sự hoán cải nó kéo theo. “Phong thái”
giáo dục Kitô hữu, khả năng của nó để sinh ra những thực hành
và thái độ được đâm rễ chân thật trong biến cố Kitô học, xác đáng
tùy thuộc vào sự tương ứng với “khuôn mặt của Thiên Chúa.”
Ngôn ngữ tôn giáo mà thôi không thể tôn vinh ngài. Câu
chuyện Đức Giêsu rõ ràng cho thấy rằng ngay cả trong ngôn ngữ
đó, với những mật mã (codes) và những nghi thức và những thể
chế của nó, một cái gì có thể bám rễ vốn không đến từ Thiên Chúa
song trái lại kình chống và đối nghịch ngài. Biến cố Kitô học làm
nổ tung những đối nghịch này trong sự thực hành điều linh thánh
như con cái Ađam chuyển giao nó cho con cái mình, khi thích ứng
nó vào những tiêu chuẩn của nó về sự công bằng và gia phạt; sẵn
sàng, nhân danh Luật, ném đá cô gái ngoại tình và đóng đinh Đấng
Thánh của Thiên Chúa!
Đối diện với cách hiểu tôn giáo một cách méo mó này, Đức
Giêsu đến khai mào Vương quốc khác mà ngài là Chúa của nó, và
luận lý của nó được mặc khải bởi việc ngài tiến vào Giêsusalêm
như đấng thiên sai. Bằng cách đi vào Thành Thánh trên lưng con
lừa con, Đức Giêsu trình bày mình là đấng thiên sai vốn không
89

10.2 Page 92

▲torna in alto
chiến thắng dân chúng bằng khí giới và quân đội, nhưng chỉ qua
sức mạnh dịu dàng của chân lý và tình yêu mà thôi. Sự dâng hiến
đời mình, mà ngài sẽ mang nó đến hoàn thành trong thành của
David, là con đường độc nhất mà qua đó vương quốc Thiên Chúa
có thể đến trong thế giới. Sự dịu hiền của ngài như một Con Chiên
Vượt Qua là sức mạnh độc nhất mà với nó Chúa Cha muốn chiếm
được lòng của chúng ta.
“Con sẽ phải chiến thắng các bạn của con không phải bằng
những cú đánh nhưng bằng dịu hiền và tình yêu.” Đọc những lời
này trên bối cảnh của mặc khải tin mừng có nghĩa là nhận biết
rằng qua chúng Gioan được ban cho một hướng đi nội tâm mà
nguồn mạch độc nhất của nó là ở nơi Thánh Tâm Đức Kitô.76
“Không phải bằng cái tát song bằng sự dịu hiền” là sự chuyển dịch
có tính giáo dục của chính phong thái ‘rất hữu vị” của Đức Giêsu.
Dĩ nhiên, “việc chiếm” được những người trẻ bằng cách này
là một trách vụ rất đòi hỏi. Nó hàm ẩn không đầu hàng trước sự
lạnh lùng của một giáo dục chỉ dựa trên luật lệ, hay trước sự tốt
lành rõ ràng của một đề xướng vốn từ chối cáo giác “sự xấu xa của
tội lỗi” và trình bày “giá trị của nhân đức.” Khi thiết lập điều tốt
bằng cách đơn giản tỏ cho thấy sức mạnh của chân lý và tình yêu,
được làm chứng qua sự tận hiến “đến hơi thở cuối cùng”, là hình
ảnh về một phương pháp giáo dục mà đồng thời là một linh đạo
chân thật và thích hợp.
Chẳng chút ngạc nhiên rằng Gioan trong giấc mơ đó cưỡng
lại việc đi vào trong tính năng động này và đòi phải hiểu biết hơn
về căn tính của Người đòi hỏi điều ấy. Nhưng khi cậu đã hiểu tính
năng động này, trước hết, bằng việc chuyển sứ điệp này vào
Nguyện xá như một thể chế và rồi bằng việc thiết lập một gia đình
tu sĩ, ngài đi tới tin rằng việc kể lại giấc mơ mà trong đó ngài học
76 Vì lẽ này, HL 11 nói rằng “tinh thần Salêdiêng tìm thấy mẫu mực và nguồn mạch
của mình nơi Thánh Tâm Chúa Kitô, vị Tông đồ của Chúa Cha”, khi biệt hoá rằng
nó được mặc khải trong thái độ của “vị mục tử nhân lành chinh phục cõi lòng bằng
sự dịu hiền và tự hiến.”
90

10.3 Page 93

▲torna in alto
được bài học này sẽ là con đường (cách thức) đẹp nhất để chia sẻ
với con cái mình ý nghĩa chân chính nhất của kinh nghiệm của
ngài. Chính Thiên Chúa đã luôn hướng đạo chúng ta, chính ngài đã
khởi sự bước chuyển động đầu tiên của điều mà sẽ trở thành đoàn
sủng Salêdiêng.
91