S%C3%81CH DON RUA G%E1%BB%ACI IN


S%C3%81CH DON RUA G%E1%BB%ACI IN

1 Pages 1-10

▲torna in alto

1.1 Page 1

▲torna in alto
FRANCIS DESRAMAUT
CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA
Đ ẤNG KẾ VỊ Đ ẦU TIÊN
CỦA DON BOSCO
(1837-1910)
Biên soạn do Aldo Giraudo
Dịch giả: Nguyễn Văn Am, SDB
LAS – ROM
Tựa đề nguyên thủy: Vie de Don Michel Rua premier successeur de Don
Bosco (1837-1910) - © LAS, Rome, 2009.
Chuyển dịch từ tiếng Pháp và Ý do một nhóm gồm Julian Fox, Robert
Coupe, Mary Treacy, Francois Dufour
Duyệt lại toàn diện do Aldo Giraudo dựa trên những nguồn liệu trong
công hàm.

1.2 Page 2

▲torna in alto
Đôi dòng GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
Tôi đã được đào luyện và làm việc nhiều năm tại Cộng thể Don
Rua, Đà-lạt. Nơi đây, theo ý của cha Giám đốc Lu-y Massimino, các
Salêdiêng tìm cách để học hỏi Don Rua: Trở nên như một Don Bosco
tại nơi mình sống. Đó là chương trình của sự trung thành sáng tạo
mà cha Rua hằng theo đuổi. Như Don Bosco, cha Rua đã một lòng
một trí cho Thiên Chúa, cho các hội viên, cho các thanh thiếu niên
nghèo và bị bỏ rơi dưới nhiều hình thức.
Với tất cả giới hạn của mình, tôi muốn tiến bước theo chương trình
sống đó. Dĩ nhiên tôi còn rất nhiều, rất nhiều thiếu sót, lầm lỗi, tội
lỗi…. không kể xiết được. Nhưng tạ ơn Chúa, Thiên Chúa vẫn luôn
ở đằng trước tôi, Ngài vực chân tôi trỗi dậy để mời gọi tôi đứng dậy
và đi tiếp.
Một hôm tôi bắt gặp cuốn sách Cuộc Đời Cha Micae Rua của cha
Phanxicô Desramaut. Tôi đọc và rồi đọc nhiều lần nữa và cố gắng để
chuyển dịch ra tiếng Việt để có thể giới thiệu với mọi người một môn
đệ của Đức Giêsu khi bước theo Don Bosco: rất trung thành song
cũng rất sáng tạo.
Với tác phẩm này, cha Desramaut sử dụng phương pháp phê bình
các nguồn liệu để cho ta một diện mạo sống động, rất lịch sử của
một con người, cha Rua, Đấng kế vị thứ nhất của Don Bosco. Cuốn
sách dựa vào những nguồn liệu giá trị, từ chính những lời và hành
sử cha Rua cũng như từ những người sống với ngài. Cuốn sách sẽ cho
ta thấy rõ diện mạo này của cha Rua. Ngài không lặp lại Don Bosco,
nhưng ngài hấp thụ linh đạo giáo dục và mục vụ của Don Bosco giữa
các thanh thiếu niên nghèo để biến thành của mình đến nỗi như một
« LUẬT SỐNG », tước hiệu vinh quang của cha Rua. Linh đạo giáo
dục và tông đồ ấy kín múc tận nguồn Đức Giêsu và được cô đọng
trong những lời của Don Bosco đã nhận được và chuyển giao lại cho
cha Rua: CON HÃY LÀM CHO MÌNH ĐƯỢC YÊU THƯƠNG. Suốt cuộc
đời, cha Rua đã bước theo con đường ấy để tạo thành một dòng
sông đầy những xác tín trong hành động : không phải bằng những

1.3 Page 3

▲torna in alto
cú đấm cú đá, nhưng bằng lòng thương mến, con sẽ làm nên những
phép lạ là sự biến đổi tâm hồn của những kẻ thiếu niên nghèo khổ
và bị bỏ rơi.
Cuốn sách này rất hay và có giá trị khảo sát vững chắc. Nó cho ta
thấy diện mạo vừa rất khác Don Bosco vừa rất ‘giống’ Don Bosco.
Luận đề của cuốn sách, theo tôi, được bày ra với những điểm chính
này. (1) Dựa trên lịch sử cuộc đời của cha Rua, ta bắt gặp con đường
biến đổi của cha Rua từ một người rất xa với thanh thiếu niên nghèo
trở thành người sống và chết giữa những em nghèo nhất với lòng
mến thương không bị khuất phục ; ngài bộc lộ một sự phấn đấu vượt
bực để đi ngược lại với thiên hướng kỷ luật nghiêm khắc hầu đạt
được (2) một sự hiền dịu khôn tả song vững chắc với các hội viên và
mọi người để cùng nhau đi tới sự thánh thiện Salêdiêng. Hẳn nhiên,
ngài không bao giờ có thể ‘tự nhiên’ như Don Bosco, nhưng không
vì thế mà ngài không thể là ‘người cha thứ hai’ của Gia đình
Salêdiêng. Ngài cho thấy thế nào là (3) khoa tu đức của làm việc và
tiết độ Salêdiêng. Ngài tìm cách cho thấy rằng người Salêdiêng bất
kể ở địa vị, hình thức sống nào cũng được gọi (4) trở thành người hộ
trực, người sống giữa thanh thiếu niên với nhiệt tình loan báo Tin
mừng, khi thúc đẩy mọi người xa khỏi cơn cám dỗ an nhàn dưới
chiêu bài ‘việc hộ trực là việc của thời tập vụ’. Cha Rua cho thấy thế
nào là (5) đời sống cộng thể Salêdiêng, trong đó vai trò của Giám
đốc như người sinh động và cai quản. Ngài trình bày ý tưởng của
Don Bosco (6) về cai quản dưới diện ‘một gia đình quanh một người
cha’, chứ không phải là của một người độc tài và chuyên chế. Điều
ấy được tỏ lộ trong nỗ lực của cha Giám đốc dành trọn vẹn đời sống
và thời giờ của mình cho những người thuộc quyền với sự quan tâm
hiền phụ. Nhưng có lẽ hơn tất cả những gì mang tính tổ chức, cha
Rua cho thấy (7) một đời sống cầu nguyện Salêdiêng ra sao : đơn
giản nhưng đầy cam kết. Những giờ cầu nguyện là những giờ của
Thiên Chúa và không có bất kỳ điều gì có thể quan trọng hơn và có
thể quấy phá. Đó cũng là (8) một đời sống nghèo khó, thanh khiết
và vâng phục, nhất là trong những giờ phút thử thách. Không hề có
một đời sống nghèo khó, thanh khiết, vâng phục Salêdiêng dễ dàng.
“Nhất thiết phải đi đau khổ để bước vào vinh quang”, đó là điều Don

1.4 Page 4

▲torna in alto
Bosco đã in khắc vào cha Rua trong những thời khắc lịch sử của đời
ngài : tuyên khấn, thụ phong phó tế và linh mục. Như vậy, linh đạo
Salêdiêng được cha Rua sống và truyền lại hoàn toàn là của Don
Bosco song cũng rất là Rua vậy. Đó là (9) một linh đạo của ơn thống
nhất mà sau này sẽ được truyền thống Salêdiêng triển khai với những
hoa trái phong phú.
Đó chỉ là một vài gợi ý của tôi khi đọc và tìm cách hấp thụ tác
phẩm này cho chính mình. Độc giả có thể trải nghiệm những góc
cạnh khác và rất có thể còn phong phú hơn nữa. Nhưng điều tôi có
thể đảm bảo : cuốn sách này sẽ cho ta một trải nghiệm ít là dưới
phương diện học thuật những nét rất đẹp và cuốn hút của linh đạo
Salêdiêng của Don Bosco. Giờ đây tôi trao tác phẩm vào tay độc giả
để được Thiên Chúa tác động đến cõi lòng xuyên qua vị chứng nhân
trung thành của ngài, cha Rua. Dẫu vậy, tôi cũng không thể không
nói lên điều này. Cho dù tôi đã hết sức kiểm tra bản dịch tới lui nhiều
lần, thì vẫn còn đó những thiếu sót. Vậy nếu độc giả thấy những sai
sót ấy, xin vui lòng cho tôi biết. Tôi xin hết lòng cám ơn để khi tái
bản, tôi có thể hiệu đính tốt đẹp hơn.
Nhân đây, tôi không thể không tri ân những người đã giúp tôi
hoàn thành cuốn sách này. Xin miễn cho tôi được nêu tên những
người đó. Nhưng chắc một điều là có nhiều người cộng tác để làm
cho cuốn sách này được tốt đẹp nhất. Xin chân thành cám ơn mọi
người, và tôi biết chắc rằng Đấng đã khởi sự những điều tốt đẹp nơi
những cộng tác viên đó sẽ đưa tất cả đến hoàn tất tốt đẹp cho vinh
quang của Ngài.
Sau cùng, tôi hy vọng bất kỳ độc giả nào cũng có thể rút được
những bài học quí giá cho đời sống thiêng liêng và mục vụ của mình
giữa giới trẻ nghèo và người bình dân, như cha Micae Rua đã sống.
Thân ái,
Lm. Giuse Nguyễn Văn Am, sdb

1.5 Page 5

▲torna in alto
DẪN NHẬP
***
Kỷ niệm 100 năm ngày Á thánh Micae Rua qua đời cho chúng ta
cơ hội đánh giá cuộc đời Đấng kế vị đầu tiên của Don Bosco. Gia
đình Salêdiêng mắc nợ ngài nhiều. Gia đình đó sẽ ra sao nếu không
có Micae Rua?
Trong quá khứ, những người khác đã viết về cuộc đời Don Micae
Rua cách tường tận. Chẳng mấy chốc sau khi ngài chết, cha Gioan
Tẩy giả Francesia (1838-1930), bạn thân của ngài, xuất bản một cuốn
sách 220 trang tựa đề Cha Micae Rua, Đấng kế vị thứ nhất của Don
Bosco [D. Michele Rua, primo successore di Don Bosco] (Torino, 1911);
nhưng cuốn sách đó có hạn chế là vì sự nhiệt tâm quá độ của tác giả.
Sau này, khi khởi sự tiến trình phong Chân phước và tuyên thánh cho
cha Rua, con số chứng từ về những nhân đức của ngài đã liên tục gia
tăng.
Do vậy, khoảng đầu thập niên 1930, Angelo Amadei (1868-
1945), nhà biên soạn Tập san Salêdiêng [Bollettino Salesiano], đã dễ
dàng tiếp cận với Công hàm Trung ương của Tu hội, và thu thập
được rất rất nhiều tài liệu; từ đó ngài viết một tác phẩm gồm ba bộ
sách, tổng cộng là 2388 trang, Đầy tớ Chúa Micae Rua [Il Servo di Dio
Michele Rua] (Torino, 1931-1934). Amadei đã tiếp cận được những
thông tin đáng tin cậy. Chẳng hạn, ngài đã nhờ vào những ký sự địa
phương của các Nữ tu Salêdiêng. Nhưng vì muốn không bỏ qua điều
gì, nên ngài thu gom thành đống những chứng từ và sự kiện; ngài
sử dụng một tiêu chuẩn hoàn toàn mang tính ký sự để nối kết chúng,
năm này qua năm khác; ngài không quan tâm đến việc cấu trúc
chúng thành một trình thuật chân thực và thích đáng. Điều ngoại lệ
duy nhất cho lối tiến hành của ngài là vẽ lên một diện mạo luân lý
chi tiết và thú vị về cha Rua vào những năm 1898 đến 1899. Phần
còn lại, cuốn sách dường như được trộn chung thành mớ “hầm bà
lằng”: “một tiệm tạp hóa, một mớ hỗn độn” như một ngày kia cha
Ceria nói cho tôi, khi ngài đang nói về bộ sách 10 cuốn Hồi Sử
[Memorie biografiche]; tác phẩm này do cùng một tác giả và được viết

1.6 Page 6

▲torna in alto
theo cùng những tiêu chuẩn. Ngoài ra, Amadei không định rõ những
nguồn thông tin; ngài hoàn toàn lơ đi hệ thống quy chiếu. Vậy, đang
khi bộ sách đáng là một tiểu sử, thì ta nên thận trọng sử dụng cuốn
tiểu sử ấy. Chúng ta có thể thêm rằng vì muốn có được sự chính xác,
các hội viên đã xin ngài tập san của công trình đó, dưới tựa đề: Don
Rua, một Don Bosco khác [Un altro Don Bosco, Don Rua] (Torino, 1934,
703 trang).
Augustinô Auffray (1881-1955) là một trong những đồng sự của
ngài vào thời đó; ngài là một biên tập viên của tập san Salêdiêng
[Bulletin Salésien] ấn bản tiếng Pháp ở Torino. Ngài rất thận trọng để
không rơi vào cùng những hạn chế văn chương đó, và thâu gom một
tiểu sử chân thật về Don Rua: Một vị thánh được một vị thánh khác đào
tạo. Cha Rua, Đấng Kế vị đầu tiên của Don Bosco, [Un saint formé par un
autre saint. Le premier successeur de Don Bosco, Don Rua] (Paris-Lyon,
1932, 412 trang); tác phẩm này được dịch sang tiếng Ý ngay. Auffray
dựng lên câu chuyện của mình cách thông minh; ngài chia tác phẩm
thành 49 chương, có cấu trúc mạch lạc với văn phong tao nhã. Ngày
nay, một độc giả có tính phê bình có thể xem nhẹ những hình ảnh
và những cuộc chạy trốn tưởng tượng ở trong đó; dù sao, cuốn sách
ấy là cuốn tiểu sử đầu tiên có thể giới thiệu được về cha Rua, tạo
hứng thú để đọc và có cơ sở đầy đủ (dù ngài cũng quên quy chiếu
những nguồn liệu).
Một tác giả khác, lần này là một người Ý, Eugene Ceria (1870-
1957); ngài được phương pháp và văn phong của Auffray khởi hứng,
đang khi thu thập cuốn sách cuối cùng trong bộ Hồi sử [Memorie
biografiche] của Don Bosco; sau thế chiến II, Ceria xuất bản cuốn Cuộc
đời của Đầy tớ Chúa, Don Michele Rua, Đấng kế vị đầu tiên của Thánh
Gioan Bosco [Vita del Servo di Dio, don Michele Rua, Primo successore di
san John Bosco] (Torino, 1949, 600 trang). Sách đó được dẫn chứng
bằng những tài liệu vững vàng, sắp đặt gọn gàng, văn phong khá
hay. Ngài còn được thêm lợi điểm là cá nhân ngài đã gặp gỡ và biết
trực tiếp Cha Rua. 46 chương sách đó tuyệt hơn khi so sánh với sách
của Amadei. Ngài giữ lại tối thiểu những ghi chú, điều ấy tạo ra một
giới hạn nghiêm túc nào đó cho các học giả. Nhưng có lẽ ngài nghĩ
rằng mình hợp pháp phân phát khi có được thông tin trực tiếp. Cuốn

1.7 Page 7

▲torna in alto
Tiểu sử cha Rua do ngài viết vẫn được xem là một tiểu sử có phẩm
chất tuyệt hảo.
Chúng ta đã có thể tái xuất bản và dịch tác phẩm của cha Ceria để
kỷ niệm 100 năm. Tuy nhiên, tôi tin rằng không cuốn tiểu sử nào là
tuyệt đối mãi mãi. Tài liệu làm bằng chứng (documentation) hiện
hành phải được giải thích lại bởi vì những câu hỏi được những người
khảo cứu nêu lên. Những tài liệu mới và bị lãng quên luôn được xem
lại, như chúng ta thấy trong DVD Những tài liệu về cha Rua [Documenti
di don Rua], được chuẩn bị trong năm 2010 và được Ủy ban Nghiên
cứu Lịch sử về cha Rua năm 2010 biên soạn [Committee for Historical
Studies of Don Rua 2010]; chúng ta cần khai thác chúng cách hệ thống
hơn. Nhưng nhiều lá thư và tài liệu về cha Rua trong các Công hàm
tỉnh dòng Salêdiêng ở nhiều nơi trên thế giới vẫn còn hoàn toàn
không được biết đến. Hiểu biết thần học mà cha Ceria quy chiếu vẫn
còn bất toàn. Chúng ta chưa nghiên cứu ngài giảng dạy ra sao. Chúng
ta biết rằng ngài rất chú tâm dõi theo các vị truyền giáo đến châu
Mỹ: sự chú tâm thường xuyên này mặc lấy hình dáng nào? Tới mức
nào ngài cổ võ “tính chất/truyền thống Ý” được ghi dấu suốt thời ngài
là Bề Trên Cả? Đào luyện Salêdiêng đạt đến mức nào suốt thời ngài
làm Bề Trên Cả? Ngoài ra, những câu hỏi nghiêm chỉnh nào liên
quan đến Giám đốc-cha Giải tội cũng như sự tách biệt pháp lý giữa
Tu hội Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu vẫn cần được
học hỏi. Những điều này đáng được phân tích chính xác hơn, tôi
gắng sức làm ở đây.
Vì thế tóm lại, cuốn sách này không nhắm bàn đến đề tài theo bất
kỳ cách thức mới mẻ triệt để nào. Thực vậy, tôi thường nhìn nhận tôi
mắc nợ những tác phẩm trước kia, cách riêng của cha Ceria, không
chỉ đối với cuộc đời cha Rua, nhưng còn cuốn Sử biên niên của Tu hội
Salêdiêng, [Annali della Società Salesiana]. Tôi cũng thú nhận rằng tôi
không thể lợi dụng những tài liệu trực tiếp (nguyên nguồn) đã dẫn
tôi phải thay đổi câu chuyện ở một vài điểm, điều ấy thật tiếc thay.
Điều tôi gắng làm là cung cấp một việc đọc lại khá tự do những bằng
chứng trích dẫn được tìm thấy trong Bối cảnh Don Rua [Fondo Don
Rua] tại Công hàm Trung ương Salêdiêng ở Rôma, luôn có sẵn đấy
dưới dạng phim cho những nhà khảo cứu. Cách riêng, tôi không thể

1.8 Page 8

▲torna in alto
hưởng lợi từ khảo cứu vẫn đang tiến hành vào đầu dịp kỷ niệm năm
2010. Tôi hy vọng rằng một ai đó có thể sớm lấp chỗ trống này.
Toulon, 31 tháng Giêng, 2009.
ABBREVIATIONS
Amadei
A. Amadei, Il Servo di Dio Michele Rua, 3 Vols.,
Torino, SEI, 1931-1934.
Annali
E. Ceria, Annali della Società Salesiana, Torino,
SEI, 1941-1951.
ASC
Archivio Salesiano Centrale - Rome (Salesian
Central Archives, Rome)
Auffray
A. Auffray, Le premier successeur de Don Bosco,
Don Rua (1837-1910), Lyon-Paris, Vitte, 1932.
Ceria, Vita
E. Ceria, Vita del Servo di Dio Don Michele Rua,
Torino, SEI, 1949.
Documents
G. B. Lemoyne, Documenti per scrivere la storia di
D. John Bosco, dell’Oratorio di s. Francesco di Sales
e della Congregaz. Salesiana, 45 volumes, in ASC
A050-A094 (FdB 966A8-1201A9).
Don Bosco en son temps F. Desramaut, Don Bosco en son temps
(1815-1888), Torino, SEI, 1996.
Epistolario
John Bosco, Epistolario, ed. Francis Motto, vols.
1-4, Rome, LAS, 1991-2003.
Epistolario Ceria
Epistolario di S. John Bosco, ed. Fr. Eugene Ceria,
4 vols., Torino, SEI, 1955-1959.

1.9 Page 9

▲torna in alto
FdB
FdR
Francesia
L.C.
MB
Positio 1935
Positio 1947
RSS
ASC, Fondo Don Bosco. Microfilm and
description, Rome, 1980.
ASC, Fondo Don Rua. Microfilm and description,
Rome, 1996.
D. Michele Rua, primo successore di Don Bosco.
Memorie del Sac. G. B. Francesia, Torino, Office
of “Letture cattoliche”, 1911.
Lettere circolari di Don Michele Rua ai Salesiani,
Torino, S.A.I.D. Buona Stampa, 1910.
G. B. Lemoyne, A. Amadei, E. Ceria, Memorie
biografiche di Don John Bosco, 19 Vols., San
Benigno Canavese and Torino, 1898-1948.
Sacra Rituum Congregatione. Taurinen.
Beatificationis ac Canonizationis Servi Dei Sac.
Michaelis Rua. Positio super introductione Causae,
Rome, Guerra et Belli, 1935.
Sacra Rituum Congregatione. Taurinen.
Beatificationis et Canonizationis Servi Dei Michaelis
Rua. Positio super virtutibus, Romae, Guerra e
Belli, 1947.
Ricerche Storiche Salesiane, Rome, LAS.

1.10 Page 10

▲torna in alto
10 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
1
Tuổi thơ của Micae Rua
Thành phố Torino trong thập niên 1830-1840
Khác hẳn với Gioan Bosco, một thiếu niên miền thôn dã, chỉ khám
phá ra thành phố Torino lúc bước sang tuổi 15 khi đến Chieri để học
tập, thì Micae Rua lại sinh ra tại đó, thủ phủ của Vương quốc
Sardinia; và Micae Rua đã sống tại đó trong suốt quãng đời còn lại
của mình. Rua là một người luôn sống trong thành phố, một trẻ thơ
của thành phố đó, vào thời kỳ tiền kỹ nghệ chỉ chầm chậm tiến tới
thoát khỏi một quá khứ mà nó vẫn còn nhìn lại với vẻ tự hào, sang
một thời kỳ tự do hơn của nền quân chủ lập hiến.
Vào thập niên 1830 Torino có chừng 100.000 cư dân; đó là vùng
đất nổi tiếng ở Âu châu.1 Người ta đã khen ngợi “những ngôi nhà
trật tự, đường phố rộng rãi, gọn gàng, nước uống tiện nghi, mà họ
gọi là Dora; Torino có đường đi thoải mái, an ninh tuyệt vời, dân cư
tử tế hiền lành, bảo tàng viện nổi tiếng, những quán cà phê rực rỡ
và nhiều điều đẹp đẽ khác... Ở đây có... những mái vòm đẹp đẽ và
tiện nghi cho mọi nhu cầu”.2 Phẩm giá này của Torino đến từ hoàn
cảnh chính trị của nó. Ngay sau khi hiệp nhất với Liguria, Torino
bước vào thời Phục Hưng tiếp sau thời kỳ Napoléon, trở thành thủ
phủ quan trọng nhất trong Nhà Nước Ý thời đó, nếu không phải vì
độ lớn, thì ít nhất vì tổ chức và sức mạnh kinh tế của nó. Việc làm
trong những xưởng đạn cho quân đội và tất cả những kỹ nghệ mới,
cách riêng là những xưởng dệt, thu hút nhiều người từ các tỉnh khác
1 Ở đây tôi rút từ các dữ liệu trong cuốn sách Don Bosco en son temps của tôi,
Torino, Società Editrice Internazionale, 1996, 132-140.
2 Lá thư của Pier Francesco Cometti viết cho vị Đại diện của Thành phố đó,
10/5/1840, được Umberto Levra trích dẫn, L’altro volto di Torino risorgimentale,
1814-1848, Torino, Comitato di Torino dell’Istituto per la Storia del Risorgimento
Italiano, 1989, 162.

2 Pages 11-20

▲torna in alto

2.1 Page 11

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 11
tới. Ở Borgo Dora các nhà máy mọc lên mang đến công ăn việc làm
cho vài trăm nhân công, với những ống khói làm ô nhiễm không khí.
Torino vẫn còn tồn tại chế độ phản kháng thời Phục Hưng. Vua
có quyền tuyệt đối. Các Bộ trưởng chỉ chịu trách nhiệm trước nhà vua
mà thôi. Năm 1821, sau vài ngày nhiễu loạn, hệ thống này dường
như có một thời dao động khi hiến pháp sắp được công bố, nhưng
ngay lập tức nó được phục hồi do vua Charles Felix. Ông đặc biệt
quan tâm đến giáo dục giới trẻ, như chúng ta thấy Quy luật cho các
trường ngoài Đại học [Regulation for schools outside of University], được
công bố năm 1822. Trong những giấy phép hoàng cung giới thiệu
nó, người ta đọc thấy rằng nhất thiết phải khôi phục trật tự trong
nền giáo dục công cộng tại Vương quốc. Những trật tự Vương quốc
cũ đã bị đảo lộn do cuộc cách mạng và do việc đưa vào những trật
tự mới, vốn nay lại bị lỗi thời do “kỷ nguyên hạnh phúc của tháng
Năm năm 1814”. Đức Vua muốn mang đến một nền giáo dục luân
lý và khoa học cho giới trẻ trong những trường thành phố, trường
công và trường thuộc nhà Vua trong Vương quốc. Việc tổ chức lại
những môn học cổ điển, nhờ đó “những đề tài của các bậc tiền bối
thuộc hoàng tộc chúng ta được danh tiếng, vì văn hóa của họ cũng
như họ không kém khôn ngoan”, xem ra là cách thích hợp nhất để
đào tạo giới trẻ theo những đường nét tương tự với tổ tiên vốn “coi
việc học hành, ngai vàng và Thiên Chúa là một chân lý không thể
tách rời”.3 Họ thâm tín rằng tôn giáo, nền quân chủ, và học tập mới
góp phần uốn nắn tâm trí và cõi lòng của người trẻ trong thời Phục
Hưng. Không may, chỉ những gia đình tốt số mới có thể tiếp cận
được nền giáo dục đó ở Torino mà thôi.
Thực vậy, thành phố lớn này không chỉ lộ ra khía cạnh trật tự và
dân sự mà thôi. Ở đó, người nghèo đông vô kể; họ thường không
nhà không cửa. Vào năm 1845 chúng ta thấy ghi chép: “Từ các thống
kê do những hội bác ái thực hiện, chúng ta thấy rằng trong số
125.000 dân cư tại Torino, có tới 30.000 người nghèo”. Người ăn
3 Royal licences with which His Majesty approved the Regulations for Schools be they
municipal or public or royal. Đề ngày 23 tháng Bảy, 1822, Torino, Royal Press, 1822,
3-4.

2.2 Page 12

▲torna in alto
12 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
xin đi thành từng đoàn và quấy rối người qua lại. “Chúng tôi bị
những kẻ ăn xin vây quanh, quấn lấy mỗi ngày, con số của họ đông
đến nỗi ngay cả giả thiết rằng tất cả họ đều nghèo thật chứ không
giả vờ, người ta cũng không thể có cách thế hay thời giờ dừng lại để
giao tiếp với tất cả và giúp đỡ họ được. Vì vậy chúng tôi buộc phải
tiếp tục thẳng tiến, không màng đến nước mắt hay những lời gây
mủi lòng của họ mà ít ra theo lý thuyết, là người và nhất là một Kitô
hữu thì không bao giờ được làm ngơ”.4 Những người ăn xin ngập
đầy đường phố và ngõ hẻm quanh thành phố đó. Bạn tìm thấy họ
dưới những mái vòm, tại các cửa nhà thờ và gần những tiệm cà phê
đắt tiền; như một người dân phàn nàn, nơi đây họ không ngừng gây
phiền hà những người qua lại khi xin xỏ dai như đỉa vậy.5
Một số người nghèo của Torino sống ở những khu ngoại ô phát
triển mau lẹ của Borgo Dora, San Donato và Vanchiglia. Nhưng
nhóm đáng hổ thẹn nhất sống quanh vùng ven của Vanchiglia, trong
khu vực được biết đến là Moschino. Ở đó bạn tìm thấy những người
đánh cá, những kẻ chèo thuyền và thành phần khốn cùng nhất trong
dân nghèo của thành phố Torino. Một người đương thời viết: “Không
thể diễn đạt sự kinh tởm mà bạn cảm nhận, khi bạn đi quanh những
ngõ hẻm dơ dáy, tách ra khỏi khu vực thương mại, ngu dốt về mọi
thứ vệ sinh, hoặc đang khi kêu to bổn phận của ta như một bác sĩ,
hoặc để thu gom các thống kê, và tôi muốn nói, những rác rưởi nhân
sinh đang đứng như một lời tố cáo rằng con người thật bất công khi
thấy một số người sở hữu quá nhiều, đang khi những người khác
chẳng có lấy ngay cả một cục đất, không khí hay mặt trời.”6 Đối với
những người trung lưu Torino, Moschino là một sưu tập của tầng lớp
hạ lưu bết nhất, một hang ổ của những băng đảng, coca, đáng sợ;
nguy hiểm ngày và đêm thậm chí cảnh sát cũng không thể đến gần.
4 [L. Francesetti di Mezzenile], Memorie sulla necessità di avvisare ai mezzi onde
isbandire la mendicità, Torino, Tip. Chirio and Mina, 1829, 3 (bản văn được trích
trong Levra, L’altro volto, 80).
5 Levra. L’altro volto, 81.
6 Bài tường trình của Gioacchino Valerio, được trích dẫn trong Levra, L’altro volto,
165.

2.3 Page 13

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 13
Những hoàn cảnh sống nghiệt ngã này gây ra sự mất trật tự tương
ứng về luân lý. Ở Torino số sinh bất hợp pháp cũng như số trẻ em tử
vong là rất cao, một phần tư. Đang khi trong thập niên 1830-1840,
tỷ lệ là 1/12 tại Genoa, thành phố lớn thứ hai của Nhà Nước, 1/13
trong những thành phố khác và 1/40 trong toàn thể Vương quốc.
Giống như trong các tiểu thuyết ở Pháp vào thời đó, người nghèo
tìm thấy thoải mái bằng cách trú ẩn trong những nhà trọ có tiếng
xấu, cổng vào của chúng thường ở dưới mặt đường, như một văn sĩ
tả thực thời đó cho thấy: “Kẻ lạ mở cửa kính và thấy mình trong một
phòng lớn khá dài hơn là rộng, những bức tường đen kịt vì khói, nền
nhà lót ván đầy những bùn là bùn, bê bết đây đó vì các khách hàng
dẫm lên, và trong một làn khí hôi hám đầy những khói là khói giống
y như một màn sương mù dầy đặc bên ngoài vào tối mùa đông.”7
Tại thành phố lớn này đang trải qua tiến trình kỹ nghệ hóa, những
trẻ nghèo bị ‘phạt’ bất công cách đặc biệt. Năm 1840, một công dân
phàn nàn với vị Đại Diện của thành phố: “ở mọi ngõ ngách, trên mọi
giao lộ trong những mái vòm, bạn bị vây chặt do một đám trẻ đánh
giầy, giành giật để bắt bất kỳ ai phải dừng lại, và tiếp tục đeo bám
họ một khi họ đi qua, réo chửi họ cách láo xược, ngay cả đã xa cả
chục bước.”8 Các xưởng thợ làm hủy hoại những kẻ bé nhỏ. Cùng
năm đó một nhà báo đã lên tiếng cảnh báo tai họa này: “Bất kỳ ai
đặt chân vào một xưởng và nhất là trong một xưởng sản xuất lụa, họ
sẽ rất ngạc nhiên cách đáng buồn vì nhìn thấy một đám trẻ lúc nhúc,
văng tục chửi thề luôn miệng, bộ dạng tiều tuỵ, rách rưới và cáu
ghét. Chúng đánh nhau, ăn cắp của nhau những vật chẳng đáng gì
để rồi dần dần lao vào tội ác; họ sẽ bị kinh hãi khi nghĩ về tương lai
u ám đang chờ sẵn những mái đầu xanh, những trẻ mà chỉ cần ta
chăm sóc một chút thôi đã đủ để chúng có được lối cư xử lịch thiệp,
vẻ phong nhã và đức hạnh của tuổi thơ (bởi ngay cả tuổi thơ cũng
7 Vittorio Bersezio, La plebe. Romanzo sociale, part I, Torino, C. Favale and Co, 1867, 3.
8 Lá thư của Pier Francesco Cometti gởi cho vị Đại diện, 7 tháng 12, 1840, được
trích trong Levra, L’altro volto, 86.

2.4 Page 14

▲torna in alto
14 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
có đức hạnh của nó).9 Những trẻ em này sống trên đường phố và
người ta xót xa vì những việc xấu xa chúng đã làm tại Torino: “Một
trong nhiều tai ương gặm nhấm xã hội chính là đầy rẫy những kẻ
móc túi, chúng có mặt không chỉ ở trên đường phố, các quảng trường
nhưng còn lan rộng cả trong các cung điện và nhà thờ. Và cho dù
những người có thẩm quyền và cảnh sát quan tâm cách đặc biệt thì
tình trạng này vẫn không giảm bớt. Không một ngày nào trôi qua
mà không có những lời phàn nàn về nạn trộm cắp thuốc lá, đồng
hồ, túi xách, khăn tay, là những thứ cần đến bàn tay nhanh nhẹn để
thực hiện”.10 Thực vậy, Torino đẹp đẽ đã bày ra một mặt trái tệ hại
của nó.
May thay, Torino cũng có một truyền thống rất vững chãi về đức
bác ái. Torino có nhiều công cuộc bác ái: Bệnh viện, phòng khám,
ký túc xá, cô nhi viện, nhà trọ hay “nhà nương náu” – tức là môi
trường được thiết kế để bảo vệ ai đó khỏi nguy hiểm. Một Mái ấm
cho người nghèo được khai trương vào ngày 10 tháng Sáu năm 1837,
thêm vào số những cơ quan bác ái kiểu cổ điển. Công cuộc này dành
cho cả nam lẫn nữ, không phân biệt tuổi tác, từ thành phố và vùng
đó. Bất kỳ ai ở đó đều nhận được một khẩu phần thường nhật là 18
ounce (# 1 ounce 28.35g) bánh và hai tô súp. Khi cần cho sức khỏe,
họ cũng sẽ được cung cấp chút rượu và phần ăn tốt hơn. Họ mặc
đồng phục và ngủ trong những nhà ngủ lớn tách riêng. Nếu chấp
nhận làm việc, họ được quyền hưởng nửa số tiền công. Ngay từ đầu,
số người thường trú trong Mái ấm tăng nhanh tới 498 người. Vào
năm 1838, Nhà Nghỉ của Đức Hạnh được đặt tên lại là Nhà thương Bác
Ái; nó được cấu trúc lại như một trường kỹ thuật dưới sự tài trợ bác
ái tư và công. Trong công cuộc ấy, những người tập nghề có cơ hội
có việc làm sau này ngay tại các xưởng thợ mà ở đó, họ đã học nghề.
9 Lorenzo Valerio, Igiene e moralità degli operai di seterie, Torino, Baglione & Co.,
1840, 20-21; được Claudio Felloni and Roberto Audisio trích dẫn, I giovani discoli,
trong Giuseppe Bracco (ed.), Torino e don Bosco, Torino, City Historical archives,
1989, vol. 1, 100.
10 ASCT, Vicariato, Atti criminali, vol. 114, biên bản ngày 5 tháng 2, 1846 (cf.
Claudio Felloni and Roberto Audisio, I giovani discoli, trong Giuseppe Bracco (ed.),
Torino e don Bosco, Torino, City Historical Archives, 1989, 102).

2.5 Page 15

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 15
Bên cạnh đó còn có những cơ sở tư nhân. Trong số những công cuộc
từ thiện loại này, có sự đóng góp bác ái của nữ Bá tước Barolo. Bà
đã thành lập một “Nhà nương náu”, cơ sở này thu nhận những phụ
nữ trước kia đã ở trong tù, cho các gái điếm hoàn lương và một đan
viện lo cho các nữ hối nhân, những người được biết đến như những
Madalena. Công cuộc bác ái này phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên,
công cuộc bác ái có tầm quan trọng nhất của dân thành Torino là
Ngôi nhà Nhỏ bé của Chúa Quan Phòng, (La Piccola Casa della Divina
Provvidenza) được kinh sĩ Giuse Cottolengo thành lập. Năm 1832,
ngài đã chuyển một nhà thương do chính ngài mở ba năm trước đó,
đến Valdocco để lo cho những người rất nghèo; chẳng bao lâu, cơ
sở này đã phát triển và bắt đầu tiếp nhận một số “gia đình” của các
trẻ mồ côi, những người tàn phế, câm-điếc, người động kinh, kẻ bị
bại não, gái điếm và cả một tiểu chủng viện. Năm 1840, tại trung
tâm của Moschino hẩm hiu, tiếp giáp với ngoại ô Vanchiglia, đã nảy
sinh một trong những cơ sở còn đáng gây chú ý hơn. Vị linh mục trẻ,
cha Cocchi, đã thành lập một trung tâm cho các trẻ em bị bỏ rơi:
“Nguyện xá” các Thiên Thần Hộ Thủ, được mô phỏng theo Nguyện
xá Rôma của Thánh Philip Nêri.
Gia đình Rua tại xưởng Forge
Suốt thời Phục hưng, quân đội được cải cách và được vũ trang
mạnh hơn nhờ một số trí thức mời gọi (Gioberti, Balbo, d’Azeglia).
Thống nhất toàn nước Ý là một giấc mơ, và Vương quốc Sardinia sẽ
động lực. Để làm điều ấy đòi phải có một Nhà nước Piedmont hùng
mạnh. Ở Borgo Dora, người ta thiết lập một nền kỹ nghệ vũ khí,
được gọi là Xưởng đúc súng thần công [The cannon Forge] Trong xưởng
có một vị tuyên úy và nhân viên quản trị; Gioan Tẩy giả Rua là nhân
viên quản trị. Ông và gia đình sống trong chính xưởng đúc vũ khí
này. Tại đây, Micae Rua được sinh ra và lớn lên.
Trái ngược với độc giả người Ý, độc giả người Pháp không đặt dấu
nhấn trên chữ a trong tên họ Ruà (Ru-a) trong những tài liệu quản trị

2.6 Page 16

▲torna in alto
16 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
từ phần I đến thế kỷ XIX.11 Có một sự trùng âm nào đó giữa từ ngữ
này và hạn từ roi trong tiếng Pháp, có nghĩa là vua. Amadei ghi chú
về nó trong cuốn tiểu sử Don Rua. Nhưng ở đây tác giả sai. Danh từ
Des Rois không thuộc gốc chữ này.12 Trong Chế độ Cổ thời ở nước
Pháp, roi (nghĩa là vua) được phát âm là roa hay thậm chí là roé,
nhưng không bao giờ là roua. Vì thế, chúng ta đừng làm vấn đề ra
phức tạp. Có lẽ hình thức tiếng pháp roua, chứ không phải roi, thì
hợp lý hơn. Nếu quả là thế, thì tổ tiên Ru-a thuộc về sắc dân nói
tiếng Pháp, họ đơn giản thường được gọi là Roua, rồi chuyển sang
tiếng Ý là Ruà. Những giả thuyết ấy có thể còn phù hợp hơn nếu
chúng ta xét đến tên Rouat hiện thời rất phổ thông ở Pháp và Canađa
vùng nói tiếng Pháp. Dù sao đi nữa, khoảng hậu bán thế kỷ 19, trong
cách dùng tiếng Ý, dấu nhấn ở cuối đã biến mất và chuyển vào
nguyên âm đầu thành nhị trùng âm. Lối phát âm trước kia nay đã
hoàn toàn bị lãng quên.
Cuộc hôn nhân thứ hai khiến cho việc trình bày về gia đình của
Micae Rua thêm chút phức tạp.13 Cha ngài, ông Gioan Tẩy giả có lẽ
sinh năm 1786, nếu chúng ta tin giấy chứng nhận hôn phối đầu tiên
nói rằng ông “khoảng 28 tuổi” (không tìm thấy những giấy chứng
rửa tội và gia đình). Gioan Tẩy giả lập gia đình lần đầu ngày 25
tháng Tư năm 1814 với Catharine Grimaldi; với bà, ông được 5 người
con,14 trong đó ba người đã chết yểu. Khoảng năm 1827, bà
Catharine qua đời lúc 31 tuổi.15 Sau đó, ông Gioan Tẩy giả cưới Joan
Mary Ferrero đã 34 tuổi, bà là mẹ của Micae Rua. Bà tận tâm chăm
11Chẳng hạn xem danh sách viết tay của Rua trong Văn khố Trung ương Salêdiêng,
FdR 2750 B10-D4.
12Amadei I, 3.
13 Trong hai phần này, tôi được khởi hứng bởi Amadei hơn kém tiến bộ và đôi khi
hoàn toàn phê bình, Amadei I, 4-5.
14 Chứng chỉ hôn phối được xuất bản trong Amadei I, 4, n. 2.
15 Đó là ngày 26 tháng Tư 1828 và ngài chỉ mới 32, theo Amadei (I, 5), nhưng
Amadei quy chiếu tới giấy chứng tử của "Ruà Teresa, của Phêrô Baratelli vẫn còn
sống, vợ của Gioanni, khoảng 32 tuổi, được ban các Bí tích, chết ở đó ngày 26
tháng Tư 1828 và được chôn táng ở đó ngày 27" (FdR 2750 C4). Vì vậy, ngài lẫn
lộn 'Catterina Grimaldi' với 'Teresa Baratelli'. Có những gia đình Rua khác ở Torino
lúc đó.

2.7 Page 17

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 17
sóc hai đứa nhỏ của cuộc hôn nhân đầu tiên, đó là Phêrô Fedele và
Gioan Tẩy giả Anthony.
Micae Rua sinh ngày 9 tháng Sáu năm 1837, được rửa tội ngày
11 tháng Sáu năm 1837, tại nhà thờ Đức Mẹ Xuống Tuyết và Thánh
Simon và Giuđa ở Torino;16 ngài là người con thứ tư và là con út của
bà Joan Mary. Những anh chị của Micae là Gioan Tẩy giả (sinh ngày
2 tháng Bảy năm 1829), Maria Felicity (sinh ngày 7 tháng Ba năm
1834) và Lu-y Tôma (sinh khoảng cuối 1834). Mary Felicity chết khi
Micae sinh ra, nên cậu sống ở nhà với hai anh cùng cha khác mẹ là
Phêrô Fedele (22 tuổi) và Gioan Tẩy giả Anthony (17t), cùng với hai
anh ruột là Gioan Tẩy giả (8t) và Lu-y Tôma (3t). Vì thế, ta có thể dễ
dàng hiểu tại sao Micae rất gần gũi với người cuối cùng này.
Micae và trường học tại Forge
Một chút lai lịch trên giúp chúng ta hiểu vì sao bà Gioan Maria
đặc biệt chăm sóc giáo dục đứa con út, quí tử của bà.
Micae học đọc, học viết, và học giáo lý của giáo phận. Những nhà
chép tiểu sử đầu tiên tiết lộ rằng cậu có một trí nhớ tuyệt vời. Những
bài học giáo lý vẫn in đậm nơi lòng trí cậu, chúng còn đọng lại nơi
cậu đến cuối đời. Trong khoảng một thế kỷ rưỡi, nhiều linh mục và
giáo dân coi rẻ loại giáo lý mang nặng chất tín lý và luân lý này một
cách bất công. Thực tế, loại giáo lý này lại là một công cụ có thể
cống hiến cho các tâm trí non trẻ như tâm trí của cậu nhỏ Rua, một
nền tảng tôn giáo vốn tốn tại suốt đời. Người ta học biết tin và suy
nghĩ về Thiên Chúa và Đức Kitô, về Thiên Chúa phán xét tội nhân, về
sự sống sau khi chết, về những nhân đức Kitô hữu chính yếu, những
giới luật của Thiên Chúa và Giáo hội, về tội lỗi và các bí tích nghĩa là
gì.17 Người Kitô hữu được đào tạo theo đường lối này sẽ không cần
tìm sự chắc chắn nào khác nữa.
Ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn những nét giáo lý chính mà gia đình
16 Trích từ Phép Rửa trong FdR 2750D12.
17 Xem cuốn sách Breve catechismo per li fanciulli che si dispongono alla confessione e
prima comunione e per tutti quelli che hanno da imparare gli elementi della dottrina
cristiana ad uso della Diocesi di Torino, Torino, Eredi Botta, 1844.

2.8 Page 18

▲torna in alto
18 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Rua đã nghiêm chỉnh nắm giữ. Những thực hành Kitô hữu hằng ngày
nhắc nhớ ngài những điểm chính yếu của Kitô giáo. Buổi sáng, gồm
có kinh Thờ lạy: “Lạy Chúa, con thờ lạy Chúa và yêu mến Chúa hết
lòng...” tiếp theo là kinh Lạy Cha, Kính Mừng, kinh Tin kính, kinh
kính Thiên Thần Hộ Thủ, rồi đọc lên những giới răn của Chúa, những
điều luật của Giáo hội, các Bí tích mà sau đó là hành vi tin, cậy, mến
và thống hối. Ban tối họ đọc kinh “Con thờ lạy Chúa”, kinh Lạy Cha,
Kính Mừng, kinh kính Thiên Thần Hộ Thủ và kinh ăn năn tội.18
Ở Piedmont, trong gia đình theo lối đạo đức cổ xưa, thì đây là
những lối thể hiện mà bất cứ ai là Ki-tô hữu đều phải thực hành.
Micae đã học biết giúp lễ và như mọi đứa trẻ, cậu lộ ra chút ít ranh
mãnh. Khi đã trở thành Bề Trên Cả, cha Rua sung sướng thú nhận
điều này. Năm 1894, ở Cavaglia, một tỉnh thuộc Piedmont gần
Biella, người ta cử hành buổi khai trương một trường học Salêdiêng.
Vị linh mục già, một nhân chứng về Đấng Sáng lập mới qua đời, đã
đón tiếp cha Rua và một nhóm khách được mời đến ăn tối nhân dịp
đó. Lúc tráng miệng, cha Rua đứng lên đề nghị nâng ly chúc mừng:
“Thưa cha, con không rõ cha còn nhớ một chú bé nghịch ngợm, hiếu
động đã từng giúp lễ cho cha khi cha là Giám đốc Nhà thờ các Dự
Tòng ở Torino, và cậu bé đó đã từng uống hết rượu lễ hay không.
Thưa cha, chú bé có bản tính nghịch ngợm được cha đối xử rất tốt,
rồi thỉnh thoảng cha còn cho ít tiền, người đó chính là con đây. Hôm
nay, ngay tại đây con chân thành xin cha tha thứ, cho dù muộn màng
đôi chút”. Người đã kể câu chuyện này, người anh của vị linh mục
đó, đã nói thêm rằng: “Bạn có thể tưởng tượng các thực khách vui
nhộn cũng như thán phục chừng nào trước sự giản dị của ngài [cha
Rua] khi ngài công khai thú nhận một điều xảy ra từ thuở thiếu thời
như thế. Còn vị linh mục già kia đã khóc như một đứa nhỏ”.19
Chẳng bao lâu Micae đã sẵn sàng lãnh nhận Bí tích Thêm Sức và
Thánh Thể. Theo sổ bộ giáo xứ của nhà thờ thánh Gioakim, ngài được
18 Những em nội trú trong các nhà Salêdiêng xưa kia quen thuộc với điều này, một
cách nào đó được làm giàu trong cuốn Companion of Youth, sách cầu nguyện được
Don Bosco xuất bản năm 1847 và rồi được tái bản nhiều lần tới 1960.
19 Giai thoại được Ceria thuật lại, Vita, 10.

2.9 Page 19

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 19
chịu phép Thêm Sức do Tổng Giám mục Lu-y Fransoni, vào ngày 25
tháng Tư năm 1845 lúc chưa được tám tuổi. Ngài cũng Rước lễ Lần
đầu cùng năm đó.20
Trong học kỳ hai năm 1845, một năm nhiều biến cố đáng nhớ đối
với ngài. Micae mồ côi cha. Ông Gioan Tẩy giả, cha của Rua, chết
“lúc khoảng 60 tuổi”. Những người anh ra ở riêng. Dù chồng chết,
bà Joan Mary và các con vẫn ở lại Forge; tại đây đứa con cả của bà
có công ăn việc làm.
Biến cố thứ hai trong năm đó có tầm quan trọng mang tính quyết
định nhất suốt một thời gian lâu dài, chính là cuộc gặp gỡ với Don
Bosco. Cha Rua đã từng làm chứng tại tiến trình phong thánh: “Tôi
biết Vị Đầy Tớ Chúa vào tháng Chín năm 1845, khi tôi được 8 tuổi”.
Lúc ấy Don Bosco đã 30 tuổi. Ngài đã là linh mục được bốn năm, và
là một trong những linh mục tuyên úy cho nhà Nương Náu của bà
Bá tước Barolo; tại đây, ngài được giao cho nhiệm vụ hướng dẫn cho
cơ sở Ospedaletto [nhà Thương] đang được xây dựng. Ngay từ thuở
niên thiếu, Don Bosco đã có khiếu hấp dẫn trẻ em và các thanh thiếu
niên, ngài diễn những trò tiêu khiển và dạy dỗ chúng. Đó là đam mê
của ngài và ngài đã rất thành công việc đó. Don Bosco đến Torino
năm 1841; chẳng bao lâu ngài bắt đầu quy tụ và tổ chức một nhóm
thiếu niên để dạy giáo lý tại nhà Nguyện nhỏ thuộc Học Viện Mục
Vụ, sát kề với nhà thờ Thánh Phanxicô Assisi, ở đó ngài tham dự
những khóa học về Tác vụ Mục vụ (giải tội, linh hướng và giảng
thuyết). Ba năm sau, ngài trở thành tuyên uý cho Nhà Nương Náu
của bà Bá Tước Barolo, các thiếu niên đến và tìm gặp ngài tận trong
phòng. Con số nhỏ nhoi ngày đầu tiên đã lớn nhanh. Hai vị tuyên
úy khác giúp đỡ ngài. Bà Bá tước Barolo cũng đã cho họ một phòng
trong khu vực Ospedaletto [nhà Thương] đã hoàn thành, căn phòng
này đã được sắp xếp làm nhà nguyện dâng kính Thánh Phanxicô
Salê. Các trẻ em cầu nguyện, ca hát và vui chơi; chúng lắng nghe
những bài học tuyệt vời và những câu chuyện rất hay. Mùa Thu năm
20 Theo lời khai của Angelo Amadei tại tiến trình thu thập thông tin cho việc phong
Á thánh của cha Rua, FdR 4350B4.

2.10 Page 20

▲torna in alto
20 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
1844, tại Nhà Nương Náu, “Nguyện xá thánh Phanxicô Salê” mang
lấy một sắc thái tương tự Nguyện xá các Thiên thần Hộ thủ của cha
Cocchi tại Vanchiglia.
Nhưng bà Bá Tước đã cảnh báo trước các cha tuyên úy về tính chất
tạm bợ của việc sắp xếp công cuộc ấy. Khi cơ sở Ospedaletto đi vào
hoạt động vào tháng Tám năm đó thì Nguyện xá Thánh Phanxicô
Salê đã phải rời bỏ ngôi nhà đó. Điều này buộc Don Bosco phải tìm
cho được một nhà nguyện và một sân chơi khác cho thanh thiếu niên
thay vì lang thang trên các đường phố chạy qua Nhà Nương Náu.
Giữa tháng Năm và tháng Sáu, họ cố gắng gầy dựng “Nguyện xá”
tại nghĩa trang “Thánh Phêrô bị xiềng xích” không còn sử dụng nữa,
ở đó cũng có một nhà nguyện. Nhưng rồi giới thẩm quyền đuổi họ
ra khỏi đó. Sau đó, Don Bosco đã trình bày thỉnh cầu lên ban quản
trị thành phố, thế là vào ngày 18 tháng Bảy năm 1845, chính quyền
thành phố cho ngài sử dụng nhà thờ tại Mulini gần sông Dora vào
chiều Chúa Nhật. Nhưng rồi Don Bosco cũng chỉ được phép sinh hoạt
tại đó cho đến tháng Mười Hai. Bởi các thiếu niên của Don Bosco lập
tức tràn về khu gần đó, việc này khiến cư dân ở đó quan tâm đến
vấn đề vệ sinh và an toàn của khu vực lân cận. Sự kiện này xảy ra
quanh vùng Borgo Dora khiến nhiều người quan tâm và chú ý đến
Don Bosco. Micae Rua biết đến hoạt động này khi Nguyện xá được
khởi đầu tại Mulini. Mẹ của Rua không cho phép con mình chung
đụng với đám trẻ bụi đời: Vì vậy, theo như chúng ta biết được, thì
chính một trong những bạn học của cậu đã nói về Don Bosco cho
cậu và rủ cậu cùng đi với mình đến Nhà Nương Náu. Và Micae Rua
lập tức bị vị linh mục hiền lành, vui tươi này thu hút.
Phong trào thống nhất Nước Ý ở Torino
Những năm tiếp theo, sau cuộc gặp gỡ giữa Micae Rua và Don
Bosco, tình hình nước Ý thật náo động. Phong trào Phục hưng tại Ý
nhắm đến cuộc thống nhất đất nước. Năm 1846, tại Rôma, Đức Giáo
hoàng "tự do" Piô IX lên kế vị Đức Grêgôriô XVI. Những người cấp
tiến muốn ngài lãnh đạo một cuộc thập tự chinh để giải phóng và
thống nhất toàn Bán đảo. Cách riêng cần phải giải phóng tiểu vương
quốc khỏi ách đô hộ của nước Áo, vốn là nỗi nhục của miền

3 Pages 21-30

▲torna in alto

3.1 Page 21

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 21
Lombardy-Venice. Ngày 4 tháng Ba năm 1848, dân Piedmont đặt ra
cho mình một luật cơ bản, bản Điều Lệ, nó bãi bỏ tính tuyệt đối của
chế độ quân chủ. Một Quốc hội được bầu chọn, tư tưởng tự do bắt
đầu triển nở trong Vương quốc Sardinia. Mọi công dân, kể cả những
người Do Thái và Valdê được tuyên bố là bình đẳng. Lòng ái quốc
làm sôi sục nhiệt huyết khắp nơi, kể cả giữa những cấp bậc giáo sĩ
thấp hơn, bắt đầu với những chủng sinh. Đức Tổng Giám mục bảo
thủ Lu-y Fransoni không hài lòng điều ấy. Ngày 23 tháng Ba, Vua
Charles Albert tuyên chiến với Áo để giải phóng Lombardi. Không
may, ông bị bại trận và phải thoái vị, nhường ngôi cho con là Vua
Emmanuel II vào ngày 23 tháng Ba năm 1849. Đang khi ấy tại Rôma,
Đức Thánh Cha Pio IX không chiều theo ý của các kẻ cấp tiến để tiến
hành cuộc thập tự chinh theo kiểu quân sự, đã buộc phải trốn chạy
và trú ẩn tại Vương quốc Naples. Nước Cộng hoà Roma được công
bố. Dưới mắt của các nhà ái quốc cực đoan, Đức Thánh Cha biến
thành biểu tượng của Chủ nghĩa bảo thủ, ngu dân, thù nghịch với
cuộc Phục hưng Nước Ý.
Chính trong bối cảnh đó, Micae Rua bắt đầu nghĩ đến đời linh
mục. Bầu khí xã hội chắc chắn không cổ võ cho ơn gọi, như Don
Bosco quen giải thích trong lời nói đầu cho một trong những bút tích
của ngài: “Năm đó (1848), một tinh thần nhẹ dạ nổi lên chống lại
những dòng tu và các tu hội giáo sĩ; và từ đó chống lại hàng giáo sĩ
cũng như bất kỳ quyền bính Giáo hội nào. Sự giận dữ và coi thường
tôn giáo khiến cho giới trẻ xa rời luân lý, lòng đạo, và vì thế, xa rời
ơn gọi đối với bậc giáo sĩ. Các tu hội bị phân tán; linh mục bị lăng
mạ, một số bị tù đày, số khác bị quản thúc tại gia: nhân loại mà nói,
làm thế nào có thể nói về ơn gọi tu sĩ đây?”21
Micae học tại trường các Sư huynh
Suốt những năm long đong và vất vả của Nguyện xá lưu động
này, Micae Rua chưa đến sinh hoạt tại Nguyện xá của Don Bosco. Từ
năm 1846, Nguyện xá ấy dứt khoát chuyển đến Valdocco, là ngôi
21 Cenno istorico sulla Congregazione di S. Francesco di Sales e relativi schiarimenti,
Rome, Poliglotta, 1874, 3.

3.2 Page 22

▲torna in alto
22 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhà Pinardi mà Don Bosco đã mua lại. Ở đó, ngôi nhà cũ được cải
tạo lại thành nhà nguyện. Mẹ của Micae Rua vẫn không cho phép.
Toàn gia đình Rua đi lễ Chúa Nhật tại nhà nguyện của Forge. Nhưng
cậu bé vẫn tiếp xúc với Don Bosco. Đôi khi cậu cùng với anh Lu-y
đến Nguyện xá thăm Don Bosco. Nhưng cách riêng tại trường, cậu
có thể gặp ngài và có lẽ cũng đã nói chuyện với ngài. Có lẽ chính
Don Bosco đã hướng dẫn cậu tới trường ở ngoại ô Santa Barbara, do
các Sư huynh lo về các Trường học Kitô hữu điều hành (từ nay trở đi
chúng ta gọi họ là các Sư huynh La Salle, vì trong tiếng Anh, đây là
hạn từ thường được dùng để chỉ họ). Thực vậy, vị linh mục tại
Valdocco tin tưởng vị Giám tỉnh của các Sư huynh đó. Năm 1845
ngài đề tặng cuốn sách đầu tiên của mình, Storia ecclesiastica (Lịch Sử
Giáo Hội) “gởi tặng sư huynh quí mến Hervé de la Croix, Giám tỉnh
của các Sư Huynh La Salle”, xin ngài chấp nhận món quà khiêm tốn
này, “tác phẩm bé mọn này... có lẽ không còn là của tôi mà là của
Sư huynh”. Nhà sử học của Hội dòng, Georges Rigault, sau khi trích
những lời này đã viết: “Gioan Bosco rất quan tâm đến khoa sư phạm
của La Salle. Bề trên Giám tỉnh đã đi trước dẫn đầu trong nghiên cứu
này. Ngài đã lợi dụng sự hiểu biết bẩm sinh của ngài về tâm trí trẻ
trong những cuộc nói chuyện thường xuyên với ngài cũng như bằng
cách đọc cuốn Cẩm nang cho trường học và Mười hai nhân đức của một
thầy giáo tốt, [School handbook và Twelve Virtues of a good teacher]”.22
Điều này rất có thể đúng.
Tháng Mười năm 1848 Micae bắt đầu đi học tại trường Santa
Barbara thuộc khu vực đó, nằm trên đường Borgo Dora, số 29, cậu
đến trường đó suốt hai năm. Nếu thông tin của chúng tôi là đúng
thì Micae Rua ghi danh ngay vào năm thứ hai của trường sơ cấp.
Chương trình giảng dạy cho biết cậu học “giáo lý, những quy tắc viết
văn, hệ thống cân đo dùng ở Piedmont, hệ thống toán thập phân
mới được thừa nhận, địa lý Á châu và Phi châu, lịch sử của các Công
tước miền Savoy, từ Amadeus VII đến Charles Emmanuel II, những
22 G. Rigault, Histoire générale de l'Institut des Frères des Ecoles Chrétiennes, Vol. VI,
Paris, Plon, 1947, 40-41.

3.3 Page 23

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 23
yếu tố của lịch sử thiên nhiên, vẽ và tập viết chữ đẹp”.23 Và những
khóa học này đã hoàn tất các kiến thức căn bản đã được học hỏi ở
những lớp sơ cấp thấp hơn.
Các Sư huynh chủ trương giáo dục ưu tiên về kiến thức. Tại trường,
Micae tinh luyện nền giáo dục nhận được ở gia đình. Các học sinh
thuộc những lớp sơ cấp được mời gọi để đọc luận đề được vị sáng
lập, Thánh Gioan Tẩy giả de La Salle viết ra về Những quy luật cư xử
tốt đẹp và giáo dục Kitô hữu [Rules of good manners and Christian
education]. Trong thời của Micae, ở mọi trường của các Sư huynh,
học sinh bị xử nghiêm khắc nếu vi phạm những luật lệ này. Các thiếu
niên phải tỏ ra có thái độ tốt đối với việc dạy dỗ về đức “nết na”.
Cuốn Quy Luật đó căn dặn: “Không gì làm cho thân xác ra duyên
dáng hơn sự ngay thẳng của những thói quen xác đáng, nhờ đó một
người trẻ tuân theo tình trạng tự nhiên của thân xác mình và sự
chuyển vận của các phần thân thể”. Rồi “người trẻ cũng thiên về
những khuyết điểm mà trong lãnh vực này chống lại đức nết na và
ngay thẳng. Cách cư xử tốt đẹp đòi ta ngẩng đầu thẳng và cao, không
cúi bên này bên kia cũng chẳng chia trí quay ngang quay ngửa”.
Như chúng ta có thể thấy từ những tiêu đề trong những chương
khác nhau, cuốn sách nhỏ về “lối cư xử tốt” đầy những chi tiết nhỏ
nhặt. Theo trật tự sau đây, những chi tiết này liên hệ đến đầu và mắt,
tóc, mặt, trán, mũi, miệng, môi, răng và lưỡi, cách nói năng và phát
biểu, ngáp, ho và khạc nhổ; làm sao giữ lưng cho thẳng, vai, cánh
tay và cùi chỏ, bàn tay, ngón tay, móng tay, đầu gối, cẳng và chân.
Những chuẩn mực liên hoàn của cách xử thế vốn phổ biến trong xã
hội Pháp rất trật tự của thế kỷ XIX, ngày nay lại bị xem là kỳ quặc và
quá đáng. Những chi tiết mà dường như bị những người sống theo
cá nhân chủ nghĩa của thời chúng ta coi là quá đáng, thì lại tỏ ra rất
kính trọng đối với chính mình và tha nhân. Nó đòi ta phải hoàn toàn
làm chủ thái độ của mình nơi công cộng. “Khi có người đang nói, trẻ
không bao giờ được hỏi xen vào, bất kể là những câu hỏi nghiêm
23 Theo A. Auffray (p. 19), ngài bàn đến một "chương trình" có lẽ được các Sư
huynh ở Torino cho ngài.

3.4 Page 24

▲torna in alto
24 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chỉnh và đúng lúc. Khi một ai hỏi điều gì, chúng phải trả lời cách
giản dị; và phải thêm vào ‘Dạ, thưa ông’ hay ‘Không phải, thưa bà’.
Ta phải cấm chúng không được nhìn chằm chằm vào những người
mà chúng đang nói chuyện, hay không được nghe lóm một người
đang nói chuyện với người khác, trong khi lại không chú ý đến điều
nói cho chúng; phải cấm các trẻ cười to hay cười khẩy khi nói; không
được nói về những điều mà chúng chỉ biết lờ mờ. Tắt một lời, chúng
cần phải thâm tín rằng phải lắng nghe, nói ít và không được nói bừa
bãi”.
Vốn bản tính kín đáo và chú tâm, Micae Rua không chút khó khăn
hấp thụ những nguyên tắc của nền giáo dục tốt lành ấy. Nhờ chúng,
như một người lớn, Micae Rua chẳng thấy khó khăn gì khi thích ứng
[những chỉ dẫn] của quy luật vào một “xã hội tốt đẹp”.
Kỷ luật trong các trường học của Sư huynh thật cứng rắn. Luận đề
Cuốn Cẩm nang cho các Trường Kitô hữu, [La guida delle delle scuole
cristiane], được dịch sang tiếng Ý ở Torino, do nhà xuất bản Pomba
Publishers năm 1834, minh họa chi tiết những quy luật đó. Các Sư
huynh được mời để đọc và đọc lại luận đề dài này. Chúng ta không
biết chúng được áp dụng chi tiết ra sao tại trường Santa Barbara, cho
dù phải công nhận rằng các sư huynh của thế kỷ XIX không xao
nhãng những truyền thống của họ. Dẫu sao, như một toàn bộ luận
đề ấy giúp chúng ta hiểu khung cảnh giáo dục chính xác mà trong
đó Micae lớn lên từ 11 đến 13 tuổi. Đây là một vài quy luật khiến ta
ngạc nhiên.
Im lặng trong trường: “Giáo viên sẽ làm tốt khi giúp học sinh
hiểu rằng chỉ có ba dịp chúng có thể nói: Khi trả bài, học giáo
lý và cầu nguyện. Giáo viên cũng sẽ giữ luật này và chỉ nói vào
ba dịp: 1) trong lúc đọc, khi cần phải sửa lỗi, nếu không có học
sinh nào có thể làm thế; 2) trong khi dạy giáo lý; 3) trong lúc
suy nghĩ và xét mình. Ngoài những trạng huống này, họ sẽ chỉ
nói khi nghĩ rằng thật cần thiết và sẽ bảo đảm rằng những tình
trạng như thế thật hiếm hoi. Khi đến lớp học sinh sẽ bỏ mũ ra
bên cạnh, khoanh tay lại, và không lết chân trên nền hay gây
ra tiếng động bằng giầy dép của mình, hầu không quấy rối sự

3.5 Page 25

▲torna in alto
Tuổi thơ của Micae Rua | 25
im lặng có được trong lớp học. Đối với giáo viên, thật dễ dàng
để thấy rằng mọi người giữ im lặng nếu họ bảo đảm rằng học
sinh luôn luôn ngồi vào chỗ của mình, ngồi thẳng, ngước phía
trước và hơi hướng về giáo viên; chúng có sách vở trong tay và
theo dõi việc đọc sách; phải luôn để ý đến tay của chúng; chúng
không được dùng tay chân đụng chạm nhau; chúng không
mượn nhau vật dụng hay liếc nhìn nhau; chân chúng phải ngay
ngắn, không chạm đến giầy dép của mình; chúng không nằm
dài trên bàn khi viết hay ở trong một tư thế bất tiện nào khác”.24
Cuốn Cẩm nang cho trường học [The School handbook] có một
chương dài về những phương pháp sửa lỗi (corrective). Và tác giả nói,
đúng là như thế. Thực vậy, “sửa lỗi học sinh là một trong những việc
quan trọng nhất của nghệ thuật dạy học; cần phải chú tâm lợi dụng
nó cách chính đáng và hiệu quả, cho cả người nhận nó lẫn người
chung quanh”.25 Hình phạt được thực thi với cây gậy hay roi da trên
bàn tay xòe ra, đánh một roi (đánh ba cái, nếu cưỡng lại, đánh năm
cái), hay bằng việc “đền tội” thông thường là viết một trang giấy hay
học thuộc lòng một bản văn. Thánh Gioan Tẩy giả de La Salle biết
rằng cần phải thương xót trẻ em, nhưng lại thêm rằng: “Nếu chúng
ta quá quan tâm đến sự mỏng dòn của con người, và thông cảm quá
mức, cho trẻ làm điều chúng muốn, chúng ta sẽ có được những em
hư hỏng, ương ngạnh, bất tuân”.26 Nhà giáo dục đặt việc học sinh
cần được diễn đạt chính mình, là điều mà ngày nay ta quan tâm rất
nhiều, xuống hàng thứ yếu. Theo ngài, lối cư xử thường hằng (thói
quen) của thầy giáo làm mọi sự nên dễ dàng: “Thầy giáo sẽ học để
rất nồng ấm và sẵn sàng, có một lối tiếp cận tử tế, ngay thẳng và cởi
mở nhưng không chấp nhận một thái độ tầm thường hoặc quá thân
mật; đối với học sinh họ nên làm mọi sự để chiếm được chúng cho
Đức Giêsu Kitô. Thày giáo phải được thuyết phục rằng trong trường,
người ta đạt được và duy trì được uy quyền nhờ cứng rắn, nghiêm
24 Jean-Baptiste de La Salle, Guida delle scuole cristiane, in Opere, Vol. III, Rôma,
Città Nuova, 2000, 137-138.
25 Guida delle scuole, 158.
26 Guida delle scuole, 271.

3.6 Page 26

▲torna in alto
26 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
khắc và im lặng hơn là với cú tát và thô bạo”.27
Căn cứ vào những tiền đề thuộc loại này, người ta có thể hiểu cảm
xúc mãnh liệt mà Don Bosco đã tạo nên khi ngài đến trường Santa
Barbara, một linh mục từng vun trồng mối tương quan thân thiện với
giới trẻ. Cha Rua làm chứng về điều này: “Tôi nhớ lại rằng khi Don
Bosco đến dâng lễ và thường giảng vào Chúa Nhật; ngay khi ngài
vào nhà nguyện, dường như một dòng điện chạy qua nhiều trẻ em.
Chúng nhảy cẫng lên, bỏ chỗ chơi và vây quanh ngài. Chúng không
chịu buông cho đến khi chúng hôn tay ngài. Don Bosco đã mất nhiều
giờ để có thể đi vào phòng áo. Suốt thời gian đó, các Sư huynh La
Salle tốt lành cũng không thể khiến cho sự bất trật tự bề ngoài đó
ngưng lại và các ngài đã để mọi sự xảy ra”.28
Tại trường của các Sư huynh, Micae tỏ ra là một học sinh sốt sắng,
nghiêm chỉnh, tận tụy và chăm chỉ: Cậu thường đạt được những
phiếu điểm “đáng khen”. Những phiếu điểm mà chúng ta có, khen
ngài “có hạnh kiểm tốt” và “sự chuyên chăm” ở lớp hai và ba “tiểu
học”.29 Cậu từng giữ kỷ niệm tốt đẹp về những ngày học hành. Các
bài học của các Sư huynh về lối cư xử có phẩm cách trong xã hội và
cuốn Guida đã từng ảnh hưởng cậu suốt đời.
27 Guida delle scuole, 280.
28 Trong Documenti per scrivere la storia di D. John Bosco, dell’Oratorio di S. Francesco
di Sales e della Congregaz. Salesiana, Vol. III, 25 (ASC, A053), ghi chú bên lề được
chép trong MB II, 316. Trong MB chứng từ sau đây miêu tả tòa giải tội của Don
Bosco bị vậy chặt, đang khi những tòa giải tội của những vị giải tội khác hoàn toàn
trống, cũng có thể là một trong những phóng đại của Lemoyne.
29 Những tường trình này được sao lại trong FdR 2665 A1-7.

3.7 Page 27

▲torna in alto
Môn đệ của Don Bosco | 27
2
Môn đệ của Don Bosco
Học La-tinh với Don Bosco
Vào đầu mùa hè năm 1859, Micae lên 13 tuổi, cậu bắt đầu theo
học các lớp La-tinh để nhận vào trường Trung học. Cậu đã làm thế
dưới sự hướng dẫn của Don Bosco. Don Bosco đã để mắt đến Rua vì
ngài muốn làm cho cậu thành một cộng sự viên tương lai trong việc
tông đồ của ngài.
Vào cuối thập niên 1840, Don Bosco bắt đầu phát triển các công
cuộc; ngài được biết đến như một cá nhân có đặc sủng. Ở Torino,
dưới mắt những người thán phục, ngài được xem như một người-
làm-phép-lạ. Năm 1849, Báo chí Công giáo bắt đầu ca ngợi ngài.
Một bài viết trong báo Conciliatore Torinese xác nhận rằng ngài có
“một năng lực kỳ diệu” trên tâm hồn giới trẻ. “Môn đệ mới của Thánh
Philip Nêri” có thể làm phép lạ.30 Hạnh thánh Salêdiêng trong thời
kỳ này nêu bật việc làm cho bánh thánh cũng như hạt dẻ ra nhiều,
và cả việc phục sinh tạm thời cho một học sinh 15 tuổi, để em có thể
xưng một tội nặng trước khi em chết thật sự. Dân chúng cả trong lẫn
ngoài Nguyện xá có khuynh hướng gán những phép lạ cho ngài,
ngay cả khi ngài chối mình đã làm những việc đó.
Cách riêng, từ nay Don Bosco cần những cộng sự viên. Bên cạnh
Nguyện xá được gọi đúng như thế, ngài đã thiết lập một trung tâm
tiếp nhận nhỏ. Các thiếu niên ngụ lại đó rồi đi làm việc hoặc đi học
trong thành phố. Các thiếu niên của ngài đã xuất thân trong chính
khung cảnh này. Don Bosco suốt ba năm đã tìm kiếm những người
sẵn sàng theo ngài. Ngài chú tâm rất nhiều đến họ, dạy dỗ và cố
30 Cf. Il Conciliatore Torinese, Saturday 7 April 1849, 2 (Bài này được Laurence
Gastaldi ký nhận). Ở đây tôi quy chiếu đến cuốn sách Don Bosco en son temps của
tôi, 281-286.

3.8 Page 28

▲torna in alto
28 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
gắng hướng dẫn họ tới những mục tiêu biệt loại của mình, là tác vụ
mục vụ đối với các thiếu niên nghèo và bị bỏ rơi. Nhưng xảy ra nhiều
điều khiến Don Bosco phải thất vọng. Những thành viên mới, kẻ này
tiếp sau người nọ, đều bỏ ngài mà đi, cho dù đó là những người
ngài đã từng kỳ vọng.
Chính thời điểm đó Micae Rua đến Nguyện xá. Vào kỳ hè năm
1850, cậu bắt đầu các lớp La-tinh cùng với hai người trẻ khác. Giáo
sư của họ là Felix Reviglia. Đây chỉ là một trong những người bạn
của họ nhưng học hành tấn tới hơn. Sau hai tuần, Don Bosco đánh
giá sự tiến bộ của họ. Nhà viết tiểu sử đầu tiên Francesia ghi rõ:
Micae thật “lơ đãng”. Nhận định này làm cho những ai biết ngài đều
kinh ngạc. Xét cho cùng, thật dễ hiểu. Trong trường của các Sư
huynh, Micae Rua đã quen với việc giảng dạy có phương pháp, được
tổ chức hoàn hảo, với những lớp học lớp lang, thế nên cậu không
thể không cảm thấy bị mất phương hướng do việc học với một người
bạn dù đầy thiện chí nhưng không phải là chuyên viên truyền đạt.
Tuy nhiên, ngay khi cậu biết Don Bosco không hài lòng về điều đó,
Rua liền xắn tay áo lên, như nhà tiểu sử cho biết, và chẳng mấy chốc,
với nỗ lực cậu đã vượt qua hai bạn kia.31
Don Bosco từng bước dẫn Micae Rua vào đời sống mà ngài muốn
cho cậu, trong đó, cầu nguyện và vui tươi chiếm vai trò trung tâm.
Micae bắt đầu giai đoạn mới này bằng việc tham gia cuộc tĩnh tâm
dành cho các thiếu niên Nguyện xá được tổ chức vào cuối tháng Chín
năm 1850, tại tiểu chủng viện ở Giaveno. Don Bosco đem khoảng
100 thanh thiếu niên tới đó, kết hợp với hơn 20 thiếu niên từ làng
này. Cuộc tĩnh tâm theo kiểu mẫu linh thao của Thánh Ignatio mà
Don Bosco đã biết rõ, song được đơn giản hóa. Nguyện ngắm ban
sáng được cha phó xứ Innocent Arduino từ Giaveno giúp, còn cha
Felix Giorda lo những bài huấn đức ban sáng và ban chiều. Những
bài giảng, cầu nguyện, sách thiêng, làm đầy ngày sinh hoạt của
những người tham dự. Robert Murialdo, Giám đốc Nguyện xá các
Thiên thần Hộ thủ, đến giải tội. Vào thời đó, người ta không thể nghĩ
31 Francesia, 18-19.

3.9 Page 29

▲torna in alto
Môn đệ của Don Bosco | 29
tới cuộc tĩnh tâm nào mà không có việc sám hối và xưng tội.32
Những người tham dự tĩnh tâm hồi tâm rất chân thành. Các vị
giảng phòng thực thi trách vụ của mình tốt đẹp. Ngày 12 tháng Chín,
Don Bosco mãn nguyện khi thấy không một thiếu niên nào trong
ngày đó tham dự cuộc giải trí đã được hoạch định vào giữa 4 và 5
giờ chiều. Tất cả đều thích ở lại trong “phòng suy niệm”.33 Micae
thường thích nói đến cách thức mình đã học từ Don Bosco nhân dịp
đó, về “việc Dọn mình Chết lành” cũng như tầm quan trọng khi
thường xuyên và cặn kẽ thực hành việc đó.
Một vài ngày sau, nhà giáo dục thánh thiện Don Bosco đã mời
một nhóm nhỏ gồm những thiếu niên tốt nhất của Nguyện xá đến
Becchi dã ngoại một tuần, giữa chúng là thiếu niên Rua. Don Bosco
rất yêu thích sườn đồi nhỏ nhắn, phủ đầy những giàn nho và đây đó
các cây ăn trái trong các cánh đồng, cũng như các cây cổ thụ toả
bóng râm dọc theo các sườn đồi. Quang cảnh này đưa ngài về lại
những kỷ niệm thời niên thiếu. Một nhà nguyện nhỏ xinh được dâng
kính Đức Mẹ Mân Côi đứng tách rời với sườn đồi của nhà anh Giuse,
cho phép ngài cử hành Thánh Lễ ở đó. Trong những cuộc dã ngoại
quanh khu vực ấy, các nông dân cho các em nho và trái cây. Micae
Rua thường quen với đời sống đơn điệu và đóng kín của thành phố,
giờ đây vui chơi thoả thích trong không khí trong lành mát mẻ của
miền quê. Sau cuộc đi dạo cậu cảm thấy sảng khoái và yêu mến
người cha thiêng liêng của mình hơn nữa.
Những lớp trung học
Rồi Micae vào trung học. Thời đó các lớp trung học được gọi là
“văn phạm” gồm ba năm. Theo Francesia, vào những ngày lễ cuối
năm 1850, “Don Bosco muốn các học sinh của mình học đều đặn;
ngài bày tỏ ước muốn này cho một linh mục tốt lành đang giúp
Nguyện xá cũng như chính ngài đang điều hành một trường tư dạy
32 Những dấu liên quan đến những cuộc tĩnh tâm được Don Bosco tổ chức trong
P. Stella, Don Bosco nella storia della religiosità cattolica, Vol. II: Mentalità religiosa e
spiritualità, Zürich, Pas-Verlag, 1969, 336-337.
33 Thư của G. Bosco gởi cho G. Borel, Giaveno, 12 tháng Chín, 1850, in Epistolario
I, 111-112.

3.10 Page 30

▲torna in alto
30 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
La-tinh. Đó là cha Phêrô Merla từ Rivara. Ngài rất nhiệt tình giúp cho
các học sinh sắc sảo trong học hành. Don Bosco trao phó học sinh
của mình cho ngài, và các em đã có thể hoàn tất tốt đẹp hai khóa
La-tinh đầu tiên với ngài”.34
Đầu niên khóa năm 1851-1852, Micae Rua bắt đầu theo học với
Giuse Charles Bonzanino, ở đường Guardinfanti, 19. Sau một tháng,
vào tháng Mười năm 1851, cậu đạt được điểm “xuất sắc” về La-tinh,
và được phép đi tiếp năm thứ ba của các lớp văn phạm. Trường của
Bonzanino không giống chút nào với trường của các Sư huynh,
nhưng ít nhất Micae Rua không phí giờ. Được nắm rõ thông tin cộng
với một trí tưởng phong phú, Augustinô Affray cho ta một bản miêu
tả sinh động về vị thầy đó:
“Cha Bonzanino rất độc đáo. Dạy học như nằm trong máu ngài;
ngài dành trọn xác hồn để dạy học. Chất lượng giảng dạy giải
thích ngài thành công vững chắc: Rõ ràng, có phương pháp,
thực tiễn. Tự bản năng, kinh nghiệm lâu dài của ngài làm ngài
quy chiếu tới những yếu tố cốt thiết; ngài chỉ giải đáp các vấn
đề bằng những nguyên tắc; ngài biết cách phà nhiệt tình cùng
sự thông minh vào trong lớp học hơi nghiêm khắc của mình...
Cha Bonzanino sống gần nhà thờ thánh Phanxicô Assisi, trong
cùng một nhà với Silvio Pellico, người đã viết cuốn Nhà tù của
tôi, Le mie prigioni sau khi ra khỏi tù. Mỗi sáng, dưới mái vòm
của tòa nhà ấy, các nhóm thiếu niên đổ về, cách riêng những
lớp cao hơn; các em tách thành ba khóa học La-tinh và Hy lạp.
Cha Bonzanino dạy cả ba lớp chung với nhau. Một số em học
bài, đang khi một số khác nghe giảng bài và ngược lại. Cùng
buổi sáng nếu thích, bạn có thể tham dự một lớp giải thích về
Cornelius Nepote, Xêda hay Sallust, Phaidros, Ovid hay Virgil.
Chẳng có tường, thể lý hay luân lý, để chia các lớp học. Thầy
giáo chỉ yêu cầu hai điều: chú ý cũng như làm bài đầy đủ và
học các bài mà chúng phải học. Còn mọi sự khác các em được
hoàn toàn tự do. Phương pháp này mang lợi ích cho học sinh
tốt. Các em mà có vài lỗ hổng trong việc học hành có thể lấp
34 Francesia, 20.

4 Pages 31-40

▲torna in alto

4.1 Page 31

▲torna in alto
Môn đệ của Don Bosco | 31
đầy, bằng cách dự thêm một khóa căn bản hơn. Những em có
tinh thần can đảm cùng với những khả năng tri thức, có thể
tiếp tục tham dự lớp cao hơn. Cha Bonzanino có những học sinh
bắt đầu với lớp năm trong tháng Mười, tiếp tục đi lên lớp bốn
vào mùa Phục sinh và khi hết năm học, đã lên lớp ba. Sáng thứ
bẩy, học sinh được dành toàn bộ thời gian để làm lại bài luận
được đề ra cho tuần đó. Tất cả những điều này bày ra một
quang cảnh hiếu học: Các học sinh học 'gạo' vội vã hoàn thành
những trách vụ trong khóa học của mình, điều ấy cho họ sự xa
xỉ là mở rộng hơn sự cấu thành lớp cao hơn. Thiếu niên Micae
Rua hưởng lợi rất nhiều từ bầu khí kích thích này. Một trong
những bạn của cậu là Francesia – một Salêdiêng giầu tưởng
tượng mà tôi cho rằng là nguồn chính của thông tin này – đã
nói rằng Micae Rua khi học lớp thứ ba trung học, đã lấy khóa
học tiếp theo sau hai khóa trước để có thể kiện cường kiến thức
của mình về các cổ ngữ”.35
Micae Rua tỏa sáng trong học tập. Theo cha Francesia, một nhân
chứng sắc sảo, dù một số học sinh cùng lớp rất thông minh vây quanh
thì chẳng mấy chốc Rua chiếm chỗ nhất tại đó.36
Cũng chính cha Francesia đã nói về một trò nghịch ngợm, mà
trong đó, Micae là nạn nhân vô tội. Thời đó, tại Piedmont, vào thứ
Năm tuần III mùa Chay người ta có tục lệ tổ chức một trò tinh quái
là chuyển tới cho một kẻ không may nào đó một câu nói tục; không
biết bị gài bẫy, nạn nhân chắc chắn sẽ bị mắc lừa. Năm 1852, những
học sinh của Bonzanino quyết định gởi một câu nói tục cho thầy giáo.
Micae Rua vốn đã nghi ngờ mưu mẹo đó, cậu tìm cách can ngăn các
bạn nhưng không thành công. Sáng thứ Năm đó, khi Rua đi từ
Nguyện xá để vào lớp học sau những người khác, thì bỗng một người
bạn nói với cậu: “Cậu mau lẹ và ứng khẩu vì vậy cậu có thể đưa lá
thư này từ Don Bosco cho thầy giáo”. Rua cầm lấy và trao lá thư cho
thày. Ngay khi thầy giáo nghe lá thư đến từ Don Bosco, ngài mở ra
đọc và đó lại một câu rất tục. Ngài đứng phắt dậy, giận dữ với Micae,
35 Auffray, 26-27.
36 Francesia, 21-22.

4.2 Page 32

▲torna in alto
32 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nói rằng ngài chưa hề kỳ vọng một sự xấc láo như thế lại đến từ một
trong những thiếu niên của Don Bosco, và thậm chí càng ít hơn từ
Micae. Sau này, khi hiểu ra Micae Rua thật sự là nạn nhân, thày giáo
mới dịu lại. Đó chính là ngày áp lễ thánh Giuse, quan thầy của cha
Bonzanino. Tối đó, Don Bosco cho các thiếu niên của mình đến mừng
lễ quan thày cha Bonzanino. Nhưng Rua tách riêng ra, không dám
lộ hiện. Thày giáo bước đến cậu và nói: “Con đừng buồn, đó là lỗi
của cha. Cha không hiểu rằng câu tục ngữ đó muốn nói cho con, chứ
không phải cho cha”. Micae Rua không bao giờ quên biến cố đó.
Mãi đến năm 1909, khi Francesia nhắc nhớ ngài chuyện đó, cha Rua
mới giãi bày cho Francesia: “Đó là một thử thách lớn”, không phải vì
ngài đã trải nghiệm bị bẽ mặt, cho bằng vì sự kiện đó mà người ta
nghĩ ngài đã chơi khăm một giáo sư yêu quí.37
Micae nổi bật tại Nguyện xá của Don Bosco vào lúc Nguyện xá
hoạt động cao độ. Chúng ta cần nhớ rằng trung tâm trẻ này đã trở
thành một công cuộc thí điểm. Khoảng cuối năm 1847, Tổng Giám
mục Fransoni được biết qua lời xin rằng cha Gioan Bosco và cha Borel
đang hướng dẫn thiêng liêng tại Nguyện xá của thánh Phanxicô Salê,
đã mở một Nguyện xá mới giữa Đại lộ dei Platani và Đại lộ del Re.
Đồng thời cả hai đã xin ngài ủy nhiệm cho cha phó tại Nữ Vương các
Thiên Thần đến làm phép nhà nguyện. Nguyện xá mới, được đặt
dưới sự che chở của thánh Lu-i Gonzaga, toạ lạc trong khu ngoại ô
Porta Nuova. Theo sau biến cố không may đã xảy ra cho cha Cocchi,
khi Nguyện xá các Thiên thần Hộ thủ ở Vanchiglia bị đóng cửa vào
năm 1849, Đức Tổng Giám mục ấy đã trao cho Don Bosco chịu trách
nhiệm Nguyện xá đầu tiên tại Torino này. Trong khung cảnh giáo sĩ
đó, một số người không quá vui vì Don Bosco được thêm trách
nhiệm. Ngài bị chê trách là quá phô trương. Sự ghen tuông đã đầu
độc các mối tương quan. Những lời xầm xì chỉ chấm dứt sau khi
chính Tổng Giám mục ban hành một sắc lệnh. Ngày 31 tháng Ba
năm 1852, từ Lyon, Đức Tổng Giám mục Fransoni đang bị lưu đày
bên Pháp, đã chỉ định Don Bosco làm “Giám đốc và người thủ lãnh
thiêng liêng” của Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê; Nguyện xá Thiên
37 Francesia, 22-25, được thích ứng trong, Vita, 18-19.

4.3 Page 33

▲torna in alto
Môn đệ của Don Bosco | 33
thần Hộ thủ và Nguyện xá thánh Lu-y Gonzaga được “nối kết và phụ
thuộc vào đó”.38
Ngôi nhà gắn với Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê dẫu nghèo, đã
chứng kiến số người cư trú trong đó gia tăng mau lẹ. Họ là những
thiếu niên bị bỏ rơi, họ buộc phải tìm việc làm trong khu xây dựng
nào đó. Nhà nguyện ở mái nhà Pinardi đã thành quá chật cho các
thiếu niên này. Thế là Don Bosco đã quyết định xây một nhà thờ thật
sự và thích hợp, để dâng kính Thánh Phanxicô Salê. Nhà thờ này
được làm phép ngày 21 tháng Sáu năm 1852. Đang khi đó, ngài
cũng xây một tòa nhà mới bên cạnh tòa nhà cũ.
Micae vẫn sống ở gia đình, nhưng khi rảnh rỗi, cậu quen đến
Nguyện xá. Cậu đang lớn lên. Với khiếu quan sát bẩm sinh, Micae
Rua nhanh chóng hiểu những ý định của Don Bosco. Khi có thể, cậu
giúp giữ trật tự và kỷ luật giữa những em nội trú và ngoại trú. Ăn
mặc chỉnh tề, lịch sự, cùng với vẻ nghiêm trang nào đó bao quanh,
được rút ra từ Những Quy luật cho nền giáo dục tốt đẹp và lễ độ [Rules
for good education and civility] của Thánh Gioan Tẩy giả de La Salle, ở
tuổi đó cậu đã được mọi người kính trọng. Cha Gioan Cagliero đã để
lại cho chúng ta biết bạn bè có một cái nhìn đẹp về Micae, rồi có lẽ
còn được Auffray làm thêm phong phú; tôi trích dẫn nó như sau:
“Chúng tôi đều được Micae Rua giám thị từ lưu xá đến trường,
khi đi cũng như lúc về. Thú thực, chúng tôi rất trái ngược nhau.
Chúng tôi càng nhẹ dạ và ồn ào, hầu như ương ngạnh bao
nhiêu, thì ngài lại càng điềm tĩnh, kín đáo và chăm chỉ bấy
nhiêu. Chúng tôi không luôn luôn nghe ngài, nhưng với cách
nói thú vị cũng như lòng đạo phi thường, ngài đã khiến chúng
tôi phải ngạc nhiên dù trong lớp, hay trong học tập hay lúc giải
trí. Sáng Chúa Nhật, tôi có thể thấy ngài đứng canh chừng gần
vòi nước. Trước lễ, Don Bosco lo giải tội, còn Micae Rua lại bảo
đảm rằng không một hối nhân nào đã được xá giải mà lại
không rước lễ vì cẩu thả, bằng việc đến uống nước từ vòi nước.
[Hãy nhớ thời này việc giữ chay Thánh Thể rất nhiệm nhặt]. Trong
38 Tài liệu được sao chép lại trong MB IV, 178-179.

4.4 Page 34

▲torna in alto
34 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thánh lễ, Micae Rua rất chăm chú, điều ấy khích lệ chúng tôi
cầu nguyện. Ngài không cho chúng tôi tán gẫu; sau khi hiệp
lễ, nếu chúng tôi chia trí, quay ngang quay ngửa, ngài liền kêu
gọi chúng tôi quay trở lại với bổn phận của mình, thầm thì nhỏ
nhẹ: “Hãy tạ ơn Chúa đi!” Khi chúng tôi trò chuyện, Micae Rua
không ngừng ca ngợi Don Bosco và khích lệ chúng tôi yêu mến
Don Bosco, bằng sự vâng phục gương mẫu. Rua rất khéo,
không bao giờ khoan nhượng cho bất kỳ câu chuyện đáng ngờ
nào giữa các thiếu niên lao động đến từ bên ngoài, hay từ
những người mới đến lưu xá của Don Bosco; thậm chí còn hơn
thế nữa giữa những học sinh của giáo sư Bonzanino hay của
cha Picco, vốn xem ra có ý định gia nhập vào bậc giáo sĩ.”39
Những bạn hữu thời đó của ngài, nay đã trưởng thành. Tất cả họ
đều công nhận rằng không ai sánh được với Rua trong việc chăm chú
thi hành những trách vụ của mình. Trong một dịp huấn đức vào ngày
5 tháng Sáu năm 1852, khi Don Bosco xin những người tình nguyện
hằng ngày đọc Bảy niềm vui kính Đức Mẹ, thì tự nhiên Micae Rua là
một trong mười hai người tham gia.
Micae Rua mặc áo giáo sĩ
Những ngày nghỉ của năm 1852 thật quyết định đối với Micae.
Cậu đã tỏ ra trưởng thành thật sự vào lúc 15 tuổi. Như cậu đã làm
năm 1850, cậu đã tham dự cuộc tĩnh tâm do Don Bosco tổ chức cho
các thiếu niên tại tiểu chủng viện ở Giaveno cùng với khoảng 50
người bạn khác, vào tháng Chín. Khi về, cậu rời gia đình ở Forge để
đến nội trú tại ngôi nhà gắn với Nguyện xá. Cuối cùng, trong những
ngày tại Becchi, giờ đã thành truyền thống cho nhóm thiếu niên từ
Nguyện xá, Don Bosco đã xin cậu mặc áo chùng thâm. Không có
nghi thức chuẩn bị nào. Nhưng nay thiếu niên này đã nhân đôi sự
cam kết của mình, qua việc quan sát vị thầy thiêng liêng của mình.
Đối với cậu, những ngày bên Don Bosco có giá trị như một bài
nguyện gẫm. Trong tiến trình phong thánh, cha Rua đã cung khai
39 Theo A. Auffray, 31-32, được xác quyết bởi chứng từ của J. Cagliero ở tiến trình
phong thánh, Summarium super dubio, 1933, 51-52. (Summarium này được thấy
như phần của Positio, 1935).

4.5 Page 35

▲torna in alto
Môn đệ của Don Bosco | 35
như sau: “Quan sát Don Bosco, thậm chí những hành vi nhỏ nhất của
ngài, đã tạo nơi tôi nhiều ấn tượng hơn là đọc hay suy gẫm bất kỳ
cuốn sách đạo đức nào”.40
Nghi thức mặc áo đó cũng can hệ đến người bạn là Giuse
Rocchietti, diễn ra vào ngày 3 tháng Mười năm 1852, lễ Mẹ Mân
Côi, trong ngôi nhà nguyện nhỏ gần bên nhà của anh Giuse Bosco.
Lễ mặc áo này do cha xứ Cinzano tại Castelnuovo chủ sự. Ngài làm
phép các áo chùng thâm cho hai thiếu niên. Đoạn cha Cinzano giúp
Rocchietti, người lớn tuổi hơn trong hai người, mặc áo chùng thâm,
còn cha Gioan Tẩy giả Bertagna giúp cho Micae mặc áo. Lúc cuối
đời, cha Rua vẫn gợi nhắc lại điều Don Bosco đã nói với mình vào
dịp đó: “Rua thân yêu của cha, nay con khởi sự một cuộc đời mới.
Con bắt đầu hành trình tiến về đất hứa, nhưng con vẫn phải vượt
qua Biển Đỏ và sa mạc. Nếu con giúp cha, chúng ta sẽ cùng nhau
vượt qua và sẽ tới đích”. Khi giải thích suy tư này, cha Ceria đã viết
rằng Don Bosco áp dụng câu nói của sách Công Vụ cho môn đệ của
mình: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên
Chúa” (Cv 14,22).41
Việc Rua trở lại Nguyện xá với chiếc áo chùng thâm tạo nên một
xúc động mạnh: Theo những nhà viết hạnh sử thời đầu, ngài trông
như “một thiên thần”. Dù sao chăng nữa, chiếc áo thâm chùng hợp
với ngài, lại xem ra tốt với ngài; nó tăng thêm vẻ đẹp cho lối tiếp
cận bình thản cũng như phẩm giá tự nhiên trong tác phong của ngài.
Không cần phải nói, rõ ràng ngài đã mặc áo đó với sự kính trọng.
40 Ceria, Vita, 22.
41 Ceria, Vita, 22. Đây là phiên bản Salêdiêng về việc mặc áo vốn dường như đúng đối với
tôi. Nhưng như sử gia Salêdiêng Aldo Giraudo đã bảo tôi, chúng ta cần biết rằng "sự ghi
danh chính thức của các tư giáo tại nhà của Tổng Giám mục ở Torino, suốt những năm
1819-1876 chỉ ra rằng "Micae Rua, con của Gioan và Ferrero Joan Mary, sinh ngày 9 tháng
Sáu năm 1837, được mặc áo giáo sĩ ở Torino bởi cha Gioan Bosco vào ngày 16 tháng 12
năm 1853" (Văn khố Tổng Giám mục Torino 12.12.3: Registrum clericorum 1808-1847 [but:
1819-1876], rubr. R, 1853). Theo cá nhân, tôi đoán rằng ngày 16.12 1853, Don Bosco, mà
đã không chính thức thông tin cho Curia vào tháng Mười năm 1852, đã chỉ khuyên sự quản
trị địa phận rằng ngài đã trao ban áo giáo sĩ cho thanh niên Rua. Và rồi nơi chốn và ngày
rõ ràng của tài liệu quản trị.

4.6 Page 36

▲torna in alto
36 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Địa vị tư giáo đưa ngài đến gần Don Bosco hơn. Cuối cùng, sau
nhiều ngập ngừng, thày Rua quyết định hỏi Don Bosco về cử chỉ mà
ngài đã làm khi gặp cậu tại trường của các Sư huynh có nghĩa gì.
Don Bosco thường cho các thanh thiếu niên một tượng ảnh. Thế mà
đối với Rua, ngài lại chìa tay trái ra và lấy tay phải làm cử chỉ như
thể cắt đôi bàn tay ra và nói: “Bé Micae, lấy đi con, lấy đi”. Những
lời và hành động này có nghĩa gì? Don Bosco trả lời: “Này Rua. Don
Bosco muốn nói cho con biết rằng, một ngày kia, cha sẽ chia đôi mọi
sự với con đấy. Rồi, con sẽ hiểu rõ hơn mà”.42
Để hoàn tất học cấp hai, Micae Rua đã tới học tại trường của cha
Mattheu Picco, tọa lạc trên đường Fornelletti, gần nhà thờ thánh
Augustinô. Nó là một trường quí tộc, nhưng cha Picco là bạn của
Don Bosco, ngài đã nhận các thiếu niên của Don Bosco vào học miễn
phí. Rua là một học sinh hoàn hảo, thày chỉ dùng một năm để hoàn
tất các khóa học (1852-1853) về nhân văn (La-tinh và Hy lạp) và
hùng biện. Thày Rua cảm thấy rất dễ chịu trong môi trường học tập
này. Tại đây, thày có thể thiết lập những mối giao tiếp mới vốn sẽ
rất quí trong tương lai. Các lớp cấp trung học phổ thông kết thúc với
bài thi gọi là licenza. Thày Micae luôn luôn học hành rất xuất sắc.
Một trong những người thi, Đaminh Cappellina, là người danh tiếng
trong thế giới văn chương miền Piedmont đã nói cho thầy giáo đó:
“Hãy cho phép con chỉ ra một học trò xứng đáng. Người đó không
thể không tạo được một sự nghiệp sáng chói!”43
Niên học này được ghi dấu bằng ba biến cố. Chiều tối ngày 1
tháng Mười Hai năm 1852, Nguyện xá hoảng loạn bởi các tường của
tòa nhà đang xây bỗng dưng sụp đổ. Giữa đêm, mẹ của Don Bosco
nghe thấy một tiếng kêu răng rắc, bà vội báo động ngay. Có khoảng
50 thiếu niên đang ngủ trong ngôi nhà đó. Tất cả các em chạy ào ra
sân, nép mình dưới các cây lớn và rồi hướng về phía nhà nguyện.
Thày Rua là một trong số đó. May thay, không ai bị thương. Chỉ thiệt
hại vật chất mà thôi, dù thật đáng kể.
Biến cố thứ hai có ý nghĩa lịch sử. Vào tháng Hai năm 1853, Giám
42 Ceria, Vita, 23.
43 Francesia, 35.

4.7 Page 37

▲torna in alto
Môn đệ của Don Bosco | 37
mục Lu-y Moreno của Ivrea và Don Bosco khởi sự một bộ sưu tập
bình dân là Các bài đọc Công giáo (Catholic Readings), điều ấy làm cho
công cuộc tại Valdocco thêm nổi bật hơn nhiều.
Biến cố thứ ba tác động đến Micae Rua và gia đình ngài: Ngày 29
tháng Ba năm 1853, người anh cả cùng cha khác mẹ với thày Rua là
Gioan qua đời. Cái chết này tác động mạnh đến thày: “Chưa bao giờ
tôi thấy bạn tôi ưu phiền hơn lần này! Tôi biết trời bắt đầu sang xuân,
nhưng trời đổ mưa và đó là một ngày rất buồn. Chúng tôi đã chu
toàn bổn phận học đường; thấy ngài quá đau khổ, tôi không thể
không hỏi:
- Xảy ra chuyện gì mà khiến cậu trông buồn thảm thế?
- Thày Rua ngước mắt lên trời, thở dài: Anh tớ chết rồi!
Tôi có thể nói gì an ủi thày đây? Chúng tôi ở trong phòng áo của
Nguyện xá ngày lễ, thày rời khỏi phòng học, đi vào nhà thờ cầu
nguyện và cầu nguyện thật lâu”.44
Cái chết này đã tác động đến gia đình thày Rua. Mẹ của Micae
Rua nay chỉ còn một mình. Bà rời Forge đến ngụ tại Nguyện xá
Thánh Phanxicô Salê, trong nhà Bellezza. Nay thật rảnh rỗi, bà sống
tại phòng giặt ủi với mẹ Magarita của Don Bosco, người đã chăm lo
tài chánh của nhà từ năm 1846. Do vậy, mối dây liên hệ giữa công
cuộc của Don Bosco và Micae được kiện cường.
44 Francesia, 28-29.

4.8 Page 38

▲torna in alto
38 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
3
HỌC TRIẾT HỌC
Micae và khoá triết học
Tháng Bảy năm 1853, thày Micae Rua được nhận vào học triết tại
chủng viện Torino. Nói cho đúng, đó là một chủng viện nghèo, nạn
nhân của những phong trào cách mạng năm 1848. Vào cuối năm
1847 và đầu năm 1848, bất chấp Tổng Giám mục Fransoni ra lệnh
nhiều lần, các chủng sinh vẫn tiếp tục nhiệt tình ủng hộ những cuộc
biểu tình ái quốc. Đức Tổng Giám mục có bản tính bảo thủ. Ngài
nhìn thấy khuynh hướng tự do này tấn công quyền bính, quyền bính
của Nhà Nước và Giáo hội. Và Đức Tổng Giám mục đe không chấp
nhận phong chức (linh mục) cho những ai vi phạm.
Các chủng sinh càng thêm chai đá. Tại nhà thờ chính tòa vào lễ
Giáng sinh, trong thánh lễ đại triều của Tổng Giám mục, một vài
chủng sinh xuất hiện, với chiếc nơ hoa hồng ái quốc trước ngực.
Không thể chịu được tinh thần phản loạn này, Giám đốc Đại chủng
viện xin từ chức; nhưng Tổng Giám mục Fransoni từ chối ngay. Tuy
nhiên, sự chống đối không giảm bớt. Ngày 9 tháng Hai năm 1848,
khi công bố Hiến pháp Statuto ở Torino, các giáo sĩ lại túa ra thành
phố với hoa hồng ba mầu gắn trên ngực hay trên mũ lưỡi trai. Vài
ngày sau đó họ cũng vẫn làm giống như thế, và vỗ tay hoan hô cuộc
diễu hành của những nhóm người đời. Thế là tất cả tư giáo nào đã
tham gia vào những cuộc biểu tình này đều không được chịu chức
linh mục. Đức Tổng Giám mục quyết định là đóng cửa chủng viện
Torino. Các chủng sinh được cho về nhà, một số tìm đến những địa
phận gần bên. Và sau đó, khi chiến tranh bùng nổ, chính quyền dân
sự biến chủng viện thành nhà thương quân đội. Rốt cục, Đức Tổng
Giám mục đã từng bị cầm tù một thời gian ở Fenestrelle, bị đi đày ở
Lyon. Vì thế, khi Micae Rua vào chủng viện như một sinh viên ngoại
trú thì phần lớn chủng viện vẫn bị chiếm đóng. Thày Rua phải đi tìm

4.9 Page 39

▲torna in alto
Học Triết Học | 39
các giáo sư của mình trên các gác xép bởi họ trú ngụ tại đó.
Suốt niên khóa 1853-1854, các giáo sư của thày Micae Rua là cha
Cypriano Mottura và Giuse Farina; thày cũng được kinh sĩ Berta dạy
kèm. Thày Rua còn để lại cho chúng ta hai tập sách bài tập từ thời
đó, tựa đề: Quesiti di Logica 1853-1854.45 Đó là một “giáo trình” được
đọc cho viết. Giáo trình được viết cẩn thận về tiến trình hiểu biết và
những kết quả minh chứng. Thày Rua học yêu thích những câu cú rõ
ràng, cấu trúc gẫy gọn, phân tích minh bạch và nhất quán. Trong
tương lai, các hội viên của cha Rua sẽ ghi nhận điều này. Trong năm
triết thứ nhất, thày cũng học vật lý mà những ghi chú của nó hiện
vẫn còn.
Tuy nhiên, học hành chỉ chiếm một phần nhỏ thời gian của Micae.
Hằng ngày thày chỉ có hai giờ lớp tại chủng viện. Thày Rua phải
chăm lo hộ trực tổng quát tại nhà Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê.
Thầy giám sát trong phòng học, nhà nguyện, sân chơi và nhà cơm.
Thêm vào đó, và vào lúc chót là lớp giáo lý hằng tuần và chăm lo
thư viện. Năm 1854, khi Don Bosco gầy dựng hiệp hội nhỏ Thánh
Vinh Sơn Phaolô, vốn đã được khởi sự ở Torino chỉ mới bốn năm
trước, thì thày Rua đảm trách vai trò thư ký và tổ chức công cuộc
giúp đỡ người nghèo trong khu vực đó.46
Đối với thày, một biến cố quan trọng ghi dấu những tháng ngày
đó. Ngày 26 tháng Giêng năm 1854, khi gần đến lễ trọng kính Thánh
Phanxicô Salê, Don Bosco nhất tâm thực hiện ý tưởng là thành lập
một Hội để phục vụ cho công cuộc của mình; như ta đọc trong một
ghi chú của thày Micae Rua, Don Bosco đã gom bốn thiếu niên xuất
sắc hơn cả trong phòng mình: là tư giáo Micae Rua, Giuse Rocchietti,
Giacôbê Artiglia và Gioan Cagliero. Lúc đó họ là những thiếu niên;
ngài đề nghị họ “dấn thân trải nghiệm việc thực thi bác ái cụ thể đối
với người thân cận, Thiên Chúa và Thánh Phanxicô Salê trợ giúp, để
45 Cf. Những tập ghi chú này trong FdR 2720B5-2721C5.
46 Bá tước Carlo Cays, chủ tịch của Hội nghị độc nhất ở Torino sẽ nhìn nhận Nguyện
xá Thánh Phanxicô Salê, Conference ngày 11 tháng Năm, 1856 như Amadei đã
ghi chú. I, 73.

4.10 Page 40

▲torna in alto
40 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
rồi đoan hứa, và sau đó, nếu có thể và thích hợp, sẽ khấn với Chúa”.47
Như vậy, Tu hội Salêdiêng tương lai đã bắt đầu hình thành.
Ba ngày sau, vào chiều tối ngày lễ Thánh Phanxicô Salê, cả bốn
thiếu niên xuất hiện tại một nghi thức trao giải thưởng thuộc loại đặc
biệt. Cả tuần, các học sinh được mời gọi viết xuống trên một mảnh
giấy tên của bốn hay năm bạn học mà chúng thấy nổi bật về cách
sống đạo và luân lý gương mẫu. Những tờ giấy đó được ký tên. Sổ
sách được ký nhận của Don Bosco cho chúng ta biết rằng “Năm đó
tại buổi trao giải thưởng long trọng mừng kính Thánh Phanxicô Salê,
Micae Rua và Giuse Rocchietti được chọn do biệt lệ. Trong đám học
sinh, các người đoạt giải là: Bellisio, Artiglia, Cagliero. Những người
kiểm phiếu lần đó là: người anh lớn giữa các anh em Turchi, Angelo
Savio, Pepe L., Comollo”.48
Kiểu bỏ phiếu rất dân chủ này là một trong nhiều cách được Don
Bosco xem xét kỹ để khích lệ các thiếu niên trở nên những Kitô hữu
tốt. Để đạt mục tiêu ấy, Don Bosco nghĩ không gì đáng giá hơn một
gương sáng sống động, nhưng cũng là một gương sáng được nói
đến hay viết xuống. Chính vì thế trong Bài đọc Công giáo [Catholic
Readings] cùng trong tháng Giêng năm 1854, trong một ấn bản khác
được thích ứng cách phù hợp, ngài phát hành cho chúng một câu
chuyện về người trẻ được ca ngợi và yêu mến, một người mà ngài
đã từng biết tại chủng viện Chieri: Đời sống của Luy Comollo. Chàng
“chết tại chủng viện Chieri, và được mọi người ca ngợi do những
nhân đức của cậu”. Đời sống của Lu-y Comollo thường được Don
Bosco đề xướng để xây dựng các người trẻ của ngài. Chúng ta có thể
bảo đảm rằng tư giáo Rua đã suy nghĩ nhiều về điều này, bởi chúng
ta tìm được một ghi chú dài về “những gương sáng” từ Lu-y Comollo
được kẹp vào một trong những vở ghi chú triết học của thầy.
47 Ghi chú được Rua ký nhận trong FdB 1989C10.
48 Như Lemoyne viết trong MB V, 12. Về thông tin này, giả sử rằng nó thật sự từ
Don Bosco, chúng tôi ghi nhận rằng hơn là một dấu hiệu phi lý trong việc đăng
ký, dấu hiệu của nó về sự tuyển chọn "luật trừ" hai tư giáo chỉ có thể đến từ
Lemoyne.

5 Pages 41-50

▲torna in alto

5.1 Page 41

▲torna in alto
Chăm sóc những bệnh nhân nhiễm dịch tả
Học Triết Học | 41
Những ngày hè năm 1854 thật hơi sống động cho một ai bắt đầu
phải chăm sóc các bệnh nhân nhiễm dịch tả. Chúng ta hãy nhìn vào
bối cảnh đó một chút.49
Ngày 21 tháng Bảy năm 1854, Thị Trưởng đã cho dán áp-phích ở
các góc phố của Torino, công bố phải tuân giữ những quy luật vệ
sinh ở nhà, tại xưởng thợ, những quán trọ vì dịch tả đến thành phố.
Luật dành cho “những ai đã nhiễm bệnh”. Phải lập những nhà thương
đặc biệt gọi là lazaretti (những đơn vị cách ly và cô lập) để cô lập người
bệnh. Dân cư Valdocco biết rằng chính quyền thành phố đã dùng
một ngôi nhà lớn ở Borgo Dora cho việc này; bệnh viện này chứa
được 150 giường, cộng thêm khu vực liền kề dùng làm nhà thuốc,
nhà bếp, khu vệ sinh, một chỗ để tẩy uế và các phòng cho nhân viên
phục vụ. Báo chí thông tin liên tục về tình trạng lây lan. Vị Tổng Đại
diện của địa phận là Đức ông Ravina đã truyền đạt những chỉ thị của
Chính quyền cho các cha xứ bằng thư luân lưu yêu cầu họ cộng tác.
Cùng lúc các linh mục ở Torino có thể đọc một tập sách nhỏ gồm
những chỉ thị từ Đức Tổng Giám mục miền Genova cho các giáo sĩ
của mình: những phương cách ngừa bệnh và vệ sinh, những cách
thức giúp đỡ với sự thực thi tác vụ, và cấm họ bỏ trốn thành phố.
Thực vậy, cám dỗ đào thoát khỏi nơi dịch bệnh thật mạnh mẽ. Ngày
3 tháng Tám, theo thống kê của công ty Railway, một phần tư dân
cư của Torino đã rời bỏ thành phố.
Tại Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê, thày Rua cảm thấy được hoàn
toàn can dự vào. Ngay từ giây phút đầu tiên được cảnh báo, Don
Bosco đã tổ chức Nguyện xá đối phó với sự lây lan. Những khu vực
của nhà đó chứa cả trăm thiếu niên được thích nghi và dọn sạch sẽ.
Ngài tăng gấp đôi khăn trải giường để dễ dàng thay và giặt giũ
thường xuyên. Vào cuối tháng Bảy, bệnh dịch bắt đầu tàn phá thành
phố và lan đến khu vực Borgo Dora gần Nguyện xá; tai họa này cướp
đi cả một phần mười dân cư tại đó. Hàng giáo sĩ chính quy và địa
49 Đối với đoạn về dịch tả ở Torino năm 1854, tôi rút các ghi chú từ cuốn sách Don
Bosco en son temps của tôi, 399-408.c

5.2 Page 42

▲torna in alto
42 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
phận đã quảng đại hiến thân phục vụ những bệnh nhân dịch tả. Cha
xứ của Borgo Dora đặc biệt nổi bật. Giáo dân bỏ mặc người bệnh:
theo một nhân chứng, tới giữa tháng Mười đã có khoảng năm trăm
người chết trong số tám trăm bệnh nhân. Không bằng lòng với việc
ban các bí tích cho bệnh nhân, các linh mục giúp đỡ phục vụ như
những y tá liều mất mạng sống mình. Cha xứ Augustinô Gattino trả
giá cho sự tận hiến của mình với nhiều đau đớn.
Don Bosco xác tín rằng chỉ giới hạn vào việc bảo vệ công cuộc của
mình khỏi dịch bệnh như thế thì không đủ. Chính quyền thành phố
đang tìm kiếm những y tá thiện nguyện. Vì thế, ngày nọ, ngài hỏi
các thiếu niên của mình: “Có ai muốn đi giúp những người bị bệnh
dịch tả tại lazzaretto và ở nhà riêng không?” Và thế là Don Bosco đã
có thể gởi cho chính quyền một danh sách gồm 14 thiếu niên. Chúng
ta không có danh sách đầy đủ, nhưng biết chắc rằng giữa họ có Rua
17 tuổi, Cagliero 16 tuổi và Anfossi 14 tuổi. Don Bosco cho những
"y sĩ" trẻ này những chỉ thị thực tiễn. Trong tất cả tính cái nhiên, ngài
giải thích rằng bệnh này có hai giai đoạn. Lúc đầu có một cuộc tấn
công đột ngột, mà thường là chí tử nếu không được trợ giúp ngay;
rồi đến giai đoạn phản ứng lại mà lúc đó cơ thể cố gắng tái lập sự
tuần hoàn máu huyết. Người chăm sóc nạn nhân bệnh dịch phải
chống lại cuộc tấn công bằng cách phản ứng nhanh bao có thể và
giữ cho phản ứng tiếp tục một cách thích đáng. Vào lúc đó, những
phản ứng này được tạo ra bằng cách áp dụng việc đun sôi thuốc đắp
và bằng xoa bóp mạnh, ủ tay chân người bệnh bằng len ấm vì họ
thường chịu những chứng vọp bẻ và mất nhiệt.
Ngài sắp đặt một thời khóa biểu và các thiếu niên tản ra khắp nơi,
một số đến lazzaretti [khu cách ly] tại Borgo San Donato, và số các em
khác đến các nhà tư nhân trong khu vực đó. Đêm ngày, các em đi đi
về về tại Nguyện xá. Những người trẻ của Don Bosco can đảm thực
thi trách vụ mới của mình, chắc rằng mình sẽ không nhiễm bệnh, khi
giữ kỹ những lời giám đốc khuyên: đó là chú ý giữ sạch sẽ, cách riêng
xa lánh tội lỗi và phó mình cho Đức Maria.
Do vậy, thày tư giáo Rua bắt đầu một kinh nghiệm hoàn toàn mới.
Nhưng trước hết, thày phải vượt thắng sự ghê tởm của mình khi thấy

5.3 Page 43

▲torna in alto
Học Triết Học | 43
những người mắc bệnh dịch. Cuối năm đó, thày viết cho Don Bosco,
miêu tả lại điều mắt thấy tai nghe: “Nôn mửa, kiết lỵ, vọp bẻ tay
chân, nhức đầu, khó thở, ngạt hơi... mắt đỏ ngầu, mặt thâm tím, rên
rỉ và co giật; tóm lại, nơi những người bất hạnh này, con thấy cả nỗi
đau mà một người có thể gánh chịu mà không chết”. Tờ báo Armonia
ngày 16 tháng Chín dành một đoạn nói về những người trẻ từ
Nguyện xá, trong bài tường thuật về đức ái của hàng giáo sĩ lúc bệnh
dịch:
"Được tinh thần của Don Bosco là người cha hơn là bề trên sinh động,
các thiếu niên đó can đảm đến gần những người bị dịch tả; không chỉ
bằng lời nói mà cả bằng việc làm của mình, các em làm cho những
người bệnh tin tưởng và can trường. Các em nỗ lực phục hồi họ bằng
đôi tay mình, xoa bóp cho người bệnh mà không tỏ ra chút sợ hãi hay
kinh tởm trước cảnh tượng đó. Trái lại, một khi vào nhà của người
bệnh, các em đi thẳng tới người hãi sợ, đề nghị họ rời khỏi nhà nếu
họ khiếp hãi, đang khi họ thu gom mọi sự cần thiết, trừ phi họ cư xử
với một ai thuộc phái yếu; trong trường hợp đó họ xin một ai từ căn
nhà đó để ở với họ, nếu không phải bên cạnh giường, ít nhất là tại
một điểm tiện lợi nào đó. Nếu người đó chết và không phải là một
phụ nữ, những người trẻ này chu toàn luôn việc tẩn liệm.”50
Không một y sĩ thiện nguyện nào từ Nguyện xá bị nhiễm bệnh
dịch tả. Sự tận hiến của họ tạo một ấn tượng mạnh trên thành phố.
Năm thứ hai triết học
Đang khi chuẩn bị năm triết thứ hai, xem ra thày Rua, chủng sinh
duy nhất của khóa đó, thoạt đầu không chú ý nhiều đến một học
sinh mới đến Valdocco, Đa-minh Savio. Nhưng chẳng bao lâu, thày
sẽ đổi quyết định. Thày giáo của cậu, cha Cugliero, đã giới thiệu
Đaminh Savio cho Don Bosco. Cậu là một thiếu niên nổi bật vì thông
minh và đạo đức. “Có nhiều thiếu niên đồng trang lứa với cậu trong
nhà, nhưng không ai tốt hơn cậu về tài năng hay nhân đức. Cứ kiểm
50 "Tường trình về đức ái của các hàng giáo sĩ và thời gian dịch tả", L'Armonia, anno
VII, n. 112, 16 tháng Chín, 1854, 521. Bài viết này được thuật lại phần nào trong
MB V, 114-116.

5.4 Page 44

▲torna in alto
44 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tra đi và bạn sẽ tìm được một Thánh Lu-y khác”.51 Người ta muốn
Đaminh Savio theo học cùng những khoá học mà Micae đã theo bốn
năm trước. Một ngày kia, thày Rua sẽ làm chứng rằng thày đã nhận
ra "mình ngày càng kính trọng Đaminh Savio ngay từ những tuần
đầu tiên cậu ở Nguyện xá". Ngày qua ngày một “tình huynh đệ” đã
trói buộc họ lại với nhau.52 Giữa những năm 1854 và 1857, Đaminh
đã theo học với cha giáo Bonzanino, rồi cha Picco, với một năm xen
giữa là cậu học tại chính Nguyện xá.
Từ mùa xuân 1854, Rua can dự vào mọi sinh hoạt ngày Chúa Nhật
tại Nguyện xá Thánh Lu-y gần ga xe lửa Porta Nuova. Điều này có
nghĩa rằng hai lần trong ngày đó thày phải cuốc bộ hai lần trên một
quãng đường khá xa. Trong khi đó, thày lại có tầm quan trọng hơn
tại Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê. Một học sinh thời đó làm chứng:
“Điều làm tôi kinh ngạc rất nhiều khi tôi gia nhập Nguyện xá cùng
với Đaminh Saviô năm 1854, là thấy rằng Don Bosco sẵn lòng giao
cho thày Rua nhiều việc, đang khi có những người khác, chẳng hạn
thày Rocchietti, lớn tuổi hơn và thích đáng hơn để đảm trách. Tôi
thật sự ngạc nhiên vì sự ưa thích đó dành cho thày Rua; nhưng rồi
tôi biết rõ tất cả các thiếu niên yêu mến thày biết bao và chúng kính
trọng thày như một bề trên đại diện Don Bosco, là người đã kính
trọng và yêu mến thày cách đặc biệt”.53
Những lời khấn riêng tư của Micae Rua
Dần dần, Don Bosco đào tạo thày Rua cùng với những người khác.
Dù không làm gì nhiều liên quan đến việc này, thày Rua đang chuẩn
bị mình gia nhập Hội mà Don Bosco đang hoạch định. Vào mùa
xuân, được vị linh hướng và giải tội cho phép, thày Rua bắt đầu hiệp
lễ hằng ngày.54 Những tháng này là thời gian thực tập thiêng liêng,
51 G. Bosco, Vita del giovanetto Savio Domenico, allievo dell'Oratorio di San Francesco
di Sales, Torino, Tip. G. B. Paravia and Co., 1859, 34.
52 Lời Don Rua cung khai tại tiến trình thâu thập thông tin cho việc phong thánh
Đaminh Savio, Summarium, 152.
53 John Battista Piano, được Amadei trích dẫn, I, 57.
54 Đoạn này về sự chuẩn bị thiêng liêng của thanh niên Rua để tuyên khấn lần 1,
theo chặt chẽ bản văn của Auffray mặc dù đúng thật, nó có chút ít tưởng tượng và
'nặng', nhưng những hình ảnh thì đẹp. Auffray, 41-43.

5.5 Page 45

▲torna in alto
Học Triết Học | 45
hay nếu bạn muốn, là nhà tập, là điều mà những bài huấn đức về
những đề tài giáo lý biệt loại và những thực thi thích hợp nhắm đến.
Don Bosco cho những bài huấn đức trong căn phòng nhỏ của ngài
vào mỗi chiều tối Chúa Nhật, sau giờ kinh tối. Toàn bộ tương lai của
công cuộc ngài được gắn kết với nhóm môn đệ nhỏ bé mà ngài muốn
đào luyện từ từ, theo lý tưởng giáo dục của mình. Ngài xin chúng
thực thi những điều mà chính ngài đã làm: Miệt mài làm việc giữa
các thanh thiếu niên của Nguyện xá, cầu nguyện chung, cử hành
phụng vụ, dạy giáo lý, những lớp bình dân học vụ, hộ trực, những
trò chơi sống động … Don Bosco đã không yêu cầu gì ngoài sự tận
hiến hoàn toàn phục vụ các thiếu niên bị bỏ rơi, năng đến với các bí
tích và một chương trình nghiêm chỉnh gồm những việc đạo đức,
như năng viếng Thánh Thể. Đây cũng chính là những thực hành đã
được đề nghị cho các thiếu niên tại Nguyện xá. Lời dạy của Don
Bosco giới hạn vào những điều này và ngài không bày ra thêm điều
gì. Phần còn lại ngài trao vào tay Chúa. Ơn Chúa hoạt động nơi
những người trẻ này qua gương sáng của Don Bosco. Ngài đi tới đi
lui, cầu nguyện, pha trò, làm việc dưới chính con mắt của họ. Họ chỉ
phải chọn ra lời dạy toát ra từ cuộc đời của ngài. Thày Rua chăm lo
cõi lòng và khóe nhìn của mình, khi lặng lẽ quan sát tất cả những
bài học nhân đức này. Thày Rua cảm phục ngài tại bàn quì hay trong
Thánh Lễ, với thái độ “rất sốt sắng, chìm ngập trong cầu nguyện
khiêm cung và tin tưởng”. Thày Rua nhận thấy Don Bosco luôn hài
hước trong sân chơi và nhà cơm, ngài chỉ quan tâm đến việc duy trì
tinh thần vui tươi giữa thanh thiếu niên. Nếu thấy Don Bosco trên
đường phố, thày khám phá ra một con người không bao giờ bỏ lỡ
một dịp nào để tiếp xúc với giới trẻ. Don Bosco thật tự nhiên và tốt
bụng trong đời sống thường nhật, hài hước cách thanh thản, luôn
lịch sự niềm nở, điều đó đánh động thày. Nếu trò chuyện với Don
Bosco trong bầu khí thân mật của căn phòng nhỏ, thày Rua luôn
hạnh phúc ra đi, bởi cuộc gặp gỡ đầy tình phụ tử và tình bạn chân
chính. Nó là lối sống tốt đẹp trong bóng cánh của Don Bosco.
Lợi ích thiêng liêng tăng trưởng mau chóng và nghiêm túc, đến
nỗi chẳng bao lâu vị thày xét thấy người môn đệ đã hoàn toàn sẵn
sàng cho một bước quan trọng. Vào chiều tối lễ Truyền Tin ngày 25

5.6 Page 46

▲torna in alto
46 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tháng Ba năm 1855, trong căn phòng khiêm tốn của Don Bosco, tư
giáo Micae Rua, một chủng sinh năm triết hai, đã khấn tư sống
nghèo khó, thanh khiết và vâng phục, trong tay của vị là cha của
mình trong đức tin. Không chút phô trương và lễ nghi. Vị linh mục
đứng một bên, và bên kia là một tư giáo quì trước thập giá, miệng
thì thầm một công thức mà chúng ta không biết. Không có nhân
chứng. Cha Auffray cẩn trọng viết: “Ngay cả giữa bốn bức tường này
một điều vĩ đại xảy ra... Luôn luôn thế, cội nguồn của những công
trình mà Thiên Chúa tỏ ra hoàn toàn hài lòng đều tăm tối."55
55 Auffray, 43.

5.7 Page 47

▲torna in alto
Học Triết Học | 47
4
Khai sinh Tu Hội Salêdiêng
Học thần học
Đầu niên khóa 1855-1856, thày Rua bắt đầu học thần học bằng
việc dự lớp học tại chủng viện. Các cha giáo của thày là cha Francesco
Marengo, tác giả cuốn De institutionibus theologicis [Thần học căn bản]
và cha Giuse Molinari, tác giả cuốn De sacramentis in genere [thần học
bí tích]. Có hai giờ học ở lớp ban sáng và một tiếng rưỡi ban chiều.
Thêm vào đó là một lớp học riêng tiếng Hy lạp hay Do thái hai hay
ba lần một tuần với Giáo sư nghiên cứu về Đông Phương tại trường
đại học, là cha Amedeo Peyron. Thực sự, thày Rua rất thích đọc và
hiểu Kinh Thánh. Cùng lúc đó, thày chuẩn bị thi phương pháp dạy
học, như chúng ta có thể thấy có những sách bài tập bằng tiếng
Pháp, toán học và khoa học tự nhiên trong thời kỳ đó.56 Micae Rua
thật sự đã can dự nhiều đến công việc tri thức.
Thày Rua đặc biệt chú tâm đến thần học. Chúng ta còn lưu giữ
được bốn cuốn trong những sách bài tập của thày, với tựa đề De
Religione. Tập sách bắt đầu bằng việc phân biệt tôn giáo như được
thực hành (thờ phượng), rồi cho thấy cần phải có Mạc khải, tính toàn
vẹn và chân lý của Cựu Ước cũng như Tân Ước vốn chuyển giao mạc
khải này. Khi xem xét từ bản viết tay cẩn thận, khóa học dường như
đã được đọc cho viết. Khóa học đó minh chứng rằng chỉ có một tôn
giáo mạc khải chân chính là Kitô giáo của Giáo hội Công giáo. Cuối
cùng, thày chủng sinh Rua đã tóm tắt khảo luận trong 31 trang với
những mục tóm lược. Điều này tỏ lộ một người rất ưa chuộng sự rõ
56 Tất cả các bài tập tại trường của M. Rua (thường được đề ngày) có thể tìm thấy
trong FdR 2665B9-2750B9. Chúng tôi sẽ không cung cấp những quy chiếu chính
xác ở đây.

5.8 Page 48

▲torna in alto
48 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ràng và nhất quán.
Sau khảo luận về thần học căn bản De Religione, khảo luận De Deo
uno et trino chắc chắn được được để lại cho tới năm sau này. Dường
như cha Giuse Molinari phụ trách các khóa học theo một chu kỳ, lập
tức truyền đạt những bài học về bí tích cho các sinh viên, bắt đầu
bằng khảo luận De gratia. Thực vậy, chúng ta tìm thấy trong Công
Hàm Salêdiêng một nghiên cứu, được thày Rua viết, dày 206 trang
về ân sủng, một vấn đề cốt yếu trong Giáo hội vào thời đó. Khảo
luận này được theo sau bằng một loạt ghi chú dài, khá gọn gàng về
Thánh Thể (96 trang). Các bí tích được nói đến cách tổng hợp hơn
trong những bản viết tay này: Chúng ta tìm thấy một sơ đồ 'nhất
lãm' dài hai trang về Phép Rửa Tội, 34 trang ghi chú về Xưng tội và
17 trang về Xức Dầu. Tất cả được viết bằng tiếng La-tinh kinh viện
như thói quen của thời đó; phân tích những bản văn này cho phép
hiểu biết hơn về tư duy của cha Rua trong suốt đời linh mục của ngài.
Một Tu hội khai sinh trong một bối cảnh xáo động
Đang khi đó Don Bosco rất tư lự. Công cuộc của ngài được kiện
cường khi cha Vittorio Alasonatti đến Valdocco vào tháng Mười năm
1854. Cha Alasonatti là một linh mục đã luống tuổi. Don Bosco đặt
ngài làm người trợ giúp mình và trao cho ngài tước vị Phó Bề trên.
Đang khi đó, ngài bắt đầu tạo cho hoạt động và nhịp điệu của nhà
và toàn cơ sở một cơ cấu xác đáng hơn. Nhưng liệu ngài có sẽ thành
công tạo nên một Tu hội, mà dường như cốt yếu là hướng dẫn công
cuộc của các Nguyện xá không?
Theo quan điểm chính trị, thời khắc đó xem như ngược hẳn với
một sáng kiến như thế.57 Giữa tháng Mười năm 1854 và tháng Năm
năm 1855, Chính quyền Piedmont, cách riêng Bộ Trưởng Tư pháp
và Nội vụ là Urban Rattazzi dẫn dắt, đã cải thiện một bộ luật về Tu
viện và đã thảo luận nó trong Quốc hội. Bộ luật này nhằm bài trừ
các Dòng tu nam nữ trong lãnh thổ, cách riêng “những dòng khất sĩ”
mà theo các nhà tự do, có hại cho nền đạo đức trong quốc gia và
57 Về Rattazzi và luật đàn áp, tôi quy chiếu tới những ghi chú trong sách Don Bosco
en son temps, 420-430.

5.9 Page 49

▲torna in alto
Học Triết Học | 49
“trái với luân lý lao động tân tiến”. Luật mới tước bỏ mọi tài sản của
các Dòng tu. Giáo sĩ cánh hữu phản ứng bằng cách cáo buộc vi
phạm Hiến pháp [statute] và những khế ước với Tòa Thánh, và trình
bày luật đó là cố tình tấn công quyền thiết lập các hiệp hội và sở hữu
tài sản, một tiền thân cho chủ nghĩa xã hội và cộng sản đang xâm
nhập vào quốc gia. Cùng lúc ấy, phe cánh tả cực đoan kết án chủ
nghĩa ngu dân của giáo sĩ; họ gợi nhắc đến cái kết cục của Giordano
Bruno, một triết gia thuộc thế kỷ 17; ông bị tố cáo là lạc giáo và bị
thiêu sống. Họ dấy lên cuộc tranh cãi chống lại vụ án Galilêô, một
đầu óc tân thời khác, và chống lại danh sách những sách bị cấm đọc.
Rồi lợi dụng cuộc tranh cãi đã bùng lên quanh luật được đề nghị, họ
tố cáo các Giáo hoàng, giữa các ngài là Đức Piô IX. Dưới sự bảo hộ
của Pháp, Đức Pio IX đã luôn ủng hộ người ngoại quốc đó (Pháp)
làm hại đến nước Ý. Nhằm trải rộng luật đó mà họ coi là quá yếu,
phe cánh tả yêu cầu đàn áp tất cả các Dòng Tu hiện có: Cùng với
những tu sĩ chiêm niệm và khất thực, cũng cần phải loại đi cả những
tu sĩ chuyên giảng dạy. Họ nhấn mạnh rằng tất cả những của cải của
Giáo hội phải thành tài sản của chính quyền đô thị hay tỉnh... Nói
tắt, bầu khí đó thật sôi động.
Cuối một loạt những biến cố, luật Rattazzi được hai Viện phê
chuẩn và được Nhà Vua ký duyệt ngày 29 tháng 5 năm 1855. Những
công cuộc trong Vương quốc Sardinia và tùy thuộc vào các thày Dòng
không chuyên lo giảng dạy, giáo dục hay giúp người nghèo thì
không còn được nhìn nhận là những thực thể luân lý nữa; thực thế,
chúng không còn hiện hữu. Ta cần lướt qua danh sách được đính
kèm với sắc lệnh áp dụng của luật đó để hiểu luật này đã tạo ra tâm
lý mất định hướng như thế nào tại Piedmont: Hai mươi mốt Dòng
nam và mười bốn Dòng nữ bị luật đó tác động. Don Bosco thốt lên
trong một lá thư gởi cho một người bạn: “Hoang mang biết bao! Bất
hạnh cực kỳ! Thực sự, biết bao kẻ bất hạnh bị kết liễu!”58
Don Bosco sẽ liên lỷ qui chiếu đến luật này. Ngài sẽ sợ gán cho
những người cộng sự của mình tên gọi thày dòng; luật này khiến Don
58 Lá thư của G. Bosco gởi cho D. Rademacher, Torino, 7 tháng Sáu năm 1855,
Epistolario I, 257.

5.10 Page 50

▲torna in alto
50 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Bosco luôn tránh cho Tu hội của ngài là một thực thể luân lý và bằng
mọi giá phải giữ quyền dân sự cho các phần tử của mình. Những
quyền này đã phân biệt Tu hội của Don Bosco khỏi bất kỳ Dòng tu
khác.
Magarita Bosco và Đaminh Savio qua đời
Trong năm thần học thứ nhất, thày Rua đã bị tác động mạnh vì
ba người thân thiết với thày qua đời.
Ngày 5 tháng Mười Một năm 1856, cha Phaolô Rossi qua đời vì
nhiễm trùng phổi lúc mới 28 tuổi đời. Ngài là Giám đốc của Nguyện
xá Thánh Lu-y tại Porta Nuova, nơi mà thày Micae Rua đến làm tông
đồ vào mỗi sáng Chúa Nhật. Gánh nặng ấy đã đè trên vai ngài và
ngài thực thi nó tốt nhất bao có thể.59
Khi cha Alasonatti đến Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê, thì Mẹ
Magarita của Don Bosco đã được chuyển sang phòng làm việc riêng
của bà. Bà đã từng quản trị Nguyện xá một thời gian dài. Các thiếu
niên và khách khứa không hề quên bà, nhưng bà đã nghỉ hưu. Vào
tháng Mười Một năm 1856, Mẹ Magarita gục ngã vì bệnh viêm phổi
trầm trọng. Từ lúc đó, bà mẹ của Micae Rua là bà Giovanna Maria
Rua cùng với người chị của mẹ Magarita là Marianne Occhiena liên
lỷ ở bên giường bệnh của bà. Cả nhà cầu cho bà bình phục. Mọi
người sống trong sợ hãi lẫn hy vọng suốt những ngày cuối này. Các
thiếu niên thay nhau đến phòng của bà hầu như bất kỳ giờ nào, nghe
ngóng tin tức. Mỗi tối, toàn cộng đoàn chờ tin từ Don Bosco và cha
Alasonatti. Anh Giuse Bosco từ Castelnuovo cũng đến thăm mẹ. Lo
lắng gia tăng khi bà được ban bí tích xức dầu bệnh nhân. Cuối cùng,
ngày 25 tháng Mười Một, mẹ Magarita qua đời. Việc ma chay được
cử hành giản dị nhưng cảm động. Thánh lễ an táng được cử hành
trọng thể tại nhà thờ Nguyện xá. Các thiếu niên buồn rầu khóc lóc
đi sau quan tài tới nghĩa trang giáo xứ; những câu của bài Miserere
được thay đổi với chút âm nhạc từ ban kèn của Nguyện xá. Đám tang
59 Ngày 26 tháng Bảy năm 1857, cha Leonardo Murialdo sẽ đảm trách hướng dẫn
Nguyện xá Thánh Lu-y, như chúng ta học biết từ một lá thư của M. Rua gởi cho
Don Bosco đề ngày 27 tháng Bảy năm 1857 (được Amadei trích dẫn, 90-91).

6 Pages 51-60

▲torna in alto

6.1 Page 51

▲torna in alto
Học Triết Học | 51
chầm chậm đi tới, tạo nên một ấn tượng mạnh trên những người
qua lại. Bà Gastaldi nói bà chưa bao giờ dự một đám tang cảm động
đến thế.60 Có một hệ quả quan trọng đối với gia đình Micae Rua:
Vào cuối thập niên 50, bà Giovanna Maria mẹ của Micae Rua đã trở
thành “mẹ Magarita” thứ hai đối với các trẻ của Don Bosco.
Cái chết thứ ba ảnh hưởng Nguyện xá là của Đaminh Saviô. Vào
ngày 8 tháng Sáu trước đó, cùng với các tư giáo Micae Rua và Giuse
Bongiovanni, Đaminh Savio đã thành lập Hội Mẹ Vô Nhiễm. Ít quy
luật đã được soạn thảo, pha trộn với những quyết định thực tiễn, để
cải thiện bầu khí thiêng liêng của toàn công cuộc Nguyện xá. Cha
Rua đã nói tại tiến trình phong thánh cho thiếu niên Đaminh như
sau: Micae Rua đã "rất kính trọng Đaminh; niềm kính trọng ấy đã
gia tăng khi Hội này đã được thiết lập”.61 Đaminh luôn có một sức
khỏe bất ổn. Ngày 1 tháng Ba năm 1857 bị nhiễm trùng phổi,
Đaminh Savio buộc phải rời cộng đoàn về gia đình. Sáng hôm đó,
cậu đã tham dự việc Dọn mình Chết lành, rồi bình thản tạm biệt Don
Bosco và các bạn. Tám ngày sau cậu qua đời. Ngay lập tức, các bạn
gọi cậu là một vị thánh và họ bắt đầu cầu nguyện với cậu. Trong tiến
trình phong thánh, cha Rua sẽ nói lên điều này: một số lời cầu
nguyện ấy đã có hiệu lực.62 Về phần mình, Don Bosco cũng nhìn như
thế; với Micae giúp đỡ đặc biệt, Don Bosco bắt đầu thu thập các
chứng từ về những nhân đức nổi bật của cậu, để viết cuốn Vita del
giovanetto Savio Domenico [Cuộc đời của thiếu niên Đaminh Savio] được
xuất bản năm 1859.63
Kế hoạch đầu tiên của Don Bosco về Hiến Luật
Chúng ta hãy trở lại năm 1857. Mối tương quan tốt đẹp mà Don
Bosco có được với Bộ trưởng Rattazzi, bảo đảm cho ngài khi lắng lo
60 Ghi chú này về cái chết của Mẹ Magarita được rút từ tường trình của Gioan
Bonetti, Storia dell'Oratorio, xuất bản hầu như một tiểu thuyết nhiều tập, trong
Bollettino Salesiano, bắt đầu từ tháng Năm, 1883.
61 Positio super Introductione Causae (Rômae, 1913), Summarium, 152.
62 Summarium, 153.
63 Xem hai bản văn bởi M. Rua, Memorie riguardo al giovane Savio Domenico, được
tường trình trong Summarium, 222-227.

6.2 Page 52

▲torna in alto
52 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
để tiếp tục kế hoạch của mình là thiết lập một Tu hội. Nhân vật
chống giáo sĩ này rất trân trọng “đức ái nhân đạo” của Don Bosco;
ông cũng đã gửi gắm ngài một vài thiếu niên nghèo; khi Don Bosco
yêu cầu, ông đã hỗ trợ tài chánh cơ bản nào đó cho ngài. Chúng ta
phải trở lại có lẽ tháng Năm năm 1857; Don Bosco đã có cuộc nói
chuyện mang tính quyết định với ông Rattazzi tại Bộ, nhân dịp ngài
đến cám ơn ông. Rattazzi hỏi xem ngài đã có nghĩ về tương lai công
cuộc của mình hay không. Tại sao ngài lại không lập một hội gồm
những người giáo dân và giáo sĩ? Don Bosco nhận xét, nhưng liệu
chính quyền Piedmont lại không thù hằn gì với loại hội đó sao?
Rattazzi trả lời rằng Don Bosco không nên thành lập một cơ sở Dòng
tu truyền thống, nghĩa là một hội có manomorta hay một hội đặc
quyền, miễn thuế, nhưng một hội trong đó mỗi thành viên vẫn giữ
những quyền công dân của mình, tuân phục các luật lệ Nhà Nước,
trả thuế, v.v., nghĩa là một Hội gồm những công dân tự do.
Điều này đã khai sáng cho Don Bosco. Mặc dù hội đó sẽ là một
Tu hội trước mặt Giáo hội, nhưng trước mắt Nhà Nước, nó mang
hình thức của một hội bác ái mà đáp ứng được những tiêu chuẩn trên.
Vào cuối năm 1857, hay chậm nhất là vào đầu năm 1858, Don Bosco
đọc cho Rua viết, với tựa đề “Tu hội Thánh Phanxicô Salê”. Đó là một
cuốn vở gồm 15 trang giải thích nguồn gốc, mục đích, hình thức, lời
khấn, cai quản, và cách thức người ta có thể được chấp nhận trong
hội này.64 Thày Micae Rua chép lại từ những lời của Don Bosco: “Mục
đích của Tu hội này là quy tụ những phần tử Giáo hội lại với nhau,
giáo sĩ và giáo dân, để tìm kiếm sự hoàn thiện bằng cách bắt chước
nhiều nhất bao có thể đời sống của Đấng Cứu Độ Thần Linh.”65
Không có gì phức tạp, và nhất là không có những lời khấn trọng vốn
trói buộc từ quan điểm pháp lý. “Tất cả phần tử sẽ sống đời sống
chung chỉ ràng buộc do tình bác ái huynh đệ và những lời khấn đơn
nhằm khuyến khích họ sống đồng tâm nhất trí phụng sự Thiên Chúa”.
Don Bosco đã lưu ý đến lời khuyên của Rattazzi: “Khi vào Tu hội mỗi
64 Vở bài làm này được tìm thấy FdB 1893E5-1894A10.
65 G. Bosco, Costituzioni della Società di S. Francesco di Sales [1858]-1875. Những bản
văn phê bình F. Motto biên soạn, Rome, LAS, 1982, 72.

6.3 Page 53

▲torna in alto
Học Triết Học | 53
người sẽ không mất những quyền công dân sau khi tuyên khấn, và
vì vậy, họ sẽ giữ quyền sở hữu những thứ là của họ, khả năng thừa
kế và tiếp nhận những của thừa kế, di sản và biếu tặng”.66 Tu Hội
này sẽ là một hội gồm những công dân tự do.
Don Bosco quyết định trình bày dự phóng này lên Đức Giáo
Hoàng. Từ năm 1849 Don Bosco đã được biết đến ở Vatican, khi các
thanh thiếu niên của ngài tham gia một cuộc lạc quyên vì Đức Piô
IX; ngài đã cám ơn các em. Don Bosco sẽ đến Roma, cùng với Micae
Rua trong vai trò thư ký.
Ở Rôma với Don Bosco năm 1858
Chuyến đi từ Torino đến Roma kéo dài bốn ngày, từ rạng sáng
ngày 18 tháng Hai năm 1858 đến tối khuya ngày 21 tháng Hai, với
các phương tiện là xe lửa, rồi bằng thuyền, và cuối cùng bằng xe
thư. Tại Roma, Don Bosco là khách quý của Gia đình Maistre, ở số
49 đường Quyrinale. Lúc đầu thày Rua cũng ở đó, nhưng ít lâu sau
thày rời đi, và tìm được chỗ ở các với những tu sĩ Rosmini; thày cần
dậy rất sớm ban sáng để họp mặt với Don Bosco.67 Hai người dự liệu
sẽ ở lại Roma khoảng từ một hoặc hai tháng; họ tổ chức giờ giấc của
mình. Don Bosco muốn cải thiện những điều lệ của Hiệp hội đang
trong tiến trình thành lập này. Và thày Rua sẽ gởi các thư, chép nhiều
bản văn bằng chữ viết tay rất đẹp của thày, đặc biệt cuốn Il mese di
maggio của Don Bosco. Thày sẽ tháp tùng Don Bosco khi ngài vào
thành phố.
Khi các tuần lễ trôi qua, cả hai thăm viếng Rôma đúng như những
khách hành hương đam mê về kiến trúc và lịch sử, và như các tông
đồ tò mò về những kinh nghiệm mục vụ trong thành phố của các
Giáo hoàng. Họ đi rảo bộ khắp chốn, đôi khi dưới mưa mà chỉ có
một cây dù thôi, trừ phi một người quí phái nào đó cho họ đi nhờ
xe ngựa. Họ thu lượm nhiều thông tin hằng ngày, đẹp đẽ và xây
66 G. Bosco, Costituzioni…, 82.
67 Chúng tôi đã thông tin chi tiết về chuyến đi đó từ một vở bài làm viết tay gồm
75 trang Viaggio a Rôma, 1858, in FdB 1352E3-1354A5; nó được Rua viết, nhưng
được coi là nhật ký của Don Bosco

6.4 Page 54

▲torna in alto
54 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
dựng, được đọc (trong báo) hay chỉ ngẫu nhiên nghe được, để viết
xuống trong nhật ký, đầy các chi tiết. Họ thăm viếng Thánh đường
Chúa Giê-su, điện Pantheon, Thánh đường thánh Phêrô bị xiềng xích,
thánh Lu-y của người Pháp, Đức Bà Cả, thánh Gioan Laterano, và tất
nhiên cả Vương cung thánh đường Thánh Phêrô tại Vatican, Lâu đài
Sant’Angelo và những khu vực xung quanh. Đối với Don Bosco, đã
từng xuất bản cuốn cuộc đời thánh Phêrô, cuộc thăm viếng cảm động
nhất cùng với thày Micae Rua và Gia đình Maistre chắc chắn là nhà
tù Mamertino vào ngày 2 tháng Ba. Don Bosco viết cho cha
Alasonatti: “Chỉ nhìn thôi thì cha đã phát khiếp rồi”.68 Trước sự hiện
diện của Gia đình Maistre, Don Bosco đã cử hành thánh lễ tại một
bàn thờ nhỏ gần “Cột của Thánh đường Thánh Phêrô”.
Don Bosco và thày Rua khớp vào các thực hành sùng mộ ở những
nơi họ đến. Ngày 23 tháng Hai, tại Thánh đường Thánh Phêrô bị
xiềng xích, người ta đặc biệt tôn kính các xích xiềng xích của vị tông
đồ. Nhật ký của cuộc hành trình này viết: “Chúng tôi đã được an ủi
là tận tay chạm vào những xiềng xích này, hôn kính chúng, vòng
chúng quanh cổ và trán mình”. Ngày 25, cả hai đã quì bước lên 28
bậc của Scala Santa [Bậc thang Thánh]; vào ngày 13 tháng Ba, họ
dừng tại Thánh đường Đức Maria của các Thiên thần, ở đó họ muốn
lãnh nhận ơn toàn xá. Tại bàn thờ, họ tôn kính nhiều thánh tích ấn
tượng. Nhật ký viết: “Khi lòng sủng mộ đã thỏa, chúng tôi về nhà
vào khoảng 6 giờ, rất mệt và được ăn ngon”. Hai người khách đến
từ Torino đó rất quan tâm đến những hội Bác Ái của Roma, để rồi có
sự so sánh chúng với công cuộc của mình. Họ cũng thăm viếng Nhà
Tata John, phong thái sống ở đó xem ra rất tương đồng với phong
thái sống tại Valdocco; cả hai cũng đến một trường bác ái được điều
hành do Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô tại Santa Maria dei Monti; họ
cũng thăm San Michele, một cơ sở lớn tiếp nhận “hơn 800 người,
trong đó có tới 300 người trẻ”, hai ngài cũng tiếp xúc một số Nguyện
xá gắn liền với truyền thống của Thánh Philip Neri.
Đối với cả hai, thời khắc quan trọng nhất hiển nhiên là cuộc triều
68 Lá thư của G. Bosco gởi V. Alasonatti, Rome, 7 tháng Ba, 1858, trong Epistolario
I, 340.

6.5 Page 55

▲torna in alto
Học Triết Học | 55
yết Đức Giáo hoàng, mà Don Bosco đã xin ngay khi đến Roma. Ngày
mồng 8 tháng Ba, khi trở về sau một ngày mệt nhọc, Don Bosco mở
một lá thư khiến ngài bị khích động. “Tôi mở thư ra đọc, và đây là lý
do chính: xin thông tri cho cha Bosco rằng Đức Thánh Cha đã xem là
xứng đáng để ban cho ngài một buổi triều yết, vào ngày mai mồng
9 tháng Ba, lúc 11: 45”. Hôm sau, được tư giáo Rua tháp tùng, Don
Bosco có mặt tại Vatican, trên vai khoác chiếc áo choàng theo nghi
lễ, đầy xúc động. Nhật ký ghi lại: Họ máy móc bước lên cầu thang
“hơn là ý thức, với cả ngàn ý tưởng”. Những người canh gác “ăn mặc
như thể đúng là các hoàng tử” khiến cho hai người bị ấn tượng. Khi
họ vào đại sảnh giáo triều, các lính canh và tiếp tân “ăn mặc sang
trọng” cúi chào hai người khi đến lấy lá thư hẹn cho buổi triều yết
Don Bosco đang cầm trên tay. Cảnh tượng các khách lui tới tấp nập
trong phòng chờ giữ họ bận rộn khoảng một tiếng rưỡi mới chờ đợi.
Bản tường trình miêu tả: Khi được vị phụ trách mời vào, Don Bosco
phải “cố gắng hết sức để bình thản”. Rua đi theo, tay cầm những bản
của tờ Catholic Readings là món quà họ dâng lên Đức Thánh Cha. Họ
bái gối ba lần theo nghi thức: trước tiên ở lối vào đại sảnh, rồi ở giữa,
và cuối cùng ở chân Đức Giáo Hoàng. Nỗi e sợ của cả hai biến mất
khi họ thấy trước mình “một con người đáng kính, rất mực hiền từ,
đẹp đẽ mà một họa sĩ có thể vẽ”. Vì Đức Giáo Hoàng ngồi tại bàn
nên hai người không thể hôn chân ngài như đã nghĩ. Họ chỉ hôn tay
ngài. Nhưng vì nhớ mình đã hứa với những tư giáo tại Valdocco, nên
thày Rua hôn tay ngài hai lần, một cho chính mình và một cho các
bạn hữu. Họ vẫn quì, và rất kính trọng, Don Bosco đã tiếp tục nói
theo cách đó. Đức Piô IX nói với Don Bosco: “Không, con hãy đứng
lên!” Khi Đức Giáo Hoàng hiểu rằng mình đang nói chuyện với vị
tông đồ giới trẻ từ Torino, ngài hỏi thêm nhiều về Nguyện xá, về
thanh thiếu niên, về các tư giáo, và nhắc lại món quà mà ngài nhận
được tại Gaeta. Don Bosco dâng ngài những bộ sách của tờ Catholic
Readings. Don Bosco cắt nghĩa: "Có 15 em đóng sách ở chỗ chúng
con”. Đức Giáo Hoàng đi vào trong một lát rồi trở lại với 15 mẫu ảnh
Mẹ Vô Nhiễm. Đức Giáo Hoàng ban ảnh cho các em đóng sách và
có một mẫu lớn hơn cho Rua. Ngài đưa cho Don Bosco một hộp chứa
đựng một mẫu ảnh đẹp khác. Khi Đức Giáo Hoàng sắp nói lời tạm

6.6 Page 56

▲torna in alto
56 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
biệt với hai người thì Don Bosco xin xem có thể được thưa chuyện
riêng với ngài hay không. Thày Rua bái gối đi lùi xuống giữa phòng
rồi rút lui. Khi ở riêng với Đức Giáo Hoàng, Don Bosco nói về những
kế hoạch lập Tu hội mới; Đức Giáo Hoàng khuyến khích Don Bosco
yêu cầu các cộng sự viên phải tuyên khấn. Thày Rua được gọi vào
lại, và cuộc triều yết kết thúc bằng một phép lành long trọng trên
Don Bosco, trên thày Rua và những người chia sẻ cùng sứ mệnh đó,
các cộng sự viên và ân nhân, cuối cùng trên những thanh thiếu niên
và tất cả những công việc của ngài. Don Bosco và Rua trở lại Quattro
Fontane, lòng đầy kính mến và tri ân đối với Đức Giáo Hoàng đã đối
xử với mình một cách hiền phụ như thế.
Buổi triều yết Giáo hoàng tiếp theo là vào ngày 6 tháng Tư; cùng với
Don Bosco và thày Micae Rua, nó liên hệ đến cha Leonard Murialdo,
một vị tông đồ thánh thiện khác của giới trẻ Piedmont, và lúc đó
đang là Giám đốc của Nguyện xá thánh Lu-y, cũng được tham dự
buổi triều yết. Và thực sự hôm đó là ngày cuối để nói lời tạm biệt
Đức Thánh Cha. Don Bosco trao cho Đức Giáo Hoàng một lá thư đến
từ Gustavo di Cavour, đề xướng một sự hòa giải liên quan đến số
mệnh của Đức Tổng Giám mục Fransoni, bị lưu đầy ở Lyon, và liên
quan đến tương lai của địa phận Torino, nay không có chủ chăn suốt
9 năm. Tài liệu đó được trao cho Hồng y Antonelli. Đức Giáo Hoàng
tỏ lộ “sự hiền dịu đáng kinh ngạc” với Don Bosco. Suốt cuộc trò
chuyện dài 3 khắc đồng hồ, Đức Piô IX ban cho Don Bosco tất cả
những ân huệ và phúc lành thiêng liêng ngài xin. Đức Giáo Hoàng
cho ngài thêm 40 đồng tiền vàng cho bữa điểm tâm cho thanh thiếu
niên tại Nguyện xá. Leonard Murialdo và Micae Rua “vui mừng khôn
xiết”, Don Bosco đã viết tin này cho cha Alasonatti hôm sau.69 Ngày
14 tháng Tư, hai người lữ khách đã về lại Torino, đầy thông tin và
cảm xúc về Roma, về lịch sử, các thánh đường, những công cuộc bác
ái, và nhất là về vị Giáo Chủ đáng kính. Họ đã đến nơi bằng xe lửa
từ Genova vào ngày 16 tháng Tư.
Những phiêu lưu trong chuyến hành trình đó đã thắt chặt hơn mối
liên hệ giữa người thày và môn đệ. Vào tháng Bảy, Don Bosco viết
69 Thư của G. Bosco gởi cho V. Alasonatti, Rome, 7 tháng Tư, 1858, trong Epistolario I, 346.

6.7 Page 57

▲torna in alto
Học Triết Học | 57
thư bằng tiếng La-tinh trả lời cho Micae Rua khi thày xin ngài một
lời khuyên. Lá thư đó bộc lộ không chỉ loại lối thiêng tích cực được
Don Bosco dạy dỗ, nhưng cả phong thái liên hệ của họ, mà nay là
một mối liên hệ hoàn toàn thân hữu. Đây là bản dịch đầy đủ của lá
thư đó:
Con yêu mến,
Ước chi niềm vui và ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng
ta, luôn ở trong tâm hồn chúng ta. Con đã xin cha một lời
khuyên bổ ích mà cha vui vẻ thực hiện với chỉ một ít lời vắn
gọn.
Con hãy biết và ghi nhớ rằng đau khổ hiện tại không thể sánh
với tương lai vinh quang được tỏ cho chúng ta. Vì thế, chúng
ta hãy liên lỷ và can đảm tìm kiếm vinh quang này.
Đời sống con người trên trần giống như sương khói tan bay,
tựa một chút nhẹ bồng tiêu tan, giống như bóng sổ qua mau,
hoặc một gợn sóng nhấp nhô. Như vậy chúng ta hãy coi thường
những của cải đời này và nhiệt nồng tìm kiếm những của cải
trên trời.
Con hãy luôn vui trong Chúa; dù ăn dù uống dù làm bất cứ
điều gì, con hãy làm để Chúa được vinh quang hơn.
Mừng con yêu dấu. Hãy cầu nguyện cùng Chúa cho cha.
Người anh em của con,
Cha Bosco
Thánh Ignatio gần Lanzo, ngày 26 tháng Bảy, 1858.70
Đối với Don Bosco tư giáo Rua nay là một bạn đồng hành, một hội viên.
Khảo luận “De Deo uno et trino” [Một Chúa Ba Ngôi]
Hành trình Roma diễn ra giữa một loạt khảo luận thần học mà tư
giáo Rua tiếp tục nghiên cứu trong khi theo học tại chủng viện
Torino. Tháng Bảy năm 1859, vào những bài thi cuối trong năm,
thày được chấm điểm nhất giữa bảy ứng sinh với lời phê “plusquam
70 Epistolario I, 355.

6.8 Page 58

▲torna in alto
58 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
optime” [‘tuyệt vời’].
Công Hàm Salêdiêng còn giữ lại được năm trong số những vở bài
làm của thày Rua, với những ghi chú từ cuối thập niên 50, mang tựa
đề De Deo uno et trino (Một Chúa Ba Ngôi); cuốn thứ hai được ghi năm
1859. Tất cả gồm 132 trang. Nội dung của những khảo luận này
thật thú vị. Theo thứ tự, khảo luận bàn đến Thiên Chúa hiện hữu,
đến yếu tính của ngài, những thuộc tính cả “phủ định” nghĩa là tính
vĩnh cửu, vô biên, bất biến, tự do và duy nhất lẫn “tích cực” nghĩa là
sự thánh thiện, chân lý, tri thức, thiện hảo, công chính và quan
phòng. Cuốn vở thứ ba bàn riêng đến Ba ngôi, và bắt đầu với định
nghĩa về sự “xuất phát” và “tương quan”, cho thấy rằng trong Thiên
Chúa có ba ngôi vị thật sự khác biệt và tìm cách xác định cội nguồn
cho chỗ đứng của Ngôi Hai và Ngôi Ba, nhấn mạnh đến Ba Ngôi
đồng bản thể và cuối cùng tìm cách giải quyết những vấn nạn chống
lại định tín Ba Ngôi. Như thế, chúng ta đang bàn đến một nghiên
cứu hoàn toàn cổ điển, như ta có thể kỳ vọng từ những thần học gia
Kinh viện của thế kỷ 19. Nó nói cho lý trí nhưng lại nói ít cho tâm
hồn hơn.
Cũng có những vở bài tập khác của Rua từ cùng một thời kỳ mang
tựa đề De iustitia et iure 1859-60 [Công bằng và quyền lợi].
Dường như thày chủng sinh Rua không mấy mặn mà với các môn
Thần học tín lý và luân lý. Thày chuyên chú học hành trong khóa học
và làm bài thi cách xuất sắc. Tháng Hai năm 1860, những vị khảo thí
chúc mừng thày và tưởng thưởng thày là người nổi bật. Nhưng thày
Rua ưa chuộng Kinh thánh, đúng hơn, Sách Thánh; thày đã bắt đầu
gom góp một loạt các vở bài tập (ngày nay chúng ta lưu giữ được cả
thảy 18 cuốn), nhằm sẽ xuất bản một tác phẩm (mà thực tế ngài
không bao giờ làm). Công trình thu tập bắt đầu với sáu ngày tạo
dựng, thuật lại cách chi tiết và súc tích trong 80 trang. Chúng ta có
thể hiểu tác phẩm đó mặc dù chúng ta không hoàn toàn đồng ý với
nó. Khoa chú giải Kinh Thánh trong thời của tư giáo Rua vẫn ở trong
giai đoạn sơ sài mà thôi.
Thày Micae Rua cật lực làm việc. Chúng ta có thể hình dung điều
này chỉ bằng cách nhìn vào thời khóa biểu của thày. Suốt ngày những

6.9 Page 59

▲torna in alto
Học Triết Học | 59
trách vụ của thày tại Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê hay Lu-y đã
choán hết thời giờ chính rồi. Thày phải tận dụng giờ giấc ban chiều,
chứ không phải ban đêm vì Don Bosco không cho phép, hoặc thày
phải thức dậy rất sớm để học. Tại Torino, thày thường thức dậy lúc
2 giờ hay 2 giờ rưỡi trong mùa đông lạnh lẽo, như Giáo sư Alexander
Fabre, người gia nhập Nguyện xá vào tháng Mười năm 1858, sau
này đã làm chứng. Thày một mình quì cầu nguyện trên nền nhà, gần
chiếc bàn trong phòng học. Khi đồng hồ điểm ba giờ, thày tới các
phòng, ở đó có sáu, bảy, mười hay thậm chí mười lăm người cộng
tác đang ngủ, để đánh thức họ. Mùa hè, việc này còn dễ chịu, nhưng
mùa đông thật là khó. Một trong những thiếu niên thuộc nhóm đó
sau này viết: “Rất nhiều lần xảy ra là nước trong chậu ở chân giường
đã đóng băng ! Thế là chúng tôi liền mở toang cửa sổ ở gác xép,
hướng mặt ra mái hiên và dùng tay hứng tuyết để rửa mặt”. Không
đủ ánh sáng để học hành: Ngọn đèn dầu leo lét được gọi là
cappuccino bởi vì cái chụp đèn giống như cái chụp mũ đầu [của các
thày dòng Phanxico].14 Vào 5 giờ rưỡi, các thiếu niên can đảm này
đã ở với những học sinh khác. Như vậy, mỗi sáng thày Rua có thể
được ba tiếng học thần học trước Thánh lễ.
Tổ chức Tu Hội Thánh Phanxicô Salê
Dưới diện chính trị, năm 1859 khắc họa với sự thống nhất nước Ý
dưới sự dẫn dắt của miền Piedmont, và ở Valdocco, với việc thành
lập Hiệp hội mà Don Bosco đã từng mơ đến.
Cuộc chiến thắng chống lại nước Áo ở vùng Lombardy kết thúc
vào ngày 11 tháng Bảy, với cuộc đình chiến tại Villafranca. Có một
vài cuộc nổi dậy của dân chúng trong những lãnh địa thuộc giáo
hoàng miền Romagna, được những nhân vật vùng Piedmont khuấy
lên. Các cuộc cách mạng này đã được những đại biểu ở Torino phê
duyệt vào giữa hai tháng Tám và tháng Chín; điều này muốn nói lên
rằng, chẳng mấy chốc toàn miền Bắc của Bán Đảo ấy đều nằm dưới
sự kiểm soát của Vương quốc Sardinia. Đối với Đức Thánh Cha Piô
IX, đây là một cuộc tấn công nghiêm trọng vào thẩm quyền giáo
hoàng của ngài. Nhưng Valdocco đã đứng về phía Đức Thánh Cha
không một chút do dự. Don Bosco, tác giả của cuốn Storia d’Italia

6.10 Page 60

▲torna in alto
60 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
[Lịch sử nước Ý], luôn được coi là thành phần ủng hộ nước Áo và ít
nhiệt tâm đối với cuộc chiến thống nhất nước Ý; nhưng nay ngài bị
tờ báo Gazzetta del popolo coi là nguy hiểm và phản động, và họ đã
trực tiếp tấn công điều ấy ngày 18 tháng Mười. Vào ngày 9 tháng
Mười Một, Don Bosco gởi cho Đức Thánh Cha một lá thư dài, diễn tả
cho thấy hàng giáo sĩ và tất cả những người Công giáo tốt lành phản
đối toàn diện thái độ của Chính quyền Piedmont. Đức Thánh Cha đã
trả lời bằng một chiếu thư đã được Don Bosco xuất bản trong tờ báo
bảo thủ L’Armonia, khiến các đối thủ của ngài giận dữ.
Trong bầu khí căng thẳng như thế, thày Rua nhanh chóng hoàn
tất xong những giai đoạn còn lại của chặng đường tiến tới đời linh
mục. Ngày 11 tháng Mười Một, Đức Giám mục Gioan Antôn Balma
ban "nghi thức" cắt tóc và bốn chức nhỏ cho thày Rua; rồi đến ngày
17 tháng Mười Hai, thày lãnh nhận chức phụ phó tế và tuyên bố
sống độc thân. Vài ngày sau, trong tư cách một phụ phó tế, thày Rua
tham dự cuộc họp thành lập Tu hội Salêdiêng.
Vào tháng Mười Hai, Don Bosco đã tạo cho Tu hội của mình một
cơ cấu đơn giản nhưng thích hợp. Tối thứ sáu ngày mùng 9, khi nói
chuyện với các cộng sự viên, ngài tuyên bố rằng vào ngày 18 sẽ có
một cuộc họp dành cho những ai muốn cam kết ở lại với ngài. Bất
kỳ ai không chấp nhận điều này được yêu cầu không có mặt.
Bản quy luật được Rua chép có một chương gọi là “Cai quản Tu
hội”. Khoản đầu tiên viết: “Tu hội sẽ được cai quản bằng một nhóm
người gồm một Giám đốc (Rector), Phó Giám đốc (Prefect) [ghi chú
của người dịch: sau này một số chỗ khác dùng từ ngữ: Phó Bề trên], Quản
lý [economo], Linh hướng hay Giám linh và hai Cố vấn (mà thực tế
có tới ba, vì từ bản văn gốc)”. Để xác định nhóm cai quản này, Don
Bosco cố ý chọn hạn từ “nhóm” (chapter), nghĩa là, “tập thể” (college)
hơn là “hội đồng” (council), được dùng trong những khuôn mẫu Hiến
luật mà ngài đã được khởi hứng. Những quyết định phải được thực
hiện do sự đồng thuận. Thẩm quyền của Giám đốc không tuyệt đối,
việc cai quản sẽ mang tính tập đoàn (collegial).
Những khoản sau đó giải thích những cách thức để chọn Giám đốc
và những trách vụ Phó Giám đốc và Linh hướng. Đây là ba khoản

7 Pages 61-70

▲torna in alto

7.1 Page 61

▲torna in alto
Học Triết Học | 61
luật liên quan đến Linh hướng có tầm quan trọng lớn lao. Chúng ta
đọc thấy:
Khoản 2 : Vị Linh hướng sẽ đặc biệt chăm sóc tập sinh; ngài sẽ
quan tâm rất nhiều đến việc xin họ học tập và thực thi tinh thần
bác ái và nhiệt thành vốn phải sinh động người muốn tận hiến
đời mình cho sự thiện hảo của giới trẻ bị bỏ rơi.
Khoản 3 : Vị Linh hướng cũng có bổn phận đặc biệt chú tâm
đến lối hành xử của Giám đốc với bổn phận nghiêm nhặt là
khuyên ngài nếu ngài xao nhãng bất kỳ điều gì trong việc tuân
giữ những quy luật của Tu hội.
Khoản 4 : Vị Linh hướng cũng có trách vụ đặc biệt là để mắt
đến thái độ luân lý của tất cả mọi phần tử được quy tụ lại”.
Phiên họp vào ngày 18 nhắm tới mục tiêu làm thế nào để chọn ra
nhóm này. Chiều tối đó, vào lúc 9 giờ tối, có 18 người tụ tập trong
phòng nhỏ của Don Bosco. Gồm hai linh mục là Don Bosco và cha
Alasonatti; phó tế Angelo Savio, Phụ phó tế Rua, 13 tư giáo và cuối
cùng một giáo dân trẻ. Hội Nghị được ghi vào biên bản do vị thư ký
là Alasonatti. Theo tài liệu này, thì nguyên sự hiện diện thôi, những
người có mặt trong cuộc họp đã xác định ý hướng của họ là “cổ xúy
và gìn giữ tinh thần đức ái chân thật cần thiết cho công cuộc của các
Nguyện xá dành cho giới trẻ bị bỏ rơi và gặp nguy hiểm; trong
những thời đại tai họa đó, các em bị dẫn dụ bằng ngàn cách làm
phương hại đến xã hội, và dần dần bị dẫn tới sự vô đạo và vô thần”.
Họ đồng tâm nhất trí “dựng lên một Tu hội, nơi đó họ giúp nhau
thánh hóa chính mình vì vinh quang Thiên Chúa và cứu rỗi các linh
hồn, nhất là những người cần được dạy dỗ và giáo dục hơn cả”.
Sau đó họ tiến hành việc tuyển chọn những thành viên quản trị
Tu hội mới ấy. Tất cả cầu xin Thánh Thần cách vắn gọn, sau đó họ
xin Don Bosco, “người khơi mào và cổ xúy” Hội, chấp nhận vai trò
Giám đốc. Có thể đưa ra giả thiết rằng Don Bosco lo sợ do bản tính
hay thay đổi, các thiếu niên của mình sẽ không luôn tử tế với cha
Alasonatti khắc khổ, nên Don Bosco đồng ý giữ chức vụ giám đốc với
điều kiện là chính ngài có thể chọn vị Phó Giám đốc của Hiệp hội; và

7.2 Page 62

▲torna in alto
62 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
người đó chính là Alasonatti, Phó Giám đốc của Nguyện xá. Hội nghị
chỉ có thể phê chuẩn. Rồi, chắc chắn với sáng kiến của Don Bosco,
nhóm quyết định rằng đối với những vai trò khác, nghĩa là vị linh
hướng, quản trị và ba cố vấn, việc tuyển chọn sẽ là bầu phiếu kín. Vì
vậy, theo biên bản, vào buổi tối đó, hội nghị “nhất trí” đầu phiếu
cho Phụ phó tế Rua đảm nhận vai trò “linh hướng” của Hiệp hội mới.
Ở bên cạnh Don Bosco, thày sẽ là người canh giữ linh hồn; được mọi
người tin tưởng, thày có trách nhiệm quan tâm đến việc đào luyện
những người mới gia nhập, và bảo đảm rằng họ có được tinh thần
tu sĩ và Kitô hữu chân chính. Don Bosco biết mình có thể tin tưởng
người thanh niên này, dù vẫn chưa qua tuổi 22. Thày Angelo Savio
được chọn là người quản trị; Gioan Cagliero, Gioan Bonetti và Charles
Ghivarello được chỉ định là các cố vấn.71 Cơ cấu của Hiệp hội đã đầy
đủ.
71 Alessandro Fabre, "Per la memoria di D. Rua", Pinerolo 18 tháng Sáu năm 1910,
trong FdR 2839B2-8 (bản văn được Amadei đảm trách I, 124).

7.3 Page 63

▲torna in alto
5
Micae Rua
Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ | 63
Như MỘT LINH MỤC TRẺ
Chuẩn bị
Khi được chỉ định là linh hướng của Tu hội Salêdiêng mới khai
sinh, thày Micae Rua vẫn đang theo học thần học tại chủng viện
Torino, và đang chuẩn bị chịu chức linh mục vào cuối niên học. Một
vài vở bài tập của ngài, chẳng hạn những cuốn vở ghi chép khảo
luận De legibus [về luật lệ] vào năm 1859-1860. Thày vẫn luôn tỏ ra
rất tích cực. Ngay từ năm 1855, năm lớp đệ nhị cấp đã dần được
thành lập tại Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê, thày Rua chịu trách
nhiệm giám thị chúng.
Luôn tế nhị, thày Rua kín đáo và không chút khoe khoang lòng
nhiệt thành của mình trong đức tin. Tính trầm tư giúp thày kiềm chế
lời nói và hành động. Lý trí cai trị những đam mê của thày, giúp thày
luôn giữ tâm thế bình thản. Khi đến giờ cầu nguyện, thày đơn sơ
toàn tâm hiến thân cho việc đó. Và như Don Bosco, thày làm cho
công việc thành lời cầu nguyện trong suốt thời gian còn lại.
Nhiều người đã chứng nhận điều này. Cậu Giacinto Bellesio đã
đến Nguyện xá năm 1858, làm chứng rằng: “Tư giáo Rua nổi bật về
lòng đạo đức đơn sơ, chân thành và đáng quí. Nhìn thày cầu nguyện,
dù trong lúc học hành hay trong lúc đọc kinh tối dưới mái vòm, hoặc
trong nhà thờ với khuôn mặt tỏa rạng, vẻ điềm tĩnh của thày tỏ lộ rõ
lòng trí thày hoàn toàn say đắm trong Thiên Chúa. Người ta cảm
thấy dường như thày nhìn thấy Chúa, cảm nhận Chúa Giêsu hiện
diện, vui sướng cầu nguyện và điều này giúp chúng tôi càng cầu

7.4 Page 64

▲torna in alto
64 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nguyện hơn nữa”.72
Như vậy, tìm kiếm những cảm nghiệm dạt dào về tâm linh trong
những cuốn vở cá nhân thày ghi lại quả là vô ích. Đó không phải là
phong thái của thày. Những trải nghiệm thần linh ấy hoàn toàn xảy
ra trong thẳm cung linh hồn thày, khi liên lỷ giao tiếp với Thiên Chúa.
Tuy nhiên, chúng ta đừng vẽ lên một thày Rua với dáng vẻ là một
kẻ kín đáo và lầm lỳ mà thôi. Cùng nhân chứng đó cũng nói: “Dù
làm chủ tính tình và cách xử thế đáng tôn quí, thày Rua quả là linh
hồn trên sân chơi, thày hướng dẫn ca hát và trò chơi; thày biết cách
lồng vào đó một lời khuyên thích hợp, một ghi nhận đúng chỗ hay
một suy tư”.73
Ngày 17 tháng Ba năm 1860, thày Rua bắt đầu cuộc tĩnh tâm cuối
cùng chuẩn bị cho chức phó tế tại nhà các Linh Mục Truyền giáo
(Vincentians). Thày được thụ phong phó tế vào ngày 24 tháng đó.
Việc ngài được thụ phong linh mục không còn bao xa nữa.
Đang khi đó, những khó khăn của Đức Piô IX cứ tiếp tục chồng
chất, và Don Bosco cố gắng tìm cách hỗ trợ ngài. Các cuộc thăm dò
được tiến hành trong nhiều lãnh thổ khác nhau đối với miền Bắc
Roma, bởi trong dự tính, tất cả sẽ được sát nhập vào Piedmont. Rất
mực rối trí, Đức Giáo Hoàng ra vạ tuyệt thông “những kẻ xâm lược
và tiếm quyền”. Viết thư cho Đức Thánh Cha Don Bosco biểu lộ hoàn
toàn ủng hộ chính sách của ngài. Don Bosco cũng gởi cho Đức Thánh
Cha một lá thư an ủi do các thiếu niên Nguyện xá viết; bên cạnh đó,
là những thông tin về kế hoạch để tiếp quản những lãnh thổ thuộc
Nước Giáo Hoàng.74 Ở Torino, việc nâng đỡ Đức Piô IX mang lại
không ít vấn đề. Dinh thự của Bá tước Cays, cùng với nhà của Kinh sĩ
Ortalda, cha Cafasso và Don Bosco bị khám xét. Ngày 26 tháng Năm,
những văn phòng quản trị của Nguyện xá bị khám xét kỹ lưỡng. Vài
72 Chứng từ được Amadei trích dẫn I, 121.
73 Amadei I, 121-122.
74 Lá thư của Don Bosco gởi cho Đức Giáo Hoàng Piô IX, Torino, 13 tháng Tư năm
1860, trong Epistolario I, 400-401.

7.5 Page 65

▲torna in alto
Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ | 65
ngày sau các trường thuộc về nhà đó cũng bị khám xét như vậy.
Câu đầu tiên của một trong những lá thư Don Bosco gởi cho thày
Rua đang chờ được thụ phong linh mục là “Người con yêu dấu Micae
Rua”. Ta có thể hiểu đúng hơn khi đặt mình vào bối cảnh này. Vào
tháng Bảy, thày Rua ở với các cha Vinh Sơn trong cuộc tĩnh tâm chuẩn
bị gần cho đời linh mục. Thày đã viết một lá thư bằng tiếng Pháp xin
Don Bosco cho một lời khuyên hữu ích, và ngài đã trả lời bằng tiếng
Latinh. Dịch ra như sau:
Gởi người con yêu dấu Micae Rua; cha chúc mừng con trong
Chúa.
Con đã gởi cho cha một lá thư viết bằng tiếng Pháp; con viết
rất hay. Con hãy chỉ nên có chất Pháp trong ngôn ngữ và lời
nói mà thôi; còn trong tâm trí, cõi lòng và công cuộc, thì con
hãy có chất Roma không chút sợ hãi và quảng đại.
Con hãy chú tâm lắng nghe điều cha sẽ nói cho con. Nhiều gian
lao đang chờ đợi con, nhưng cùng lúc với chúng, Thiên Chúa
cũng sẽ ban cho con nhiều an ủi.
Con hãy nên gương sáng trong những việc lành; con hãy tìm
lời khuyên, liên lỷ cố gắng làm điều gì tốt trong mắt Chúa.
Con hãy chạy trốn ma quỉ, hy vọng vào Thiên Chúa, và cha sẽ
luôn ở với con, theo mức cha có thể.
Ước gì ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, luôn ở với
con. Chúc mừng con.
Cha Gioan Bosco.75
Thày Micae Rua luôn trung thành với Roma trong lời nói và việc
làm, thày không cần phải được lên lớp về điều này, nhưng chắc chắn
thày không bao giờ quên. Lời cảnh giác về những khổ cực đang chờ
đợi, thày đã nghe từ môi miệng của Don Bosco và bình thản sẵn sàng
chịu đau khổ.
75 Epistolario I, 419.

7.6 Page 66

▲torna in alto
66 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Micae Rua được thụ phong linh mục
Thày Micae Rua được thụ phong linh mục ngày 29 tháng Bảy năm
1860, do Giám mục Balma, phụ tá cho Đức Tổng Giám mục Fransoni
đang bị lưu đầy. Thày Rua được thụ phong linh mục trong Biệt thự
[Villa] thuộc về Baaron Bianco di Barbania; nơi đây Giám mục Balma
đã qua những ngày nghỉ. Biệt thự được toạ lạc tại Caselle, dọc theo
thung lũng Lanzo. Như cha Francesia viết, vì đường xe lửa từ Torino-
Lanzo chưa được xây dựng, Phó tế Rua rời Valdocco vào ngày 28
tháng Bảy, cùng với hai tư giáo trẻ là Celestine Durando và Gioan
Anfossi, cả ba cuốc bộ đến đó như người nghèo thường làm.76 Nhưng
khi tới nơi thày không đi ngủ (bởi sáng hôm sau giường của ngài vẫn
y nguyên), thày thức suốt đêm cầu nguyện. Ngày hôm sau, suốt nghi
lễ thụ phong tại nhà nguyện Thánh Anna trong biệt thự, cung cách
của thày đã khiến một vài người hiện diện phải rơi lệ theo lối diễn
tả tình cảm nào đó của nhà viết tiểu sử Francesia.77
Ngài trở lại Torino ngay hôm đó và sáng hôm sau, cử hành Thánh
lễ đầu tiên với tất cả sự đơn sơ trước cộng đoàn đông đảo tại Nguyện
xá, và có Don Bosco giúp lễ. Năm mươi năm sau, một chứng nhân,
lúc đó chỉ là một tư giáo trẻ, vẫn gợi nhớ “ánh nhìn thanh thản và
sốt sắng” của cha Rua khi tiến đến bàn thánh, “khuôn mặt rạng rỡ”
của ngài vào lúc thánh hiến và “lòng sốt sắng thiên thần” của ngài
khi cho rước lễ.78 Tối đó, cha Rua cho cộng đoàn huấn từ tối. Cách
nói đơn sơ, trực diện và thân mật của ngài làm vang lên những tràng
pháo tay giòn giã.
Nhưng ngày lễ thật sự của Nguyện xá không kết thúc ở đó. Nó
còn được tổ chức vào Chúa Nhật sau, ngày 5 tháng Tám, do cha Rua
cử hành Thánh lễ. Nguyện xá các Thiên Thần Hộ Thủ mà ngài tham
gia sinh hoạt như chúng ta biết, đã đến họp chung cùng với hàng
trăm em nội trú của Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê. Ngày đó tràn
ngập niềm vui, yêu thương và kính trọng. Những lời nhận xét và tán
76 Francesia, 50.
77 Francesia, 51.
78 Cf. Ceria, Vita, 46.

7.7 Page 67

▲torna in alto
Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ | 67
thưởng bằng văn xuôi lẫn văn vần vẫn còn được lưu giữ trong Công
Hàm Salêdiêng. Theo một lời bình luận, cha Rua được định nghĩa là
“khuôn mẫu cho giới trẻ, gương sáng cho các tư giáo, và môn đệ
xứng đáng của Đaminh Saviô”. Trong một bài khác, ngài được ca
ngợi là “một Thánh Phêrô mới vì yêu mến Chúa Giêsu, một Thánh
Gioan mới vì yêu mến những sự trên trời, một Lu-y Gonzaga mới vì
đời sống trong sạch, một Thánh Bênađô mới vì yêu mến Đức Nữ
Trinh, và một Don Bosco mới vì tận hiến cho giới trẻ”. Ngài đã được
coi là người kế vị xứng đáng của Don Bosco.79 Cha Micae Rua cho
rằng điều đó đã đi quá xa và ngài lên tiếng phản đối. Nhưng tiếng
hô cứ liên tục vang lên: “Cha Rua muôn năm!". Và cha Rua không
biết làm gì hơn là xin các bạn trẻ ít nhất phải thêm câu “Don Bosco
muôn năm!”.
Cha Auffray mô tả quang cảnh trong nhà hội ngày hôm đó như
sau: “Ngồi không xa con mình là mấy, bà cố cha Rua tham dự ngày
lễ đó như thể trong một giấc mơ. Bà không làm chủ được cảm xúc
đang dâng trào tâm hồn khi nhìn thấy đứa con còn lại duy nhất trong
bốn người con, được nâng lên hàng vinh dự như thế. Ở một góc
phòng hội, cha Picco già nua từng dạy cha Rua Hy lạp và La-tinh
khoảng 10 năm trước, thưởng nếm sự chiến thắng giản dị của cậu
học trò xuất sắc của mình. Đang khi ấy, ngồi phía bên phải của vị
tân linh mục, Don Bosco tươi cười với niềm vui khôn tả dù đã cố kìm
nén. Ai nấy như được đắm mình trong bầu khí ấm cúng độc đáo.
Đây là một gia đình đang vui mừng vinh thăng người con cả, dưới
ánh nhìn dịu dàng của người cha”.80
Công việc của linh mục trẻ Rua
Để có thể mô tả thích đáng số lượng công việc đổ trên cha Rua
trẻ tuổi vào thời điểm khai giảng niên học 1860-1861 quả không dễ
dàng. Ngài chịu trách nhiệm tất cả các lớp đệ nhị cấp tại Nguyện xá.
Vào tháng Bảy năm 1861, con số học sinh lên tới 317 em, chia thành
5 lớp. Con số này gia tăng hàng năm. Cha Rua trông coi tất cả không
79 Những tiết mục này trong văn vần hay văn xuôi được gom lại với nhau trong
FdR 2756B1-2757A4.
80 Auffray, 81.

7.8 Page 68

▲torna in alto
68 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chút ồn ào. Ngài lặng lẽ làm việc, nhưng với một nguồn năng lượng
khiến ta ấn tượng. Điều này khiến cho ngài dường như khắc khổ hơn
so với tuổi thực. Ngài thật hoàn hảo và những ai đến với ngài đều
phải khen ngợi ngài thật dịu hiền và thận trọng.
Cha Rua dành ngày Chúa Nhật để đến Nguyện xá các Thiên Thần
Hộ Thủ ở Vanchiglia, và làm việc với Giám đốc Roberto Murialdo.
Như chúng ta đã biết, đây là khu vực ngoại ô nghèo xác xơ. Tư giáo
Ballesio thường đi với cha Rua đến đây mùa hè năm 1861, đã không
ngớt nói về những ngày Chúa Nhật cực kỳ mệt nhọc thời đó. Cả hai
rời Valdocco lúc hừng đông; suốt buổi sáng họ ở giữa các thanh thiếu
niên tại Nguyện xá các Thiên Thần Hộ Thủ: Trong nhà thờ hay ngoài
sân chơi, với đồ chơi hay xích đu, cuộc rượt bắt và những trò chơi
khác. Ban trưa, họ trở lại Valdocco với nhiều trẻ em vây quanh và
sau đó dùng trưa với những đồ ăn để phần lại. Không ngơi nghỉ; họ
lập tức trở lại Vanchiglia để một lần nữa tham gia vào các sinh hoạt
tại nhà thờ và sân chơi. Những lễ nghi tôn giáo ban chiều thì ngắn
và xen lẫn với các bài giáo lý. Cha Rua không phải là nhà hùng biện
tài ba, nhưng ngài có thể dạy lịch sử giáo hội và giảng dạy theo lối
đơn sơ. Và rồi, khi chiều đến, ngài trở lại Valdocco, luôn luôn ăn tối
muộn. Và như Ballesio cho biết, cha Rua đi cầu nguyện hay học tập.81
Trong cuốn vở bài tập mang tựa đề Libro dell’esperienza,82 [Sách
kinh nghiệm] trong vai trò Phó Giám đốc, cha Rua thuật lại các hoạt
động khác nhau tại Nguyện xá các Thiên Thần Hộ Thủ: Tháng Đức
Mẹ, sự kiện Thêm sức năm 1861, được chuẩn bị kỹ lưỡng dựa trên
những sinh hoạt cơ bản hàng ngày trong một tuần trước đó. Lễ Mẹ
Lên Trời, Ngày lễ của Giám đốc và lễ Thêm sức tại Nguyện xá Thánh
Phanxicô Salê năm 1862... Do vậy cuốn Book of experience [Sách kinh
nghiệm] cung cấp cho chúng ta một chương trình được dự liệu cho
ngày lễ thánh quan thầy của Nguyện xá là các Thiên Thần Hộ Thủ
vào ngày 29 tháng Chín năm 1861: Thánh Lễ do cha Rua cử hành,
bữa trưa cho mọi người, thánh lễ hát và kinh chiều trọng thể do cha
81 Theo Giacinto Ballesio, trong Amadei I, 165-166.
82 Được tìm thấy trong FdR 2929B8-2930D7.

7.9 Page 69

▲torna in alto
Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ | 69
Leonard Murialdo chủ sự, và ban nhạc Valdocco chơi nhạc. Cha Borel
giảng. Tối đến có đốt pháo bông. Ngày lễ ấy kết thúc trong nhà thờ
với một thánh ca kính các Thiên Thần Hộ Thủ và kinh Truyền Tin
[Angelus]. Vào tháng Mười năm 1861, Đức Tổng Giám mục Fransoni
đã chúc mừng Don Bosco qua một lá thư ngài viết trong cảnh lưu
đày, về những thiện ích đạt được tại Nguyện xá các Thiên Thần Hộ
Thủ. Cha Rua hỗ trợ Nguyện xá đó trong môi trường sinh hoạt của
giới lao động, từ đây cho đến cuối đời, ngay cả và nhất là khi các hội
viên của ngài dành mối quan tâm ưu tiên hơn đối với trường học và
các ký túc xá.
Để chuẩn bị cho cuộc khảo hạch để được phép giải tội, cha Rua
theo giáo lý thần học luân lý của Kinh sĩ Zappata. Chúng ta có một
loạt những vở bài tập gồm 372 trang cả thảy. Chúng được đọc chép
hay sao chép? Chúng ta không biết chính xác. Tờ bìa của cuốn thứ
nhất cho chúng ta một dàn bài, bàn đến những hành vi nhân linh,
lương tâm, tội lỗi, giới răn Chúa và Hội thánh, đức tin. Đây tất cả là
những ý tưởng mà người ta có thể kỳ vọng tìm được ở khởi đầu một
khóa thần học.83 Rồi tiếp theo là luật lệ, thưởng phạt, công bằng và
quyền lợi, giao kèo, ban phát các bí tích, với chi tiết về phép rửa,
sám hối – với một ghi chú về các ân xá – xức dầu cuối cùng và hôn
phối. Cha Rua, vốn đã chu đáo đặc biệt và có khiếu ghi nhớ tuyệt
vời, đã ghi lại tất cả. Vào ngày 27 tháng Sáu năm 1862, sau khi hoàn
tất các khoá học này và qua vượt qua kỳ thi, Kinh sĩ Zappata trao cho
cha Rua giấy phép giải tội.84
Cùng lúc, cha Rua cũng chuẩn bị để lấy chứng chỉ sư phạm dành
cho cấp trung học cơ sở. Cha Rua đã nhận được bằng cấp này, và
được Giám đốc trường Đại học Torino ký ngày 21 tháng Chín năm
1863.85
Cuối cùng, chúng ta dừng lại với một sáng kiến tinh tế của những
83 Tựa để ở bìa: "Theologiae moralis. Volumen I.um: De actibus humanis. De conscientia. De
peccatis. De praeceptis Decalogi et De Ecclesiae et de fide. Giáo sư Rev.mo Can. Zappata. Cha
Micae Rua 1860-61". Đây là vở bài làm đầu tiên có 94 trang.
84 Cf. Giấy phép (Licence) trong FdR 2751B9-C4.
85 Cf. Văn bằng trong FdR 2665B2.

7.10 Page 70

▲torna in alto
70 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
sử gia tương lai của Don Bosco. Vào mùa xuân năm 1861, một tổ
chức mang tên “Ủy ban thu thập nguồn liệu” được thiết lập tại
Nguyện xá, trong đó gồm 14 thành viên. Nhiệm vụ của Uỷ ban là
phải thu thập các chứng từ và những tài liệu làm bằng chứng về
những “ân điển kỳ diệu” và “những việc ngoại thường” được gán cho
Don Bosco, “cách thức độc đáo mà Don Bosco giáo dục giới trẻ”,
“những dự phóng tương lai” vĩ đại của ngài, vì họ tin rằng nó bộc lộ
“một cái gì đó thật siêu nhiên.” Cha Rua là thư ký của Ủy ban này.
Có ba trong các hộ trực gồm tư giáo Ghivarello, Bonetti và Ruffino
được chỉ định như những biên tập viên.86 Cho đến khi Don Bosco
chết, cha Rua đã làm công việc thu thập tất cả những thông tin hữu
ích từ những người trợ giúp của mình tại Nguyện xá, để hiểu biết
chính xác về người thầy họ yêu mến và kính trọng.87
Giám Đốc tại Mirabello
Micae Rua sắp nhận một trách nhiệm mới. Ngày 14 tháng Năm
năm 1862, Don Bosco thực hiện một bước quyết liệt trong việc bảo
đảm cho tương lai của Tu hội. Tối hôm đó, ngài gọi những cộng sự
viên tụ họp trong căn phòng nhỏ của mình để họ tuyên khấn lần đầu
những lời khấn tu trì được Hiến Luật vạch ra. Bản văn Hiến Luật này
được viết ra từ bốn năm trước. Bao nhiêu người đã tụ họp quanh
ngài trong phòng nhỏ đó? 15, 20, 26? Con số thay đổi dựa theo bản
danh sách và sử biên niên; con số ấy có thể tính bao gồm hay loại ra
những khán giả và các thỉnh sinh mà tất yếu ở đó. Dù sao đi nữa,
trong căn phòng nhỏ bé đó thì mọi người chỉ có thể đứng mà thôi.
86 Tuyên bố ban đầu được viết trong một vở bài làm thuộc về Đaminh Ruffino và được Don
Rua ký nhận, được xuất bản trong MB VI, 862.
87 Chẳng hạn, chúng tôi có thể thấy rằng vào 21 tháng Giêng năm 1872, Hội nghị Nguyện
xá (Oratory Chapter) mà ngài chủ tọa cho Berto và Dalmazzo trách vụ ghi chú về Don Bosco
và vào ngày 28 sau đó quyết định phác thảo một dàn bài tiểu sử về Don Bosco. Một vài
chương của bản nháp này – "đời sống cô độc" (“solita vita”), như được chỉ ra trong Công
hàm, - được đọc suốt năm tại những buổi họp tu nghị khác nhau. Chính trong thời gian này
năm 1873 mà Don Bosco, chắc chắn biết về sáng kiến đó quyết định viết ra một loại
tiểu sử với tựa đề, Memoirs of the Oratory of St. Francis of Sales, một văn kiện cơ bản bàn đến
40 năm đầu tiên của ngài.

8 Pages 71-80

▲torna in alto

8.1 Page 71

▲torna in alto
Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ | 71
Don Bosco mặc áo trắng và mang dây stola, làm theo lễ nghi cổ điển
được viết trong Hiến Luật của Tu hội Thánh Phanxicô Salê, trong chương
Văn thức các Lời Khấn: Hát kinh Veni Creator, xướng đáp, cầu nguyện,
kinh cầu Đức Bà, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và Sáng Danh kính
Thánh Phanxicô Salê. Nhưng thời điểm đó, thay vì theo nghi thức và
gọi từng người tới trước ngài để tuyên lời khấn, Don Bosco xin cha
Rua là vị linh hướng, đọc từng câu công thức để những người khác
có thể lập lại. Đó là một cách thực hành để tiết kiệm thời gian trong
những trường hợp đông người, nhưng không phải không có những
hệ quả nghiêm trọng. Thực sự, chúng ta sẽ không bao giờ biết chính
xác tối hôm đó những ai đã cam kết chính thức trong Tu hội của Don
Bosco.88 Tuy nhiên, lịch sử Salêdiêng có thể tuyên bố không sợ sai
rằng vào năm sau (1863), Tu hội có 22 người tuyên khấn và 17 tập
sinh trong hai nhà. Năm đó, một nhà mới đã được mở, và cha Rua
được trao phó trách nhiệm làm Giám đốc.
Mùa thu năm 1861, Don Bosco tiếp xúc với một gia đình ở
Mirabello nhằm thiết lập một trường ở tỉnh thành đó, thuộc quyền
hạn vùng Casale. Giám mục của Casale là Giám mục Lu-y Nazari miền
Calabiana, ngài là bạn của Don Bosco và là người hỗ trợ cho công
cuộc này; chẳng bao lâu ngài đã ký kết cho việc thành lập này bởi
thời gian đó, địa phận không có tiểu chủng viện. Việc xây cất bắt
đầu năm 1862, họ đã thông báo cho chính quyền dân sự tại
Mirabello về quan tâm thành lập trường trung học trong chính khu
vực của mình, và đó là một tiểu chủng viện. Cha Micae Rua, được
chỉ định điều hành ngôi trường ấy. Người ta đã thu thập những tài
liệu cần thiết: Một chứng nhận về hạnh kiểm tốt, tuyên bố cha Rua
là người “xuất sắc, ngay thẳng, chăm chỉ, và hành xử không thể chê
trách”. Đây là những đức tính cần thiết đối với một giám đốc chủng
viện; rồi có một chứng nhận về danh thơm tiếng tốt từ vị Đại diện ở
Torino là cha Giuse Zappata; một chứng nhận dân sự được thị trưởng
ký và được cảnh sát thành phố Torino cung cấp...89 và cuối cùng, vào
88 Đối nghịch với điều thường được nói, không có sự ghi danh nào được ký vào cuối lễ nghi
đó. Chúng ta phải tin sử biên niên.
89 Cf. Tài liệu trong FdR 2665A11-12.

8.2 Page 72

▲torna in alto
72 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngày 30 tháng Tám năm 1863, Đức Giám mục Calabiana chỉ định
cha Rua là Giám đốc tiểu chủng viện thánh Charles ở Mirabello.90
Cha Rua đến Mirabello vào ngày 12 tháng Mười, cùng với bà cố
là bà Giovanna Maria, bà sẽ lo việc bếp núc và phòng đồ dùng trong
trường trung học đó. Ngài là linh mục duy nhất, các nhân sự còn lại
gồm 5 tư giáo và bốn thiếu niên chưa là Salêdiêng. Khi trường đó
khai trương, số học sinh đến học rất đông.
Chính lúc này, Don Bosco gởi cho cha Rua một lá thư vâng phục
dài và trìu mến. Nội dung lá thư chứa đựng nhiều lời khuyên hữu ích
để điều hành tốt trường học. Tầm quan trọng của lá thư đó khiến
chúng ta phải trình bày nó, cho dù vắn gọn.91 Trước tiên, lá thư nói:
Giám đốc tại Mirabello phải luôn giữ tâm thế bình thản, tránh hãm
mình trong ăn uống và ngủ ít nhất 6 tiếng mỗi đêm, không chỉ để
giữ sức khỏe mà còn vì lợi ích của những thiếu niên được trao phó
cho ngài. Viết như thế bởi Don Bosco biết môn đệ mình rất rõ. Ngài
cũng mời gọi cha Rua bảo đảm những việc thực hành đạo đức truyền
thống, cho chính mình cũng như cho các nhân viên: Thánh lễ, Kinh
Nhật tụng, chút ít giờ nguyện ngắm ban sáng, viếng Thánh Thể
trong ngày. Don Bosco khuyên cha Rua hãy làm cho mình được yêu
mến trước khi được kính sợ (vẻ nghiêm khắc bề ngoài của người môn
đệ yêu dấu này luôn làm cho Don Bosco quan tâm!) Khi ra lệnh hay sửa
lỗi một ai, ngài phải làm cho rõ ràng việc đó là vì phần ích các linh
hồn. Đoạn Don Bosco khuyến khích cha Rua hướng tất cả những hoạt
động của mình tới sự an mạnh tinh thần, thể chất và tri thức của
những người trẻ mà Chúa Quan phòng đã ký thác cho ngài. Và trước
khi lấy bất kỳ quyết định quan trọng nào, ngài được thúc đẩy để
nâng lòng trí lên Thiên Chúa.
Don Bosco viết, Giám đốc phải chú tâm săn sóc sự an mạnh thể lý
của các thầy giáo và hộ trực. Ngài cũng có trách vụ đặc biệt phải
chăm sóc cho học sinh được, thường xuyên trò chuyện với các em,
90 Cf. Tài liệu trong FdR 2751B3-4.
91 Epistolario I, 613-617.

8.3 Page 73

▲torna in alto
Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ | 73
biết duy trì thói quen quan tâm tìm biết những quan tâm của người
trẻ và tìm kiếm những giải đáp tốt nhất cho những trường hợp khó
khăn. Trong lớp, các thầy giáo phải hướng dẫn hết thảy học sinh
bằng nhau, với những câu hỏi dẫn dắt. Không được có những tình
bạn riêng, không được thiên vị. Người hộ trực phải xác đáng trong
việc thực thi các bổn phận! Giám đốc cũng phải lo liệu để quy tụ các
thày giáo và hộ trực lại, nhằm khích lệ họ xây dựng một bầu khí lành
mạnh trong trường: Không nói những câu chuyện tục tĩu thô thiển,
cảnh giác trước sách báo nguy hiểm, những tranh ảnh xấu xa hay
bất kỳ cái gì có thể nguy hiểm đến đức trong sạch, là nữ hoàng của
các nhân đức.
Trong thư đó, có một đoạn dành cho các nhân viên phục vụ.
Người lãnh đạo phải được nhìn nhận là người liêm chính, có trách
nhiệm không chỉ đối với sự thiện hảo trong công việc của những
người thuộc cấp, nhưng cả đến lối cư xử đạo đức của họ. Hơn nữa,
những người làm việc phải có cơ hội tham dự thánh lễ hằng ngày và
lãnh nhận các bí tích hàng tháng. Ngày nay, chúng ta đang ở trong
một thời đại rất khác với một thời mà trong đó nền văn hoá thực sự
lành mạnh; nhưng thật không may, chúng đã bị biến mất. Khi nhận
học sinh mới, ngài phải bảo đảm chúng có hạnh kiểm tốt, và loại bất
kỳ em nào có thể gây ảnh hưởng xấu. Trong trường hợp trẻ có thái
độ vô luân thì chỉ cảnh cáo một lần thôi, và nếu em tái phạm thì hãy
đuổi ngay.
Một phần của lá thư tóm tắt súc tích cách thức mà Giám đốc tại
Mirabello phải hành xử trước học sinh: “Con hãy sắp xếp thế nào để
có thể trải qua giờ chơi với học sinh và cố gắng nói cho các trẻ một
lời yêu thương, như con đã biết thi hành điều ấy cách tốt đẹp, nhất
là khi con thấy cần phải làm như thế. Đây là bí quyết lớn lao có thể
giúp con chiếm được cõi lòng của các thanh thiếu niên này”. Don
Bosco dạy cho người môn đệ của mình khoa sư phạm của sự hiện
diện mà ngài biết rất rõ. Nói chung, “Bác ái và lịch sự là những nét
đặc trưng mà một Giám đốc phải có đối với những người sống trong
trường hay những em học sinh ngoại trú”. Ngài sẽ cố gắng giải quyết
các vấn đề sao cho “Thiên Chúa được vinh quang hơn”. Phải hy sinh

8.4 Page 74

▲torna in alto
74 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
những lời hứa hão, những cuộc cãi vã, thù hằn, kiêu ngạo để Thiên
Chúa được vinh quang hơn [ad majorem Dei gloriam].
Qua những tháng năm, lá thư rất thực tiễn ấy được sửa lại chút ít
và được phổ biến dưới nhan đề Những lời nhắc nhở thân tín dành cho
các Giám đốc, sẽ dần trở thành hiến chương (magna carta) cho mọi
Giám đốc của trường học Salêdiêng. Và đây là một trong những tài
liệu cơ bản để hiểu về Hệ thống Giáo dục của Don Bosco.92
Theo Don Bosco chỉ dẫn, cha Rua tìm cách để làm cho nhà tại
Mirabello thành một môi trường che chở và tạo nên sự biến đổi.
Từng chi tiết, lối cai quản của cha Rua dựa trên bầu khí và lối điều
hành đã ngự trị tại Nguyện xá ở Torino.93 Để đạt được những kết
quả giáo dục mong ước, cha Rua muốn thiết lập bên trong các bức
tường của nhà một bầu khí, mà mỗi học sinh có thể bắt gặp được
niềm vui thanh thản, trước tiên dựa trên một lương tâm an bình với
Thiên Chúa. Ngài nhiệt tình sáng tạo những cách thức để duy trì tinh
thần an bình giữa các học sinh. Cha Rua đề cao tinh thần kỷ luật
nghiêm túc, nề nếp ổn định, nhưng không quá đòi hỏi hay đi đến sự
tuyệt đối, thái cực, song dành nhiều khoảng trống hơn cho sự tự do.
Các thầy giáo phải là hiền phụ, hay đúng hơn, là những anh lớn, sẵn
sàng tham gia vào tất cả các trò chơi, những mối quan tâm của học
sinh, vào những công việc các em phải đảm nhận. Thày giáo cần tỏ
ra tin tưởng chúng, và trói buộc chúng bằng sự tận hiến hoàn toàn
cho thiện ích của các em. Các nhà giáo dục phải ghi nhớ một điều
duy nhất: xây dựng quanh các thiếu niên một bầu khí gia đình. Đây
là điều rất cần thiết để các em tăng trưởng và cách riêng, có được
một lòng đạo sâu xa, chân chính và hợp lý. Chỉ duy những điều này
mới có thể cho những thiếu niên sức mạnh để chống lại sự dữ, soi
sáng chúng trong những giờ phút nghi nan, và làm cho chúng luôn
trung thành trong các bổn phận của mình. Để duy trì tinh thần đạo
đức, cha Rua tuân theo những kinh nghiệm đã thực hiện tại Nguyện
92 Cf. F. Motto, I Ricordi confidenziali ai Direttori di don Bosco, Rome, LAS, 1984.
93 Về vấn đề Regolamento pel collegio S. Carlo di Mirabello, cf. MB VII, 519-522, 863-
869.

8.5 Page 75

▲torna in alto
Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ | 75
xá ở Torino, qua việc thiết lập một hệ thống các việc thực hành. Ngài
cử hành Thánh Lễ hằng ngày cho các trẻ. Ngồi toà giải tội ban sáng
và chiều. Mỗi tối, sau kinh tối và trước khi trẻ đi ngủ, ngài chuẩn bị
kỹ lưỡng đôi lời huấn từ ngắn gọn để nói với các em. Mỗi Chúa Nhật,
ngài dạy cho đoàn chiên nhỏ của mình hai lần: ban sáng, ngài giải
thích về Lịch sử Giáo hội; và ban chiều, ngài giải thích về các nhân
đức Kitô hữu.
Suốt năm học tại trường ở Mirabello, người ta sốt sắng lưu tâm cử
hành lễ Thánh Quan thầy Charles (ngày 4 tháng Mười Một), rồi lễ
Mẹ Vô Nhiễm (ngày 8 tháng Mười Hai), và những lễ trọng của năm
Phụng vụ. Tất cả những lễ này đều có tuần chín ngày hay tuần tam
nhật để chuẩn bị. Mỗi tháng, có cuộc tĩnh tâm ngắn gồm việc Dọn
mình Chết lành rất quen thuộc với Don Bosco, từ khi ngài còn ở trong
Học Viện Giáo Sĩ tại Torino. Và cuối cùng, mỗi năm vào mùa xuân,
có cuộc tĩnh tâm ba ngày; suốt thời gian đó, ngưng các lớp học; học
sinh được mời gọi suy niệm những chân lý vĩnh cửu và những vấn
đề lớn hơn của đời sống.94
Giữa Mirabello và Torino có nhiều mối liên kết chặt chẽ. Cụ thể là
những cuộc thăm viếng và những thư từ thường xuyên đến từ Don
Bosco nhằm khuyến khích vị Giám đốc trẻ tuổi. Don Bosco rất quan
tâm đến đời sống thiêng liêng của các thanh thiếu niên. Ngài khuyên
cha Rua về cách thức giao tiếp với ban quản trị dân sự ở Alessandria,
là những người đang thắc mắc rằng tại sao trong một nơi được giả
định như là một “tiểu chúng viện”, mà các học sinh được nhận vào
dường như lại không có chút hướng chiều nào đến bậc giáo sĩ. Ngày
26 tháng Hai năm 1864, người giám thị trường học đó đến và thậm
chí đe dọa đóng cửa trường.95 Đức Giám mục Casale can thiệp. Don
Bosco đã khuyên cha Rua rằng nếu tình hình cần thiết, có thể nại
đến chính quyền. Nhưng cuối cùng vấn đề đó được bỏ qua. Cả hai
cũng bàn đến những mối quan tâm về tài chính (trong một dịp Don
94 Đoạn này về "chế độ" đạo đức của Cha Rua tại Mirabello, trong nhiều trường
hợp, được lấy từng lời từ Auffray, 106-107, dựa trên kinh nghiệm đời sống của
chính ngài trong các trường nội trú Salêdiêng.
95 Tài liệu gốc trong FdB 269C3.

8.6 Page 76

▲torna in alto
76 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Bosco mượn 2000 frans từ cha Rua) và đối với những cử hành chung
trong các dịp lễ. Chẳng hạn, ngày 25 tháng Tư năm 1865, cha Rua
đến Torino với khoảng 100 thiếu niên từ Mirabello để mừng ngày
đặt viên đá đầu tiên của Thánh Đường Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Sinh hoạt tại nhà ở Mirabello thật sống động mặc dù không hoàn
hảo. Cuối niên học thứ hai, cha Rua đã sa thải ba thiếu niên không
có phẩm hạnh tốt. Đây là những “con sói” bị coi là quá nguy hiểm
cho đàn chiên.96
Ngày 1 tháng Sáu năm 1865, ước muốn kết thúc tháng Đức Mẹ
một cách ý nghĩa và trang trọng, họ đã cho trình diễn một vở hài
kịch Latinh được gọi là Phasmatonices, (ngày nay có lẽ là ‘ma ám’?) một
nhạc kịch do Đức Giám mục Rosini miền Pozzuoli soạn. Dịp đó, vị
Giám mục Calabiana cũng có mặt cùng với nhiều nhân vật giáo sĩ và
giáo dân đặc biệt đến từ Casale. Ai nấy đều thán phục tài năng diễn
kịch tự nhiên của các học sinh, cũng như sự thành thạo của các thày
giáo. Tất cả đã nói lên phẩm chất giáo dục mà trường đó mang lại.
Giám đốc trẻ là cha Rua đã thành công tới mức hoàn hảo trong
kinh nghiệm mới của ngài tại Mirabello. Nhưng sau hai năm, khi
ngài trở lại Torino cho việc đặt viên đá đầu tiên xây cất Thánh Đường
Mẹ Phù Hộ, Don Bosco cho biết mình đã nghĩ đến việc trao cho cha
Rua một vai trò mới và thậm chí còn nặng nề hơn.
96 Lá thư của cha M. Rua cho F. Provera, 11 tháng Bảy năm 1865, trong Amadei
I, 181.

8.7 Page 77

▲torna in alto
Cha Rua làm
Cha Rua Làm Phó Tổng Bề Trên| 77
6
Phó Tổng Bề Trên
(Prefect general)
Cha Rua thay thế cha Alasonatti
Vào tháng Bảy năm 1865, Don Bosco cảm thấy mình quá tải trước
sức nặng của các vấn đề. Công việc xây cất Thánh Đường Mẹ Phù Hộ
đã được khởi công. Bên cạnh đó là các chi phí xây dựng. Cứ mỗi hai
tuần ngài phải trả tiền cho chủ thầu xây dựng công trình. Vấn đề
khác là nhân sự: năm trong số các linh mục của Don Bosco đã ngã
bệnh, như kể lại trong thư ngài viết cho cha Rua.97 Cha Victor
Alasonatti, Phó Tổng Bề Trên đương thời, phải quán xuyến mọi điều
hành tổng quát các công cuộc giờ đã bị ung thư cổ họng. Cha
Alasonatti đã phải rời Torino và chuyển tới nhà tại Lanzo Torinese
được thành lập một năm trước đó. Ngày 16 tháng Bảy, cha Đaminh
Ruffino là Giám đốc nhà trường tại đó, đã qua đời lúc mới 25 tuổi.
Vì thế, vào tháng Tám, Don Bosco đã quyết định gọi cha Rua về lại
bên cạnh mình và cha Gioan Bonetti sẽ thay chỗ cha Rua. Điều này
xảy ra vào ngày 18 tháng Chín. Cùng ngày, Don Bosco cũng xin cha
Rua thanh toán một hóa đơn đã hết hạn.98 Ngày 4 tháng Mười, Don
Bosco yêu cầu cha Rua giúp quảng bá trường tại Lanzo.99 Sau đó,
vào tối ngày 7, cha Alasonatti lại qua đời.
Don Bosco khẩn trương tổ chức lại việc quản trị toàn diện Tu hội
Salêdiêng. Ngài đã tiến hành công việc theo tiến trình sau: Trước hết,
Don Bosco tập họp năm thành viên hiện mang chức vụ của Tu hội
97 Epistolario II, 148-149.
98 Epistolario II, 165.
99 Epistolario II, 170-171.

8.8 Page 78

▲torna in alto
78 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
để thay thế chức vụ của vị phó bề trên đã qua đời, và cho vị Linh
hướng là cha Fusero đang đau bệnh. Cha Micae Rua được chọn làm
Phó Bề trên và cha Gioan Tẩy giả Francesia làm Linh hướng. Sau đó,
toàn thành viên của Nguyện xá được triệu tập để chọn ra vị cố vấn
thứ ba. Cha Celestine Durando được chỉ định thế chỗ của cha Gioan
Bonetti, người đã được chuyển tới Mirabello.
Don Bosco cũng ý thức rằng, không thành viên nào trong nhóm
quản trị này đã tuyên khấn trọn đời, như Giáo luật đòi hỏi để có thể
thi hành các chức vụ cách hợp pháp. Thế là ngài bắt tay sửa chữa
điều này ngay. Ngày 15 tháng Mười Một, cha Rua, Cagliero,
Francesia, Ghivarello, Bonetti thêm vào đó là hai tư giáo và hai sư
huynh đã tuyên khấn trọn đời trong tay cha Bề Trên Cả. Từ cuối thập
niên 1860, từ một thực tế là Don Bosco thường hay vắng mặt, nên
cần sự quy chiếu đến Hội Đồng Nguyện xá. Một cách đặc biệt, Hội
đồng được triệu tập gồm cha Rua - Phó Bề trên, cha Francesia - Linh
hướng, cha Angelo Savio - quản lý; và ba Cố Vấn là Gioan Cagliero,
Charles Ghivarello và Celestine Durando.
Cha Rua đại diện Don Bosco
Don Bosco coi cha Rua là vị Phó Tổng Bề trên (Prefect General), là
cái tôi khác của mình [alter ego]. Ngày 11 tháng Giêng năm 1866,
Don Bosco gởi cha Rua tới Mirabello để nhân danh ngài tiếp nhận
các lời khấn trọn đời của hai trong số những người đầu tiên tuyên
khấn, đó là Phanxicô Provera và Phanxicô Cerruti. Ngày 4 tháng Hai
sau đó, Don Bosco ở bên cạnh giường của ngài Rudolph de Maistre
trong cơn hấp hối sau cùng của ông, nên thay mặt ngài, cha Rua chủ
tọa cuộc họp các Giám đốc được triệu tập vào ngày lễ trọng Thánh
Phanxicô Salê. Vào ngày 11 tháng Hai, nhân danh Don Bosco, cha
Rua viết một lá thư dài cho bà Bá tước Charlotte Callori, vì ngài “đang
bị kẹt cứng trong nhiều trách vụ”.100
Giữa những năm 1865 và 1870, mặc dù cha Rua đảm nhận trách
nhiệm cả trên những nhà gắn liền với Mirabello và Lanzo, thì công
100 Được xuất bản trong Documenti XLIII, 134-135 (ASC A092).

8.9 Page 79

▲torna in alto
Cha Rua Làm Phó Tổng Bề Trên| 79
việc chính của cha Rua vẫn tập trung vào nhà tại Nguyện xá Torino.
Cha Rua thường có khuynh hướng lãng quên bổn phận này, tuy
nhiên, từ lúc trở về Valdocco, trước nhu cầu phải cung ứng một ban
giảng dạy có bằng cấp để phục vụ các lớp đệ nhị cấp, chính cha Rua
cũng bắt đầu nỗ lực tham gia các khoá học để có học vị tại Khoa Văn
chương và Triết học ở Torino. Trong hồ sơ của cha Rua có một giấy
ghi danh chứng nhận những khóa học văn chương Latinh, Ý ngữ, Hy
lạp và Lịch sử Thượng cổ và Thời Mới, ghi ngày 30 tháng Mười Một
năm 1865.101
Vì Don Bosco thường vắng mặt, cha Rua thực sự chịu trách nhiệm
chính cho công cuộc tại Valdocco. Cha phải liên tục giải quyết các
vấn đề liên quan đến sổ sách, kỷ luật, vệ sinh, sạch sẽ, tái cấu trúc
khu vực, chuẩn bị những ngày lễ. Biên bản những buổi họp hàng
tuần của Hội đồng cũng nói rõ về những vấn đề này. Chính cha Rua
trung thành giữ các biên bản cùng với những ghi chú trong cuốn sách
kinh nghiệm [Book of experience] của ngài. Đọc những tài liệu có đôi
chút tẻ nhạt này, chúng ta được soi sáng trong một số vấn đề. Chẳng
hạn, chúng cho ta biết rằng đời sống Salêdiêng lúc đó không hề êm
ả.102 Những chi tiết ghi chép từ những buổi họp của Hội đồng năm
1866 cho chúng ta một cái nhìn tổng hợp. Ngày 11 tháng Ba, các
Salêdiêng quyết định chú ý hơn tới giờ thức dậy, quan tâm hơn đối
với nhân viên và về việc theo dõi sự chuẩn bị những bài vở làm sao.
Ngày 18 tháng Ba, người ta đề nghị phải giữ sổ sách cho ngăn nắp;
ngày 8 tháng Bảy [ghi nhận] rằng phải chuẩn bị lễ Thêm Sức tốt hơn
nữa (Lễ Thêm sức đó được ban vào ngày 22), rằng không được phạt
học sinh trong lớp và nhà cơm, phải kiểm tra giường chiếu trong nhà
ngủ cho ngăn nắp; ngày 12 tháng Tám, khi đề cập lại vấn đề hình
phạt, Hội đồng thiết lập một hệ thống chia đồ [ăn], bao gồm cả việc
tước đi của người vi phạm một món chính, rượu. Phải ngồi ăn ở giữa
nhà cơm hay gần ô cửa, hoặc quì trong nhà cơm, dưới những mái
101 Chứng chỉ đăng ký trong FdR 2665B1.
102 Phim chụp những sách ghi chú về những buổi họp Hội đồng được cha Rua viết
tay giữa năm 1866 và 1877, ngày tháng chính xác, có thể được đọc trong FdR
2916D1-2919E9.

8.10 Page 80

▲torna in alto
80 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
vòm, v.v.103
Tổ chức lại Nguyện xá
Một trách vụ nặng nề mà cha Rua phải đảm nhận tại đây, là hướng
dẫn một nhà gồm khoảng 350 học sinh và 350 thiếu niên lao động,
là những người quen coi thường kỷ luật, và những trật tự đặt ra trong
lưu xá. Trước đây, cha Alasonatti trách nhiệm hướng dẫn các nhóm
này. Tuy nhiên, do sức khoẻ không tốt và không mấy nhiệt tâm, nên
cha Alasonatti đã không thiết định được nề nếp trong nhà, khiến cho
lưu xá lớn tại Valdocco đã mất đi một tinh thần nào đó. Vì vậy, việc
đầu tiên và trước mắt là cần phải tổ chức lại sinh hoạt trong Nguyện
xá này. Nhưng việc làm cho kỷ luật trở nên duyên dáng và tạo nên
một sức mạnh từ bên trong cho đời sống đạo, và trách vụ đó không
dễ dàng cho vị Phó Tổng Bề trên mới này. Lối tiếp cận và hành xử
của cha Rua đã gây ra nhiều sự bình phẩm, thậm chí chỉ trích. Cha
Rua rơi vào tình trạng khó xử và không thoải mái lắm. Người ta nói,
lúc này cha Rua được Don Bosco chống đỡ và không ai có thể di
chuyển một chiếc lá mà không có phép của ngài. Có những phản
ứng khác nhau trong Nguyện xá. Một số người rất hài lòng với trật
tự được mạnh mẽ tái lập, sau những lơi lỏng do cha Victor Alasonatti
điều hành cách thoải mái. Trái lại, một số khác đã đến Nguyện xá
khi còn nhỏ, nhưng nay đã trưởng thành và do đó, họ không thể
cam chịu quy phục một người đã từng là bạn của họ trước kia. Điều
này gây ra một ác ý nào đó mà cha Rua tìm cách kiềm chế.
Cha Rua chịu đựng hết. Đó là một trách vụ nặng nề. Cha phải trả
những món nợ đáng kể, phải đặc biệt quan tâm đến việc điều hành
sao cho trôi chảy các xưởng thợ với mọi thứ thanh toán liên quan
đến việc mua các chất liệu thô và máy móc, trả lương cho thợ và lo
liệu những tài khoản cho khách hàng. Don Bosco cũng phó cho ngài
việc giám sát công việc ở thánh đường đang xây cất. Ngoài ra, như
Auffray cho biết, (không được xác định do những sử gia khác) cha
103 Cf. FdR 2916D3 và tiếp theo; cũng xem bài viết của P. Braido, «Don Michele
Rua primo autodidatta Visitatore Salesiano», in RSS 9 (1990) 108-110.

9 Pages 81-90

▲torna in alto

9.1 Page 81

▲torna in alto
Cha Rua Làm Phó Tổng Bề Trên| 81
Rua thậm chí còn trách nhiệm cả tờ Catholic Readings nữa. Ấn bản
này lên tới 12 ngàn người đăng ký và đòi buộc nội dung của nó phải
được viết hàng tháng theo một phong thái đơn giản và riêng biệt.
“Viết thích đáng, đúng và không phải với một văn phong quá khó,
và việc phải chuyên chú chuẩn bị cả tháng trời không phải là chuyện
nhỏ”.104
Những ngày lễ thánh hiến Thánh Đường Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu
Tháng Năm năm 1868 Nguyện xá tưng bừng hẳn lên. Năm năm
sau khi khởi sự ý tưởng, Don Bosco thấy giấc mơ của mình về ngôi
thánh đường lớn dâng kính Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu được hiện thực.
Những chi tiết cuối cùng được thêm vào. Tháng Sáu người ta chuẩn
bị việc thánh hiến, chỉ bốn năm sau khi đặt viên đá đầu tiên. Vào
tháng Năm, Hội đồng đã thảo luận, dưới sự hướng dẫn của cha Rua
những vai trò được phân công như thế nào. Theo những ghi chú tóm
tắt trong biên bản, họ phải lo liệu những người giữ cửa, những người
tiếp nhận khoản tiền quyên góp, những người dẫn chỗ, những người
phục vụ bàn ăn, những người tiếp rượu, những người chăm sóc
phòng khách, những người xưng tội, và đèn đóm. Những ngày lễ
kéo dài tám ngày. Nghi lễ thánh hiến là giây phút quan trọng nhất.
Họ cần mời những nhân vật quan trọng và bảo đảm các lễ nghi tôn
giáo long trọng được chuẩn bị. Phải tiếp đón rất đông những người
sùng mộ, những học sinh từ các nhà tại Lanzo và Mirabello, tổ chức
những buổi hòa tấu và chuẩn bị một buổi trình diễn kịch nghệ.
Những ngày lễ thánh hiến long trọng xảy ra vào ngày 19 tháng
Sáu, kéo dài 8 ngày liền và với sự nhiệt thành tôn giáo cao độ; điều
ấy muốn nói rằng thánh đường đó đã được hoàn tất trong thời gian
kỷ lục. Don Bosco miêu tả chúng trong một ấn bản đặc biệt của
Catholic Readings, được xuất bản ngay sau biến cố đó.105 Suốt đời
ngài không biến cố nào khác mang lấy tầm quan trọng lớn hơn
những ngày diệu kỳ đó giữa ngày 9 và 16 tháng Sáu, với những
104 Auffray, 117.
105 Rimembranza di una solennità in onore di Maria Ausiliatrice, Torino, Tip.
dell’Oratorio di S. Francesco di Sales, 1868.

9.2 Page 82

▲torna in alto
82 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Thánh lễ và Kinh Chiều do Giám mục chủ sự, những bài nói chuyện
của các Giám mục, những tiệc tùng (mà các tặng phẩm đã đến từ
khắp Bắc Ý), những cuộc trình diễn thể dục và sân khấu kịch nghệ,
giữa chúng là Phasmatonices do Đức Ông Rosini vốn đã được trình
diễn tại Mirabello. Các tín hữu tới lui đoàn đoàn lũ lũ. Don Bosco
thật rạng rỡ. Vào cuối mọi sự đó cha Rua có thể viết trong một ghi
chú rằng không gì đã khuấy rối “niềm hạnh phúc của những ngày
thánh thiện này.”106
Khó mà tưởng tượng khối công việc mà việc thánh hiến ấy đòi hỏi
những người tổ chức khác nhau. Ngoài công việc thông thường của
mình, Giuse Bongiovanni đã lo liệu gánh vác việc phục vụ bàn thánh
với Nhóm Giúp Lễ, đã ốm liệt vào ngày thánh hiến và qua đời ngày
17 tháng Sáu, hai mươi bốn tiếng sau khi tám ngày đó đã xong
xuôi.107 Chúng ta phải nói rằng cha Rua, mà toàn guồng máy tổ chức
được ký thác cho ngài, đã thực hiện toàn bộ trên cả tuyệt vời. Tháng
sau, những điều kiện thể lý của ngài tỏ lộ một phản tác dụng. Cái
cung kéo căng quá đã gẫy. Kiệt lực, ngài cố gắng giấu vẻ mệt nhọc
của mình bao có thể, nhưng ngài phải tuyên bố mình đã quị. Ngày
29 tháng Bảy ngài nằm liệt giường. Cha Ceria nói ngài đau vì chứng
viêm màng bụng nặng. Bác sĩ có lẽ chuẩn đoán như thế, theo đó
ngài không có chút cơ may bình phục. Cha Rua bình thản chấp nhận
cái chết và xin lãnh các bí tích sau cùng.108
Ngày đó Don Bosco đi vắng. Tối về, ngài thấy cả nhà nhốn nháo.
Thậm chí người ta chạy đến cho ngài biết tin về bệnh nhân. Theo các
chứng nhân, ngài trả lời: “Cha biết rằng cha Rua sẽ không lìa đời nếu
cha không cho phép.” Rồi ngài đi giải tội. Chỉ sau khi ăn tối, ngài
106 P. Braido, «Don Michele Rua precario 'cronicista' di don Bosco», trong RSS 8
(1989) 347-348.
107 Người ta nói rõ ràng, bắt đầu với ấn bản lần 5, trong một ghi chú được thêm
vào chương 17 của cuốn sách Life of Dominic Savio do Don Bosco viết, cf. Vita del
giovanetto Savio Domenico allievo dell’Oratorio di S. Franc. di Sales. Với một phụ lục
về những ơn nhận được qua sự khấn cầu của cậu [ấn bản lần 6], Torino, Tipografia
e Libreria Salesiana, 1880, 78-79.
108 Về bệnh tật của Rua, cf. Amadei I, 206-208 e MB IX, 320-322.

9.3 Page 83

▲torna in alto
Cha Rua Làm Phó Tổng Bề Trên| 83
mới đi tới phòng của cha Rua. Ngài nói chuyện với cha một chút và
khi thấy Rua xác tín mình sắp chết, thì dường như Don Bosco nói:
“Rua thân mến, cha không muốn con chết. Con vẫn có quá nhiều
điều phải làm cho cha!” Ngài chúc lành cho cha và rồi bỏ đi. Suốt
đêm bệnh tình không trở nên nặng hơn. Hôm sau, khi đã dâng Lễ
xong, Don Bosco lại tới bên giường ngài. Bác sĩ Gribaudo ở đó, ra
dấu rằng không có hy vọng. Don Bosco không bị quị ngã. Dường
như khi thấy dầu thánh trên bàn, ngài quở trách người y tá không
có đủ đức tin, và quay sang bệnh nhân nói lớn: “Rua, con xem, ngay
cả nếu con ném mình ra cửa sổ bây giờ, con cũng không chết đâu!”
Niềm tin này đến từ đâu? Chúng ta không biết. Dù sao chăng nữa,
bệnh nhân bắt đầu ít đau hơn. Dần dần sức khỏe ngài cải thiện và
nguy hiểm trôi qua. Lúc mới bình phục khi ngài có thể đi những bước
đầu tiên ra khỏi phòng, cả nhà hoan hỉ. Họ mời ngài xuống dưới mái
hiên, hát mừng ngài một bài và đọc một ‘diễn văn’ mừng ngài. Khi
ngài hồi phục sức khỏe, Don Bosco sai ngài đến nghỉ tại Trofarello
vào cuối mùa hè. Ngài không tham dự những phiên họp Hội đồng
giữa tháng Bảy và Mười Một. Sau cùng, chỉ vào ngày 13 tháng Mười
Một ngài mới lại đảm nhận vai trò của mình tại Nguyện xá ở
Valdocco.
Đời sống hằng ngày của Cha Rua Phó Bề trên
Đời sống của cha Rua tại Nguyện xá trôi qua trong chức vụ đó
một thời gian dài, khá đơn điệu và không có những biến cố quan
trọng. Chỉ những ai chứng kiến nó mới có thể nói về nó với đầy đủ
sự hiểu biết.109 Căn phòng ở đó ngài làm việc chỉ có đồ dùng thật sự
thiết yếu mà thôi. Không trang hoàng. Có một hay hai thư ký ở
phòng bên cạnh mà ngài không chỉ trao công việc cho họ nhưng để
mắt đến họ hầu khám phá thái độ và cuối cùng làm họ nên những
đại diện và quản lý trong các nhà khác. Vì mục đích này ngài đã soạn
thảo những thủ bản chép tay nhỏ, trong đó ngài giải thích việc kế
toán cho các nhà Salêdiêng. Ngài cho thấy cách thức để giữ sổ lễ, sổ
cái tiền nong và quản lý cho trường học, sổ ghi chép những biếu
tặng, những sổ sách cho những lãnh vực quản trị khác nhau của một
109 Đoạn này hoàn toàn lệ thuộc vào Ceria, Vita, 66-68.

9.4 Page 84

▲torna in alto
84 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
công cuộc phức tạp: phòng áo, nhà bếp, phòng thuốc, xưởng thợ,
giặt ủi. Nhẫn nại, cha Rua khai tâm những thư ký vào những trách
vụ quản trị phức tạp hơn. Đôi khi ngài nhận người như một sự hỗ trợ
tạm thời, những người mà không thể hợp vào bất cứ phần nào và
ngài cố gắng để làm họ trở lại trên đôi chân của mình.
Cầu nguyện là cái khung cho công việc ngài làm trong văn phòng.
Ngài bắt đầu làm việc với kinh Cúi Xin Chúa, một kinh Kính mừng và
đọc một tư tưởng nào đó từ Thánh Phanxicô Salê hay Gương Chúa
Giêsu và kết thúc bằng kinh Tạ ơn (Agimus tibi gratias).
Phần đa thư từ Nguyện xá kết thúc trong văn phòng ngài. Ngài
mở và ghi chú trên những lá thư, rồi trao chúng cho các thư ký để
viết trả lời. Ngài chỉ ký thôi. Con số các thư từ gởi cho Don Bosco,
ngài đảm trách: những nhiệm vụ, những lời yêu cầu nhận thanh
toán, những biếu tặng nhỏ... Đôi khi Don Bosco chuyển cho ngài
những lá thư quá dài hay khó giải đoán. Và một khi đã đọc chúng
cẩn thận, cha Rua tóm lược nội dung lại để hướng dẫn vị thánh khi
trả lời.
Trong văn phòng mình, cha Rua nhận những người tiếp tế, những
thân nhân của các thiếu niên, và những khách thăm tùy dịp. Một
đoàn người đôi khi kéo dài hàng giờ. Nếu phẩm chất của những
người đó và tính chất của những công việc cho phép nó, sau khi chào
đón và thăm hỏi người vào, ngài tiếp tục đọc, viết và tham khảo
những giấy tờ của mình đang khi lôi cuốn được thính giả, cho đến
khi họ nói tạm biệt. Bạn nghĩ sao cũng được. Hiển nhiên ngài muốn
tiết kiệm thời giờ.
Từ chỗ của mình, ngài liên tục để mắt đến kỷ luật của nhà. Những
giao tiếp và đối thoại thường xuyên với các nhân viên điều hành cho
phép ngài nhận diện những lạm dụng và bất trật tự để chỉnh sửa
ngay. Ngài không bao giờ tin vào trí nhớ của mình mà thôi và đã
ghi chú trong cuốn sách kinh nghiệm, [Book of experience] của mình.
Chính ngài đảm nhận nó để chú ý đến tất cả mọi chỗ. Ngài cũng
thừa hưởng một thói quen mà ngài trung thành một thời gian dài.

9.5 Page 85

▲torna in alto
Cha Rua Làm Phó Tổng Bề Trên| 85
Sau kinh tối, ngài thường đi bộ chậm rãi một mình dưới mái hiên,
lần hạt và cảnh cáo những ai không tuân giữ sự thinh lặng “thánh”
hay ai không rút về phòng, như quy luật định. Đoạn ngài rảo quanh
khắp nhà. Đôi khi ngài làm thế lúc khuya vắng và luôn kết thúc trong
nhà thờ trước Thánh Thể.
Những trách nhiệm của cha Rua không giới hạn nơi các học sinh.
Số tư giáo gia tăng. Ngài cũng cần chăm sóc họ. Cha Rua trao phó
họ cho một hộ trực chăm sóc, Phaolô Albera, Bề Trên Cả tương lai.
Chẳng bao lâu con số những buổi họp Hội đồng được dành để “lượng
giá” các tư giáo. Thứ bảy, cha Rua cho họ một bài học trong điều
được gọi là testamentino, hay học hỏi một đoạn văn Tân ước. Ngài
giúp các tư giáo trẻ trong những bước đầu đời như những nhà giáo
dục Salêdiêng, cho họ một gương sáng về một đời sống tu trì gương
mẫu.
Và trên hết, ngài sống dưới sự hướng dẫn của Don Bosco, sự trợ
giúp lớn lao của Nguyện xá, mà ảnh hưởng luân lý của ngài làm đầy
gia đình, ngay cả khi ngài không hiện diện thể lý. Năm 1867, Don
Bosco qua hai tháng liền ở Rôma, và Rua ra lệnh với sự tự nhiên tột
độ. Tuy nhiên, ngài luôn tạo ra ấn tượng rằng ngài không nhúc nhích
một ngón tay mà không được Don Bosco đồng ý. Điều cha Barberis
viết năm 1875 cũng đã có thể được nói ở năm 1860: “Nguyện xá
được tổ chức theo một cách thức đến nỗi người ta nói, bạn không
biết rằng Don Bosco đã đi khỏi Torino.”

9.6 Page 86

▲torna in alto
86 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
7
Đào luyện các SALÊDIÊNG TRẺ
Vấn đề đào luyện các tư giáo tại Nguyện xá ở Torino
Cha Rua, Phó Tổng Bề trên của Tu hội Salêdiêng, thấy mình trực
tiếp can dự vào vấn đề đào luyện các tư giáo trẻ tại Nguyện xá.
Chúng ta cần định vị những hoạt động của ngài khi Tu hội Salêdiêng
non trẻ tiến bước nhọc nhằn qua thập niên 1870. Cách riêng bởi vì,
vị Phó Tổng Bề trên là người Don Bosco tín cẩn đầu tiên, vì thế là vị
cố vấn tự nhiên của ngài, mặc dù Don Bosco vẫn có mặt trong những
năm đó. Ngài tăng trưởng nhờ tiếp xúc thường xuyên với Don Bosco
vốn không 'tán tỉnh' khi việc đào luyện con cái mình và tinh thần của
lối tiếp cận giáo dục của mình lâm nguy.
Từ năm 1864 Don Bosco thâm tín rằng Đức Piô IX nâng đỡ dự
phóng của mình, đã nỗ lực để bảo đảm rằng Tu hội Salêdiêng có thể
đi từ việc là một Tu hội thuộc quyền địa phận chuyển sang một Tu
hội thuộc quyền giáo hoàng. Điều đó cho phép ngài, hay ngài nghĩ
như thế, không còn lệ thuộc vào các giám mục để tiếp nhận các tư
giáo của mình vào các chức thánh nữa. Ngài sẽ hoàn toàn tự do phán
quyết về sự thích hợp của họ. Vì vậy ngài đệ trình bản văn Regole
(Hiến Luật) cho Tòa Thánh, với hy vọng được phê chuẩn như ngài
yêu cầu. Nhưng ngài lầm to. Năm đó ngài chỉ nhận được bước đầu
tiên trong tiến trình nhìn nhận tu hội của ngài, đó là sắc lệnh ca ngợi,
decretum laudis, đề ngày 23 tháng Bảy. Một loạt gồm 13 nhận xét về
bản văn Hiến Luật, được Bộ Giám mục và các Dòng tu trình bày rõ
ràng, một cách nào đó đã làm ngài cụt hứng.110 Không chỉ như vậy.
Vì ngài đã chuyển lên cho Thánh Bộ Rôma, ngài đã có thể liều trao
cho Tu hội dáng vẻ của một dòng tu truyền thống, với tất cả những
110 Bạn có thể đọc Animadversiones của Stanislaus Svegliati trong G. Bosco,
Costituzioni della Società…, 231 [tài liệu 6].

9.7 Page 87

▲torna in alto
Đào Luyện Các Salêdiêng Trẻ | 87
vấn đề mang theo với nó. Ngoài ra, một trong những nhận xét rõ
ràng ngược với việc ban những năng quyền đầy đủ cho riêng Bề Trên
Tổng quyền đối với việc tiếp nhận vào chức thánh: "Bề Trên Tổng
Quyền không được phép ban hành những lá thư chứng nhận
(dimissorial letter) để các phần tử của Hội Đạo Đức đó được tiếp nhận
vào chức thánh; vậy điều này phải được lấy ra khỏi Hiến Luật." Điều
này triệt để ngược lại những kế hoạch của ngài. Vì vậy ngài ngoan
cường chống lại nó.111
Cuối cùng sau 18 năm của địa phận "bị bỏ góa", vì Tổng Giám
mục Fransoni bị lưu đầy (1850) và qua đời, tháng Năm năm 1867,
một Tổng Giám mục mới long trọng bước vào Torino. Đó là Tổng
Giám mục Alexander Riccardi di Netro, được chuyển từ hiệu tòa
Savona tới Torino. Ngài mạnh mẽ ra sức bảo vệ những quyền lợi và
bổn phận thuộc tác vụ của mình. Suốt ba năm, vị Tổng Giám mục ấy
đã làm cho đời sống nên khó khăn đối với Don Bosco, cách riêng việc
đào luyện các tư giáo.112
Suốt những năm ở Torino việc đào luyện các tư giáo hơn kém đã
lướt qua những quy luật thông thường. Nhiều chủng sinh đã trú ngụ
với Don Bosco; về thái độ của đời sống và học hành giáo sĩ của họ,
ngài đã có một khóe nhìn ít tính chất Xuân bích hơn. Ngài dùng vài
linh mục quanh thành phố để dạy họ, và đôi khi chính ngài dạy họ
thần học luân lý. Khi học, các tư giáo này vẫn cống hiến những việc
phục vụ khác nhau trong việc giáo dục và dạy dỗ các thiếu niên. Don
Bosco nói cho giám đốc chủng viện, Alexander Vogliotti tháng Sáu
năm 1866: "Tôi có khoảng 50 người." Và rồi, ngài thành thật nói
thêm: "Đời họ đầy ngập việc hộ trực, huấn giáo và dạy các trẻ nghèo,
nhất là những ai chăm sóc các em tham dự Nguyện xá trong thành
phố này."113 Suốt những ngày hè năm 1866, điều này tiến hành có
111 Theo Supra animadversiones in Constitutiones sociorum sub titulo S. Francisci Salesii
in dioecesi Taurinensi, trong G. Bosco, Costituzioni della Società…, 237 [tài liệu 7].
112 Về Don Bosco vào thời của Tổng Giám mục Riccardi di Netro, cf. Don Bosco en
son temps, 734-735, những trích dẫn đến từ đó.
113 Thư của G. Bosco gởi A. Vogliotti, Torino, 26 tháng Sáu năm 1866, trong
Epistolario II, 264.

9.8 Page 88

▲torna in alto
88 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lợi cho ngài đến nỗi những vị thẩm quyền địa phận, nghĩa là vị Tổng
Đại diện và giám đốc chủng viện, chỉ hạn chế hỏi rằng những tư giáo
ở lại với ngài có tham dự những khóa học tại chủng viện không. Nay
một vài người đã sống tại Lanzo. Nhưng Don Bosco bảo đảm rằng
có một ban giảng huấn dạy cho mọi người tại chính Valdocco. Không
phải là không có lý do, hội đồng địa phận cho rằng rằng điều này
đang đi quá xa.
Tuy nhiên, Don Bosco theo đuổi những mục tiêu của mình. Ở
Rôma vào tháng Giêng năm 1867, có một vận động nào đó liên
quan đến việc phê chuẩn Tu hội, giai đoạn cốt yếu thứ hai để Hiến
Luật của ngài được hưởng quyền giáo hoàng. Ngài cần các giám mục
miền Piedmont hỗ trợ và giới thiệu điều này, bắt đầu với Torino. Vì
những lý do ta dễ mường tượng, hội đồng giáo phận Torino lập tức
đưa ra những chống đối. Ngày 8 tháng Tư, khi bắt đầu tiếp xúc với
địa phận mới, Tổng Giám mục Ricardi bắt đầu làm cho cuộc sống
nên khó khăn với Don Bosco. Đức Tổng sẽ không phê chuẩn việc học
hành vội vã của các giáo sĩ, trong một trường mà bao gồm các xưởng
thợ và một Nguyện xá. Đức Tổng coi việc đào luyện kiểu này không
thích hợp; điều này trở thành một vấn đề từ lúc ngài lãnh trách nhiệm
phong chức các tư giáo của Don Bosco. Một tháng trước khi bắt đầu
niên học 1867-1868, ngài viết cho Don Bosco một lá thư nói dứt
khoát về các sự việc: trong tương lai ngài sẽ chỉ phong chức các sinh
viên của chủng viện thuộc địa phận thôi, vì thế bề trên của Nguyện
xá Valdocco sẽ phải hành động sao cho phù hợp. Don Bosco tức khắc
bắt đầu giải quyết vấn đề, và cố gắng đối thoại; tuy nhiên, ngài phải
nhận rằng Tổng Giám mục sẽ không khuất phục. Một lần nữa Don
Bosco quay sang Rôma, nhưng phương thức này làm Tổng Giám mục
Riccardi khó chịu.
Để những lý lẽ của mình được những người có địa vị cao sang
lắng nghe, Tổng Giám mục dùng cùng những phương thức mà Don
Bosco đã dùng với các Giám mục để được những lá thư giới thiệu Tu
hội Salêdiêng. Sau khi cho Don Bosco thư giới thiệu, ngày 14 tháng
Ba năm 1868, ngài cũng gởi một lá thư chua cay đặc biệt tới vị Hồng
y Chủ Tịch Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu. Ngài biết Don Bosco

9.9 Page 89

▲torna in alto
Đào Luyện Các Salêdiêng Trẻ | 89
được Đức Pio IX và Ngoại Trưởng (Quốc vụ Khanh, Secretary of State)
Antonelli hỗ trợ. Mặc dù thế, ngài thấy có bổn phận diễn tả quan
điểm của chính mình: "Thật sự, nếu con không được thuyết phục
rằng Thánh Bộ cốt yếu sẽ thay đổi Hiến Luật đã được đệ trình, con
chẳng hề thâm tín để lấy bước này, cho dù việc con phản đối chỉ
mang đến cho con những khó khăn đáng kể, vì con tin mình sẽ bội
phản bổn phận là một Giám mục nếu con bảo trợ một Tu hội mà sẽ
được phê chuẩn như được đề xướng; điều đó chỉ có thể là làm hại
Giáo hội, địa phận và giáo sĩ... Trường Torino đó quả là mớ lộn xộn,
gồm công nhân, học sinh, giáo dân, tư giáo và linh mục, tất cả 'hằm
bà lằng'. Bằng cách trải rộng phạm vi hoạt động, nó sẽ còn tệ hơn
nữa." Ba tháng sau đó, Giám mục Lorenzo Renaldi, của Pinerolo,
chọn một khóe nhìn tương tự trong một lá thư cho Thánh Bộ các
Giám mục và Dòng Tu.
Rất lúng túng, ủy ban của Rôma bắt đầu thẩm tra những chủng
sinh của Don Bosco, vì được mời cho biết quan điểm về Hiến Luật
của Tu hội Thánh Phanxicô Salê. Những kết luận của Đức Ông
Gaetano Tortone, đại diện cho Tòa Thánh ở Torino, thì không có lợi.
Ông nghiêm khắc phê bình chất lượng học hành của các tư giáo thật
tệ, thiếu tinh thần giáo sĩ và việc đào luyện của họ không thích hợp
giữa các trẻ Nguyện xá. Vài tháng sau, khi được hỏi, vị linh mục nhà
báo, cha Giacobê Margotti, một nhân vật có ảnh hưởng trong thế
giới giáo sĩ miền Piedmont đã nghi vấn tinh thần độc lập của Don
Bosco về đào luyện các tư giáo của ngài.114
Đối diện với một liên minh kiểu này, Don Bosco, ít chịu nhượng
bộ những biện pháp mà ngài coi là đàn áp, bắt đầu tìm nhiều đồng
minh hơn ở Rôma. Ngày 9 tháng Chín, năm 1868, khi vẫn còn hạnh
phúc vì những lễ hội kính Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, ngài nói
với Hồng y Philip de Angelis về những vấn đề đang gặp với Tổng
Giám mục Riccardi di Netro, người đã tuyên bố rằng chỉ phong chức
những tư giáo đã qua chủng viện. Don Bosco phản đối điều đó:
"...Nếu con gởi các tư giáo của con tới chủng viện đó, thì tinh thần
114 Về sự phê chuẩn của Rôma, cf. Don Bosco en son temps, 736-740, bản văn và
ghi chú.

9.10 Page 90

▲torna in alto
90 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
kỷ luật của Tu hội sẽ kết thúc ở đâu? Con sẽ tìm đâu ra hơn một trăm
giáo lý viên cho nhiều lớp học của trẻ đây? Rồi sau khi trải qua năm
năm trong chủng viện, ai sẽ muốn trở lại và đóng mình trong
Nguyện xá?"115 Sự chiêu mộ nhân sự, việc đào luyện, sự kiên trì của
họ cũng như việc vận hành bất kỳ sáng kiến giáo dục nào khác xem
ra đang bị đe dọa bởi những sắp đặt của Đấng Bản Quyền tại Torino.
Đức Tổng dường như đã thắng. Angelo Savivi, dòng Carmelite, Cố
vấn của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu, bỏ phiếu chống Hiến
Luật của Don Bosco.116 Những vị thẩm quyền của Rôma hỗ trợ Tổng
Giám mục. Ngày 2 tháng Mười, thư ký Thánh Bộ các Giám mục và
Dòng tu báo cho Don Bosco về phiếu chống lại lời yêu cầu xin phê
chuẩn Tu hội Thánh Phanxicô Salê; ngài đưa ra ba lý do: "Tôi xin lỗi
phải thông tin cho cha rằng nay Hiến Luật cho Tu hội của cha không
thể được phê chuẩn, bởi vì chúng cần phải được thay đổi cách cốt
yếu trong hai khoản Hiến Luật chính. Khoản thứ nhất liên quan đến
những lá thư tiến chức cho các tư giáo được Don Bosco tiến cử lãnh
nhận các chức nhỏ hay chức thánh. Điều thứ hai về việc học hành
của cùng những tư giáo đó vì Tổng Giám mục đòi họ phải học trong
những trường thuộc chủng viện địa phận."117
Các sự việc đã rõ. Don Bosco muốn hai điều không thể tương hợp:
Rôma phê chuẩn Tu hội và giữ lấy hệ thống đạo tạo giáo sĩ của mình.
Chướng ngại đó xem ra không thể vượt qua.
Nhưng Don Bosco khôn khéo lèo lái đến kết thúc tốt đẹp. Ngài
đạt được một số những sự tiến cử và né tránh những chướng ngại
bằng cách nại tới thẩm quyền cao hơn một cách hệ thống. Ngày 15
tháng Giêng năm 1869, ngài đi Rôma quyết định đẩy sự việc đi tới.
Ngài quyết định ở đó một tháng rưỡi, bám lấy những người có trách
nhiệm. Khoảng ngày 19, Đức Giáo Hoàng đã tiếp ngài trong buổi
triều yết. Đây chính là giai đoạn sơ khởi của cuộc tấn công. Đoạn
ngài bắt đầu giải thích phương pháp đào tạo những tu sĩ trẻ của
115 Thư của G. Bosco gởi cho F. De Angelis, Torino, 9 tháng Giêng năm 1868, trong
Epistolario Ceria I, 572-573 (lá thư này không xuất hiện với ngày đó trong Epistolario Motto).
116 Phiếu, votum, của Savini đã được sao lại trong MB IX, 376-378.
117 Thư của S. Svegliati gởi cho G. Bosco, Rome, 2 tháng Mười năm 1868, MB IX, 378-379.

10 Pages 91-100

▲torna in alto

10.1 Page 91

▲torna in alto
Đào Luyện Các Salêdiêng Trẻ | 91
mình cho những vị có thẩm quyền: chấp nhận, những năm thử thách,
phong thái đào luyện những tu sinh (đệ tử), (Don Bosco không nhắc
đến từ ngữ tập viện), học hành, đào luyện tông đồ thực tiễn. Ngài
huấn đức cho các Salêdiêng ngày 17 tháng Ba sau đó: "Đức Thánh
Cha tán thành sự phê chuẩn, nhưng ngài không thể quyết định một
mình". Trong một lần triều yết khác ngày 23 tháng Giêng, ngài chỉ
nhận xét rằng những lá thư tiến chức của các Giám mục không cốt
yếu cho những người trẻ gia nhập Nguyện xá trước khi họ tới 14
tuổi. Tuy nhiên, suốt những tuần đó các sự việc đã lặng lẽ tiến tới.
Vào tháng Hai, Don Bosco đã hai lần gặp gỡ lâu giờ với Đức Giáo
Hoàng. Trong lần gặp gỡ thứ hai, ngài biết rằng cuối cùng Thánh Bộ
các Giám mục và Dòng tu đã phê chuẩn Tu hội Thánh Phanxicô Salê.
Sắc lệnh ấy đề ngày 1 tháng Ba năm 1869. Nó ban cho bề trên năng
quyền, trong 10 năm, ban hành những lá thư tiến chức cho những
người trẻ đã gia nhập Nguyện xá trước khi đủ 14 tuổi.118 Don Bosco
biết rằng cuối cùng ngài đã hoàn thành giai đoạn hai. Bốn ngày sau
sắc lệnh, ngài trở về Torino với sự chắc chắn chiến thắng.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu ngài hiểu rằng Hiến Luật đã không được
hoàn toàn phê chuẩn và điều đó không đủ để trình bày những lá thư
tiến chức cho một Giám mục để xin phong chức một tư giáo.
Cha Rua: Vị Tập sư không có tước danh
Được sự nhìn nhận từ Rôma kiện cường, Don Bosco thận trọng
theo dõi bước tiến của Tu hội. Ngày 15 tháng Tám năm 1869, ngài
viết một luân thư quan trọng cho các Giám đốc các nhà về bổn phận
của họ đối với các hội viên: Hai lần huấn đức một tháng, bó buộc
mọi người phải bàn hỏi (Rendiconto) hàng tháng.119 Thống kê cho
biết năm 1869, có 62 người tuyên khấn và 31 ascritti (tập sinh), được
phân vào bốn công cuộc Salêdiêng. Năm đó, cha Rua được trao phó
trách nhiệm trực tiếp để đào luyện những ascritti này; do vậy, ngài
trở thành tập sư mà không có tước vị, để tránh Tu hội tỏ ra là một
Tu hội truyền thống. Thật ra, trách nhiệm của ngài trải rộng tới
118 Bản văn được xuất bản trong MB IX, 558-561.
119 Epistolario III, 124-127.

10.2 Page 92

▲torna in alto
92 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
những giai đoạn của thời kỳ thử luyện (từ ngữ Don Bosco dùng) đối
với các ứng sinh vào đời sống Salêdiêng, từ thỉnh sinh đến thụ phong
linh mục. Chẳng khác nhau mấy, sự phân biệt giữa những giai đoạn
này khá lỏng lẻo tại Valdocco.
Năm năm sau, khi vai trò của cha Rua chuyển qua cho cha Giulio
Barberis, trong một tài liệu được chuẩn bị gởi cho các vị thẩm quyền
ở Rôma, Don Bosco minh định phương pháp đào luyện, khi sử dụng
phong thái hỏi-thưa ngài ưa thích.120 Bản văn ấy phản ánh vai trò đã
được trao cho cha Rua trong những năm trước: chọn các ứng sinh,
chỉnh đốn đời tu qua những hoạt động biệt loại, dạy dỗ thiêng liêng
cho họ, đào luyện họ cách thực tiễn cho đời sống tương lai.
Theo Don Bosco, "tập viện" nếu chúng ta muốn gọi như thế,
không phải là một điều gì tuyệt đối: "Chúng ta có tập viện, nhưng
tại những nơi chúng ta sống, lập pháp công cộng không cho phép
chúng ta lập một nhà tách biệt dùng riêng cho mục đích này. Tập
viện, mà chúng ta gọi là một thời kỳ thử, được làm theo kiểu gián
đoạn tại nhà chính ở Torino". Tập viện này không thể là một loại đan
viện. Don Bosco viết: "Khi tiếp nhận các thành viên, chúng ta đặc biệt
nhìn đến những nhân đức của họ, vì Tu hội chúng ta không được
dành để tiếp nhận những người cải hồi (converts) vốn tìm kiếm cầu
nguyện, đền tội, và xa lánh thế giới; nhưng chúng ta đón nhận
những người có những thói quen tốt dựa trên nhân đức và đạo giáo,
những người muốn hiến mình cho sự thiện hảo của giới trẻ, cách
riêng những em nghèo và gặp nguy hiểm. Chính vì thế, cho đến nay
chúng ta chỉ chấp nhận những người trẻ mà chúng ta đã biết một
thời gian dài; theo tất cả những bản tường trình, họ đã sống gương
mẫu trong các nhà chúng ta."121
Những người trẻ này được đào luyện khi hoạt động, kể cả trong
"tập viện" nữa. Don Bosco muốn các sự việc theo lối này, vì thế năm
1874, ngài giải thích cho những người trao đổi thư tín ở Rôma:
120 Xem cuốn sách nhỏ 20 trang Cenno istorico sulla Congregazione di S. Francesco di
Sales e relativi schiarimenti, Rome. Tipografia Poliglotta di Propaganda, 1874 (được
sao chép lại một phần trong MB IX, 507-510).
121 Cenno istorico, 10-11.

10.3 Page 93

▲torna in alto
Đào Luyện Các Salêdiêng Trẻ | 93
"Trong thời gian này các tập sinh cũng bận rộn dạy giáo lý bất kỳ lúc
nào cần đến, đang khi hộ trực các em trong cơ sở này; thậm chí đôi
khi dạy các lớp ban ngày hay ban tối, chuẩn bị những em không có
học chịu phép Thêm Sức, rước lễ, hay giúp lễ hoặc những gì tương
tự. Đây là phần quan trọng nhất của thời kỳ thử luyện. Không nhận
vào Tu hội này bất kỳ ai không có thái độ ngay chính cho loại công
việc này."
Chắc chắn đây là chương trình với những hạn từ lý tưởng. Nhưng
thực tế nó xảy ra làm sao và đâu là những kết quả của nó? Sự thường
xuyên hằng ngày của cha Rua và các ascritti là như thế nào giữa năm
1869 và 1874? Chúng ta nói rằng tập viện như thế không hiện hữu.
Đàng khác cũng chẳng có bất kỳ Tu hội chính thức nào tại Valdocco.
Đơn giản, đó là trường hợp thỉnh thoảng một ai quyết định ở lại với
Don Bosco. Và khi một người trẻ thổ lộ những ý định của mình cho
Don Bosco, thì ngài gởi em đó đến với cha Rua.
Trong những ghi chú của mình, chắc chắn Don Bosco có những ý
tưởng mới khi ngài quy chiếu tới những thực hành đạo đức đặc biệt
cho "các tập sinh của ngài". Ngài viết: "Mỗi sáng, đọc kinh, nguyện
ngắm, lần hạt một tràng, hiệp lễ một tuần vài lần. Trong ngày họ có
đọc sách thiêng, viếng Thánh Thể và đọc đề tài tu đức, xét mình và
hiệp lễ thiêng liêng. Mỗi tối trong năm đó, vào thời gian thiết định,
họ quy tụ lại trong nhà thờ, hát một bài thánh ca, rồi đọc đời sống
của vị thánh trong ngày; sau khi hát kinh cầu, họ lãnh phép lành Bí
tích cực trọng."122 Thực tế, ở Torino những thực hành đạo đức này
dành cho tất cả các học sinh.
Thông thường, thứ năm cha Rua huấn đức thiêng liêng cho
'ascritti' như lá thư của Don Bosco bảo đảm: "Mỗi tuần, vị thầy của
những người trong thời kỳ thử luyện này, cho họ huấn đức mang
tính đạo đức về những nhân đức được thực hành và những khuyết
điểm phải tránh, thông thường hơn đặt nền nó trên một khoản Hiến
Luật nào đó."123
122 Cenno istorico, 11-12.
123 Cenno istorico, 12.

10.4 Page 94

▲torna in alto
94 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Những biên bản của phiên họp mà cha Rua chủ tọa ngày 8 tháng
Mười Một năm 1867 viết: "Sẽ cho điểm đối với việc viết đơn và hạnh
kiểm của những tư giáo cũng như cho những học sinh khác". Thực
thế, bắt đầu từ đó, có những phiên họp thông thường hàng tháng
để cho điểm các tư giáo như chúng ta đã thấy từ biên bản được cha
Rua viết lại. Chúng ta không có những sổ bộ (registers) chứa đựng
những điểm hay những nhận xét này. Tuy nhiên, có phần của một
đoạn trong "Sổ bộ hạnh kiểm của những tư giáo và sư huynh" trong
"những quy luật [do cha Rua soạn] để giữ những Sổ bộ" trong các
nhà Salêdiêng nói về mục đích của những phán đoán này. Phải lượng
giá các ứng sinh có chuyên cần và đạo đức không. "Qua sự chuyên
cần chúng tôi muốn nói đến việc tuân giữ những luật chung của nhà
cũng như việc họ chu toàn những bổn phận riêng; còn lòng đạo đức
chúng tôi muốn nói đến hạnh kiểm đạo đức, lãnh nhận các bí tích,
tham dự trách nhiệm thánh thiêng, thái độ trong nhà thờ, v.v.". Ở
những kỳ họp thuộc loại này, Hội nghị cảm thấy cần phải tăng thêm
việc hộ trực các tư giáo trong nhà thờ, nhà ngủ, nhà hội và những
chỗ khác!124 Vị "thầy" của những người thử luyện đàm thoại với từng
người trong họ, thường mỗi tháng một hoặc hai lần. Nhờ đó, các
người thử luyện [probandi] của Nguyện xá được theo dõi tốt.
Augustinô Auffray kết luận có chút lúng túng nhưng luôn luôn
hiền từ: "Họ trở thành tập sinh mà không biết… Tập viện Salêdiêng
bày ra một khía cạnh kỳ lạ nào đó trong những năm ấy. Những điều
cốt yếu có đó: độ dài và thử thách; và không có gì khác."125 Có lẽ.
Nhưng Tổng Giám mục Gastaldi đã không có cùng khóe nhìn ấy khi
được chọn làm Tổng Giám mục Torino năm 1871. Trong những lá
thư chính thức gởi cho Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu, ngài
nhấn mạnh rằng tập viện của Don Bosco lấy những tu sĩ dòng Tên
như một khuôn mẫu. Đó thậm chí cũng không phải là khóe nhìn của
những người duyệt lại Hiến Luật Salêdiêng; trong năm 1873-1874
124 P. Braido, «Don Michele Rua primo autodidatta 'Visitatore' Salesiano», RSS 9
(1990) 143. Các tư giáo cần được hộ trực trong nhà thờ, nhà ngủ, phòng học và
các nơi khác, theo điều cha Rua nói vào cuối thời kỳ lượng giá cho các tư giáo ngày
14 và 21 tháng Hai năm 1869 (FdR 2916E5).
125 Auffray, 131-132.

10.5 Page 95

▲torna in alto
Đào Luyện Các Salêdiêng Trẻ | 95
họ buộc Don Bosco phải nháp lại một chương quyết định: "Tập sư và
sự điều hành của họ", một bản văn mà đấng sáng lập đặc biệt ngần
ngại để viết và ngài vội vàng thay đổi bản tiếng Ý năm 1875, bản
độc nhất lúc đó được trao cho mỗi hội viên; so với ấn bản Latinh, về
việc hoạt động của tập viện, nó ít hơn 10 khoản. Đối với Don Bosco,
thời kỳ thử luyện này tương tự với thời kỳ "tu sinh", một thời gian
cho hoạt động và việc tông đồ. Hiến Luật cần công bố điều này cách
rõ ràng, hay ít nhất, không dấu sự kiện đó.
Nói chung, những kết quả của loại đào luyện này thì tốt. Don
Bosco tin ngài có bổn phận phải nói điều này năm 1874. "Những kết
quả luân lý cho tới nay rất mãn nguyện. Những người qua những
thử thách này trở thành những phần tử tốt lành, thích công việc của
mình, chán ghét lười biếng, và những trách vụ của họ trở thành
những trách vụ thiết yếu đối với họ, và họ sẵn sàng thích hợp với bất
kỳ cơ hội nào mà có thể làm cho Thiên Chúa được vinh quang hơn
nữa. Còn những người mà thiếu một thái độ cho loại đời sống này
đã rời bỏ, tự do theo ơn gọi của họ bằng những cách khác".126
Nói chung, tuy thiếu một nhà tập có tính tu đức truyền thống,
việc đào luyện những hội viên trẻ dưới sự hướng dẫn của cha Rua
như tập sư không tước vị, được bảo đảm. Lịch sử Salêdiêng tiếp theo
sau minh chứng điều này. Tuy nhiên sau này, những bất trật tự
nghiêm trọng về luân lý giữa những phần tử của những cuộc truyền
giáo sơ khai tới Mỹ châu - đặc biệt giữa các sư huynh - dẫn tới suy
nghĩ về một lối tiếp cận tập trung vào hoạt động hơn tu đức.127
126 Cenno istorico, 13.
127 Bất kỳ ai muốn thấy một thí dụ được nhân vị hóa có thể đọc tường trình của
cha Giuse Vespignani, Un anno alla scuola del B. Don Bosco, San Benigno Canavese,
Scuola Tipografica Don Bosco, 1930 (Auffray đã dịch một mảng của nó trong sách
của ngài, 134-137).

10.6 Page 96

▲torna in alto
96 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
8
CHA RUA
Cột Trụ của Nguyện Xá
& Luật Sống
Một Tu hội liên lỷ tăng trưởng
Cha Rua đã đào luyện những Salêdiêng trong giai đoạn ban đầu.
Như ta biết ngài là Phó Tổng Bề trên của Tu hội. Ngài đại diện Don
Bosco, mà mọi người đều kính yêu. Cha Rua cố gắng hết sức để gìn
giữ một Tu hội đang tăng trưởng về con số và kích thước được hiệp
nhất. Các nhà được mở thêm ở Alassio, Varazze và Sampierdarena,
Liguria, giữa năm 1870 và 1873. Năm 1871 Don Bosco trao cho cha
Angelo Savio trách vụ xây nhà thờ thánh Gioan Thánh sử ở Torino.
Năm 1872, việc thành lập Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu
ở Mornese được Don Bosco xem như một phần toàn vẹn của Tu hội
Salêdiêng, và chấp nhận điều hành trường cao đẳng dành cho giới
quý tộc tại Valsalice, [các việc ấy] làm cho công cuộc ngài thêm kiên
định.128
Giữa tháng Giêng và tháng Hai năm 1869, Don Bosco ở Roma dần
dần thắng vượt những chướng ngại nảy sinh từ cách thức ngài quan
niệm những tiến trình đào luyện các ứng sinh trẻ và cuối cùng đạt
được việc [Tòa Thánh] phê chuẩn Tu hội Salêdiêng. Đang khi đó cha
Rua ở Torino xin các học sinh cầu nguyện mãnh liệt cho Don Bosco.
Các thiếu niên, cảm động vì được khích lệ, tự phát lập thành những
nhóm, chúng cam kết để bảo đảm rằng mỗi người chọn một ngày
trong tuần đi hiệp lễ, hầu mỗi sáng sẽ có một số đông người xếp
hàng lên rước lễ cầu theo những ý nguyện của Don Bosco. Đây là
128 Ở đây tôi rút trực tiếp từ Ceria, Vita, 73-84, với sự liều lĩnh là đơn giản hóa nếu
không đối nghịch những đính kèm, vì tôi cũng dùng biên bản của Hội đồng nhà.

10.7 Page 97

▲torna in alto
Cha Rua Cột Trụ của Nguyện Xá và Luật Sống | 97
một cách thức diễn đạt niềm tri ân chúng dành cho người Cha của
mình, nhật ký của cha Rua viết như thế.129 Những lời cầu nguyện
này đã được chiếu nhận. Ngày 26 tháng Hai, Don Bosco thông tin
cho vị Phó Bề trên của mình về kết quả tích cực, xin ngài đừng lan
truyền tin này vì sợ gây ra những sự om xòm bởi nghe biết một Tu
hội mới được thành lập. Cha Rua chỉ nói cho một nhóm nhỏ vốn giúp
ngài chuẩn bị đón Don Bosco trở về chiều ngày 5 tháng Ba.
Ban kèn chúc mừng Don Bosco ở cổng trường. Như một sự chào
đón, chúng sắp thành hai hàng dọc theo sân Nguyện xá từ cổng vào
tới nhà có mái vòm. Những quả cầu tinh thể được chiếu sáng và
những bó đuốc bằng mỡ được thắp sáng và được treo trên những
cột xen cách nhau. Các thiếu niên chia thành hai cánh, một cánh gồm
những trẻ làm việc và cánh kia gồm những học sinh. Với ban nhạc
dẫn đầu, Don Bosco đi giữa tiếng hoan hô của mọi người hai bên.
Ngài đi lên lầu một ở đó ngài được nổi bật nhờ những ánh sáng từ
sân trong. Ban hòa tấu tiếp tục giữa sự nhiệt nồng ngoại thường của
mọi người. Cha Rua mãn nguyện. Trong Nhật ký, ngài miêu tả chi
tiết cuộc diễn chào và kết thúc nói rằng: đó là một biểu lộ hò la vui
sướng không dứt."130
Sự phê chuẩn Tu hội muốn nói rằng Hiến Luật phải được kính
trọng. Don Bosco đã cố gắng rất nhiều để xin những đấng có thẩm
quyền trong giáo hội nhìn nhận Hiến Luật. Ngài giải thích trong một
huấn đức: "Mọi người đang nhìn chúng ta và Giáo hội có quyền trên
công cuộc chúng ta. Vì thế từ nay trở đi chúng ta phải thi hành chi
tiết mọi phần của Hiến Luật". Ít ngày sau ngài nhấn mạnh: "Chúng
ta hãy bảo đảm rằng chúng ta trở thành những người sáng lập chân
thật của Tu hội Thánh Phanxicô Salê, hầu những ai đọc lịch sử của
chúng ta sẽ tìm thấy những mẫu mực giữa chúng ta và họ sẽ không
có lý thốt lên: những người này là loại sáng lập gì vậy!" Một trong
những lá thư Don Bosco viết cho cha Rua từ Rôma gợi nhắc cần phải
129 P. Braido, "Don Michele Rua...", 355.
130 Theo P. Braido, "Don Michele Rua...", 355-356.

10.8 Page 98

▲torna in alto
98 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
vâng phục.131 Ta phải thực thi vâng phục đến nỗi tạo nên một nền
tảng cho thói quen của Tu hội. Sự kiện họ có ít (người) hẳn có lợi.
Một Phó Bề trên đòi hỏi
Cha Rua là cánh tay phải của Don Bosco trong sự nghiệp tế nhị
này. Khiêm tốn và quảng đại, ngài không bao giờ lần lữa khi liên can
đến những nỗ lực và khó khăn để đáp lại những ý hướng của vị thầy.
Ngài là một người canh gác tỉnh thức, và chú ý đến bất kỳ sự bất quy
tắc nào. Bình thản và kiên nhẫn, ngài không ngại đòi buộc khi thấy
bất kỳ những phá luật nào.
Sự thinh lặng thánh sau kinh tối thường không được kính trọng.
Ngài tự lấy trách nhiệm điều này - như ta biết - là đi một vòng quanh
nhà lúc khuya khoắt hầu chữa trị điều này, đơn giản bằng sự hiện
diện của mình thôi. Một vấn đề khác thiết thân với lòng ngài là thực
hành khó nghèo tu trì. Cha Rua nỗ lực hết sức bảo đảm rằng ai nấy
đều tuân giữ điều này cặn kẽ. Khi trao cho một hội viên một số tiền,
ngài muốn người đó tường trình lại tới xu cuối cùng. Có ít trường
hợp biệt lập song không thoát khỏi sự kiểm soát của ngài. Sự can
thiệp có thể thật khó khăn. Người ta có thể tưởng tượng làm thế nào
ngài có thể và phải nên phản ứng trước một lá thư từ Don Bosco
ngày 21 tháng Tư năm 1869 ra lệnh cho ngài "phải nói cho D.
Chiapale rằng Chúa Nhật vừa rồi cha đi tìm mà không thấy: con hãy
hỏi Chiapale xem Luật có cho phép mình đi đâu tùy ý mà không có
phép hay không; con bảo Chiapale phải dừng lại ngay". Don Bosco
đã dạy ngài rằng tuân giữ Luật là điều kiện sine qua non để Tu hội có
tương lai. Đấy là điều ngài thật sự muốn.
Trái ngược điều chúng ta có thể tưởng tượng, cha Rua yêu cầu
phải trật tự, nhưng lại không cư xử một cách thô kệch. Ngài đòi hỏi,
đúng, nhưng không mô phạm hay quấy rầy. Ngài tỏ lộ một khả năng
hiếm có khi phải sửa lỗi. Ngài biết cách để chờ đợi đúng lúc; khi dăm
ba lời đã đủ, thì ngài không bao giờ nói thêm nữa. Ngài thích ứng
những can thiệp của mình theo những tính khí khác nhau. Ngài
131 Lá thư của Don Bosco gởi cho M. Rua, 31 tháng Giêng năm 1869, trong
Epistolario III, 46.

10.9 Page 99

▲torna in alto
Cha Rua Cột Trụ của Nguyện Xá và Luật Sống | 99
không bao giờ mất bình thản, không theo lối tính toán. Sự tốt lành
đơn giản của ngài ngăn ngài không làm nhục người có tội.
Sức mạnh của những sửa lỗi ấy đến từ sự kiện rằng ngài là gương
mẫu đầu tiên trong việc tuân giữ Hiến Luật. Mọi người có thể làm
chứng điều này; họ 'rửa tội' ngài với cái tên tục "Luật sống". Chính
Don Bosco gọi ngài như thế trong những cuộc đối thoại riêng tư, khi
ngài chỉ ra cha Rua là một khuôn mẫu cho sự tuân giữ cách riêng
điểm này hay điểm nọ khi ngài đi vắng.
Giữa năm 1867 và 1872, cha Rua không xao nhãng sự kiện rằng
như Phó Tổng Bề trên, ngài cũng là Phó Bề trên của Nguyện xá. Ngài
phải chăm sóc tổ chức đó và theo dõi tiếp tục những biến cố tôn giáo
quan trọng (Tuần 9 ngày Giáng sinh, Tuần Thánh, Tháng Đức Mẹ,
Mùa chay, những ngày tĩnh tâm, ngày lễ của Don Bosco vào 24
tháng Sáu, lễ thánh Cecilia, Mẹ Vô nhiễm, thánh Phanxicô Salê, thánh
Lu-y Gonzaga và Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu). Lời ngài dạy về điều này
có thể tìm thấy trong biên bản của những khóa họp được ngài triệu
tập và chủ tọa.132 Có gần 900 thanh thiếu niên lúc đó. Ngài thiết
định các học sinh phải trật tự đi vào lớp cách trật tự, có các hộ trực
đi kèm; phải có một hộ trực cho các sinh viên triết học đặc biệt trong
giờ nghỉ (phiên họp ngày 8 tháng Mười Một năm 1867). Ngài khích
lệ họ giữ nhà ngủ ngăn nắp và ban ngày cấm vào nhà ngủ; nhà ngủ
phải đóng kín từ 8:30 sáng (phiên họp ngày 16 tháng Mười Một
năm 1871).
Vị Phó Bề trên ấy đã có thể nói rằng ngài hầu như được mãn
nguyện với các sinh viên; còn với các thiếu niên lao động thì ít hơn
một chút. Sự tham dự của họ trong nhà thờ vẫn còn là điều đáng ao
ước. Ngài quy định trong hội đồng ngày 27 tháng Mười Hai năm
1867: "các em được chia vào các nhà ngủ khác nhau với những hộ
trực của chúng; mỗi người phải có chỗ của mình và một cuốn sách
đạo đức." Những học sinh này chưa giữ kỷ luật xác đáng. Chẳng hạn,
những thiếu niên lao động thường vào phố mua những vật chúng
cần trong các xưởng thợ: cha Rua hủy bỏ điều này, nhưng không
132 Chúng tôi gợi nhắc rằng những quyết nghị của Hội đồng, được chính cha Rua
viết xuống, được tìm thấy trong FdR 2916D1-2919E9.

10.10 Page 100

▲torna in alto
100 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
mấy thành công. Thời khóa biểu quá uyển chuyển. Ngày 13 tháng
Ba năm 1870, Hội đồng ấy đã quyết định rằng có tiếng chuông nhắc
gọi những người lãnh đạo và các trẻ lao động. Những trẻ lao động
có giờ giải trí trong sân cùng với các học sinh: cha Rua dứt khoát chia
tách các trẻ lao động và học sinh; điều này gặp nhiều khó khăn, khi
suy đoán từ những nhận xét liên tục của hội đồng đó. Thậm chí còn
đi tới quyết định xây một hàng rào chia tách nữa.133 Những thời giờ
dành cho lao động và dạy học không được chính thức viết ra; cha
Rua đề ra những điều để việc đào luyện kỹ thuật xảy ra theo cấp và
quyết định các học sinh lao động có lớp lý thuyết mỗi ngày lao động
hầu giúp chúng tiến bộ trong nghề nghiệp và văn hóa toàn diện.
Chẳng hạn, ngày 9 tháng Mười Một năm 1871, cha Rua ấn định
những lớp cho các học sinh lao động.134 Thỉnh thoảng ngài quan sát
xưởng này xưởng nọ, quan sát các thiếu niên, nói chuyện với giám
xưởng, thường là một người đầy thiện chí nhưng ít biết cách thức kỹ
thuật (dạy kỹ thuật). Những phiên họp Hội đồng do ngài chủ trì,
thông thường trở lại "vấn đề của những thiếu niên lao động" (như
vào ngày 20 tháng Ba năm 1873) và những cách thức "cải thiện các
trường hợp luân lý của những trẻ lao động" (phiên họp ngày 27
tháng Bảy năm 1873). Dần dần, nhờ cha Rua, các khóa học kỹ thuật
tại Nguyện xá cải thiện đáng kể và chiếm được uy tín.
Cha Rua và Hội đồng của ngài cũng quan tâm đến máy móc hư
hỏng trong các xưởng thợ, sự sạch sẽ, giặt giũ và phân phối khăn
trải giường, vệ sinh trong các nhà ngủ. Chúng ta ghi nhận cách thức
năm 1870 khi trường học tại Mirabello chuyển tới Borgo san
Martino, Bà cố Joan Maria Rua cùng con mình đến ở Valdocco để
giải quyết những vấn đề cùng loại. Nhiều thiếu niên ăn mặc tùy
thích, và phần lớn chúng lại quá nghèo khổ để làm cách khác, hoàn
toàn lệ thuộc vào trường học đó. Cha Rua lo sao ai nấy có thể ăn mặc
chỉnh tề trong ngày Chúa nhật và khi ra ngoài. Hàng tuần, ngài coi
xét các tủ áo quần trong nhà ngủ, kiểm tra may vá hay khâu lại áo
quần, giày dép.
133 Biên bản trong FdR 2917C1-3.
134 Biên bản trong FdR 291B12.

11 Pages 101-110

▲torna in alto

11.1 Page 101

▲torna in alto
Cha Rua Cột Trụ của Nguyện Xá và Luật Sống | 101
Cha Rua muốn mọi người tuân giữ cẩn thận luật nhà. Don Bosco
đã viết những quy luật này năm 1852, sau một thời gian thử nghiệm
và rồi duyệt lại năm 1854 và có hiệu lực cho niên khóa 1854-1855.
Chúng không được in trước năm 1877 nhưng dường như vào đầu
niên học, cha Rua đã xin long trọng đọc luật trước mọi người và bảo
đảm rằng mỗi Chúa nhật cắt nghĩa một chương. Thời đầu đúng là
thế. Nhưng thật sự những quy luật này được biết đến bao nhiêu? Sử
gia (tôi nghĩ ở đây là cha Ceria) không có những ảo tưởng. Dù sao
chăng nữa, biên bản cuộc họp Hội đồng ngày 22 tháng Mười Một
năm 1869 đã viết: "Để những quy luật này được từng người biết đến
[của những thành viên của Hội đồng!] người ta quyết định rằng mỗi
phiên họp sẽ đọc một đoạn". Ngày 8 tháng Mười Hai năm 1872 Hội
đồng thiết định "huấn đức cho những trưởng xưởng và hộ trực về
những quy luật dành cho họ". Được giáo dục tại trường của các Sư
huynh, cha Rua nhìn nhận tuân giữ chính xác các quy luật mới bảo
đảm tốt nhất cho các thanh thiếu niên hưởng lợi được cả về luân lý
lẫn học hành. Phần còn lại Don Bosco trao ban một tầm quan trọng
đặc biệt cho chúng và mọi sự tỏ lộ ý muốn của Don Bosco đều là
một mệnh lệnh tuyệt đối cho cha Rua.
Tất cả điều này muốn nói cha Rua thường phải cảm thấy rằng sức
nặng quyền bính là một điều mà cuối cùng khiến mọi người sợ hơn
là yêu mến ngài, bất chấp dự thế tử tế của ngài. Những người tốt
nhất và có thẩm quyền nhất trong nhà đó, cách riêng là Đức Hồng y
tương lai Cagliero, lo lắng nhiều về điều này đến độ họ nói cho Don
Bosco điều họ quan tâm. Gioan Cagliero đã trình bày hơn kém thế
này: "Cha Bosco yêu dấu, xin Chúa giữ cha sống lâu, nhưng chắc
chắn một ngày kia cha sẽ lên trời và giao chiếc áo của cha cho cha
Rua. Mọi người đều nói thế và chính cha đã nói nhiều lần. Nhưng
không phải ai nấy đều đồng ý rằng cha Rua sẽ được mọi người tín
nhiệm như cha đâu. Đời sống của người giám thị mà ngài sống tại
Nguyện xá để giữ kỷ luật, không làm cho nhiều người thích ngài
đâu". Don Bosco biết rõ nhận xét ấy thật chí lý. Năm 1872, ngài chỉ
định một vị phó Bề trên khác của Nguyện xá là cha Phanxicô Provera
và trao tước vị Giám đốc cho cha Rua. Nhưng do kính trọng Don

11.2 Page 102

▲torna in alto
102 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Bosco, vị Giám đốc chân thật của công cuộc, cha Rua (vị sau) đã thay
đổi tước vị ấy thành Phó Giám đốc.
Vị Phó Giám đốc này có khả năng đảm đương nhiều trách vụ. Có
hai trách vụ mới ngài không thể từ chối. Ngài phải giảng lễ sáng
Chúa nhật cho các tín hữu và học sinh tại nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ
các Giáo Hữu. Điều này được dành cho Don Bosco cho đến lúc đó.
Cha Rua đảm trách bình giải về Kinh Thánh; từ những cuốn sổ ghi
chú, ngài đã cho thấy những ghi nốt của mình. Những người nghe
ngài không quên những lời dạy của ngài, luôn luôn rõ ràng và thứ
tự. Ngài thêm một suy tư hay lưu tâm thiêng liêng, luân lý hay tôn
giáo nào đó vào những trình thuật, như các ghi chú bài giảng của
ngài cho thấy. Trách vụ thứ hai bao gồm việc dạy Thánh Kinh cho
các tư giáo trong nhà, bắt đầu từ khi khóa học thần học tại Valdocco
trở thành khóa học trong nhà. Theo cuốn cẩm nang, đề tài dường
như khô khan, nhưng từ điều mà các cựu học sinh nói, cha Rua có
tài nói chuyện tự nhiên và thoải mái, điều ấy đã khiến cho mọi thứ
đủ rõ ràng và hấp dẫn.
Ngài cũng chịu trách nhiệm tổ chức tổng quát các khóa thần học.
Biên bản của phiên họp Hội đồng ngày 10 tháng Mười Một năm
1872 cho chúng ta biết về thời khóa biểu hàng tuần. Những khóa
thần học tín lý vào sáng thứ hai và thứ sáu (giáo sư: cha Molinari);
thần học luân lý các ngày thứ ba, thứ tư và thứ bảy (giáo sư: cha
Cagliero). Ban chiều có những bài học về Kinh Thánh vào thứ hai và
thứ sáu (giáo sư: cha Rua); giáo sử vào chiều thứ ba và thứ bảy (giáo
sư: cha Barberis); đang khi đó vào thứ tư họ học Tân ước (với cha
Rua). Vào thứ năm, một ngày nghỉ, chỉ có một lớp về phụng vụ, hay
những lễ nghi thánh, lúc 10 giờ sáng cho các sinh viên triết và thần
(giáo sư: cha Cibrario). Rồi ngài phải quan tâm đến những việc thụ
phong của các tư giáo, như chúng ta biết được từ thư tín ngài viết ở
Torino vào thời kỳ đó.
Ngoài mọi điều này, và cha Ceria hỏi, bạn có tin nổi là cha Rua
vẫn tiếp tục chuẩn bị những kỳ thi công lập hay không? Phải, đúng
là thế. Vào năm 1872 ngài ở giữa những ứng sinh chuẩn bị thi văn
bằng để dạy cấp ba. Với con số các trường cao đẳng gia tăng, họ cần

11.3 Page 103

▲torna in alto
Cha Rua Cột Trụ của Nguyện Xá và Luật Sống | 103
những văn bằng được công nhận. Ít nhất cha Rua thấy là một người
trong họ. Năm 1866 ngài đã thử, khi ngài qua kỳ thi viết; ngài bị rớt
khi thi vấn đáp vì những giáo sư không bằng lòng mấy đối với những
sinh viên không dự các khóa học của họ. Lần này, ngày 1 tháng Mười
năm 1872, ngài được văn bằng (diploma) hạng ưu.135 Hơn nữa,
(chúng ta không biết ai giới thiệu điều này), một tài liệu gốc nói cho
chúng ta rằng ngày 9 tháng Mười năm 1873, Micae Rua được giới
thiệu vào hội hàn lâm văn chương của Arcadia mang biệt danh
'Tindaro Stinfatico'.136 Theo cha Lemoyne, Abbot Peyron, một giáo
sư nổi tiếng của Torino đã nói rằng nếu ngài có sáu người như năng
lực của cha Rua, ngài có thể mở một đại học.137
Một linh mục sốt sắng
Được thoát khỏi trách vụ là Phó Bề trên của nhà Valdocco, cha Rua
bây giờ có thể dành nhiều giờ hơn cho trách vụ Phó Tổng Bề trên.
Ngài đã can dự vào việc tổ chức các trường (cao đẳng) đang trong
tiến trình khai trương, và do Don Bosco yêu cầu, cha Rua đã in và
phân phát những chương trình của các trường ấy. Tháng Mười năm
1872, Don Bosco cũng trao cho ngài trách vụ chỉ định nhân sự cho
các trường khác nhau. Đây là một trách vụ tế nhị. Trong một lá thư
Don Bosco viết cho cha Rua: "Con hãy làm mọi điều có thể để bảo
đảm rằng các việc được thi hành sponte chứ không phải coacte, [tự
phát chứ không phải bị ép buộc].138 Vậy, ngài cần phải biết rõ những
người của mình, đối xử với họ hiền dịu bao có thể, đo lường đúng
những khả năng của họ...
Lòng sùng mộ sống động nuôi dưỡng tinh thần của cha Rua, làm
cho ngài mạnh mẽ và kiên trì hy sinh. Một giai thoại từ 1873 cho
thấy rõ điều này. Cha Rua không để mình bị chia trí khỏi kinh
nguyện. Một thầy từ Lerins, lo việc phòng áo [ông từ] năm đó tại
nhà thờ Mẹ Phù Hộ, đã để lại cho chúng ta chứng từ chi tiết này.
135 Chứng chỉ trong FdR 2665B5.
136 Tài liệu trong FdR 2774A7.
137 MB VIII, 252.
138 Thư của G. Bosco gởi tới M. Rua, Peveragno, 16 tháng Mười năm 1872, in
Epistolario III, 475-477.

11.4 Page 104

▲torna in alto
104 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Một ngày kia, một Hoàng tử với nhóm lính của mình tới Nguyện xá.
Khi Don Bosco vắng mặt, cha Rua có bổn phận tiếp họ. Đúng lúc đó
ngài đang dâng lễ. Vị khách được thông tri như thế và chờ đợi cùng
với một người tùy tùng của mình trong phòng thánh. Sau khoảng 20
phút, cha Rua từ bàn thánh đi vào. Người ta bảo ngài vội lên. Nhưng
như thể chẳng nghe thấy gì, ngài từ từ cởi áo lễ. Khi ngài quay ra, vị
Hoàng tử cất bước đến gần. Nhưng cha Rua làm một cử chỉ xin đợi
một chút và ngài đi tới ghế quỳ của mình. Ngài úp mặt trong bàn
tay và đắm chìm trong cầu nguyện khoảng 20 phút. Cuối cùng ngài
đứng lên, và với một nụ cười thiên thần, vòng tay giang rộng, ngài
tiến tới các vị khách, xin lỗi vì đã không sẵn sàng ngay. Họ thông
cảm và rất lịch thiệp về điều ấy. Sau này họ nói họ đã được xây dựng
biết bao bởi việc ngài tạ ơn như thế.139
Không ai hơn Don Bosco có thể nói cho chúng ta cha Rua đã tiến
bộ nhiều như thế nào trên đường trọn lành. Tháng Chín năm 1874,
cùng thầy tư giáo từ Lerins đến ở tại Lanzo, thày tham dự cuộc tĩnh
tâm Salêdiêng và nghe Don Bosco nói: "Nếu cha phải chỉ ra một điểm
nơi cha Rua mà ở đó có một nhân đức nào đã không đạt tới hoàn
thiện, thì cha sẽ không thể làm được bởi lẽ điểm đó không có".140
Sau một cuộc chiến lâu dài và khó khăn, đây là năm khi Rôma
cuối cùng (3 tháng Tư) đã trao ban sắc lệnh phê chuẩn Hiến Luật.
Cha Rua đã cầu nguyện biết bao ở Torino để được kết quả này! Don
Bosco biết rõ như thế. Ngày 14 tháng Tư, ngài gởi cho cha Rua một
ghi chú để đọc công khai lúc huấn từ tối. Ghi chú đó như sau: "Hôm
nay, người cha, người anh và người bạn linh hồn của các con rời
Rôma sau khi đã vắng nhà ba tháng rưỡi; ngày thứ tư cha sẽ qua
đêm tại Florence; hy vọng sáng thứ năm ngày mồng 8 cha sẽ ở với
các con. Không cần lễ lạc, kèn trống và đón tiếp đâu". Thực thế,
139 Thư gởi cho Don Albera, Lérins, tháng Mười năm 1914, in FdR 2835D3-6; cf. Ceria,
Vita, 83.
140 Cùng một lá thư; cf. Ceria. Vita, 84.

11.5 Page 105

▲torna in alto
Cha Rua Cột Trụ của Nguyện Xá và Luật Sống | 105
Nguyện xá đang chịu tang cha Phanxicô Provera vừa qua đời, đó là
người kế vị cha Rua, là Phó Bề trên (Prefect) của nhà đó.141
141 Thư của G. Bosco gởi cho M. Rua, Rome, 14 tháng Tư năm 1874, trong
Epistolario IV, 277-278.

11.6 Page 106

▲torna in alto
106 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
9
CHA RUA Vị Kinh Lược
Những Nhà Được Liên Kết
Cha Rua "Vị kinh lược" những nhà Salêdiêng
Chúng ta ở trong thời kỳ 1870-1875. Vị Phó Tổng Bề trên thấy
mình có trách nhiệm về việc tuân giữ đời sống tu trì, không chỉ tại
Nguyện xá nơi ngài đang sống nhưng còn trong những trung tâm
khác của Tu hội đang phát triển, những nhà Borgo San Martino,
Lanzo, Alassio và Torino-Valsalice. Ngài muốn được thông tin liên tục
về việc điều hành những nhà này để thực thi đúng một vai trò mà
ngài xét là cốt yếu để toàn Tu hội vận hành đúng. Chính vì thế cần
phải thanh tra có hệ thống. Ngài lo liệu để thực thi các cuộc kinh lý
và đồng hành với chúng bằng khuyên bảo và những quyết định kỷ
luật.
Don Bosco thường quen thăm viếng các nhà, nhưng luôn với một
lối tiếp cận hiền phụ và nhất thiết hiền dịu. Về phần mình, cha Rua
thăm viếng chúng như một người quản trị khôn ngoan các công cuộc
giáo dục, quan tâm đến những hoàn cảnh vật chất và luân lý của
từng nhà. Ngài thăm viếng các trường mà do tên gọi chúng cần phải
giữ những chỉ dẫn được Don Bosco đề ra trong Hiến Luật, Quy chế
của Nguyện xá và trong những hướng dẫn được ban cho ngài khi
được sai tới Mirabello như Giám đốc. Nói tắt, ngài cần kiểm tra về
sự trung thành với tinh thần mà Don Bosco đã in vào trong Tu hội
đang phát triển của ngài.
Ngài sắp xếp để thực thi vai trò này như vị kinh lược từ năm 1874,
khi Don Bosco đạt được sự phê chuẩn dứt khoát bản văn Hiến Luật.142
142Chương này mắc nợ bài viết của cha P. Braido, "Don Michele Rua...", 97-180.

11.7 Page 107

▲torna in alto
Cha Rua Vị Kinh Lược Những Nhà Được Liên Kết | 107
Giữa năm 1874 và 1876, một cách hệ thống, ngài ghi lại những nhận
xét của mình trong một cuốn sổ được lưu giữ.143 Như vị thanh tra
dường như cha Rua không quá quan tâm đến những nhạy cảm của
các Giám đốc vốn là những người đầu tiên liên hệ đến những nhận
xét của ngài. Ngài không chút 'lèo lái" nếu cần phải diễn tả sự la rầy
hay cáo giác những xao nhãng và lạm dụng.
Chương trình của Cha Rua với tư cách là vị kinh lược
Là Phó Bề trên ngài phải kiểm tra xem những quyết định trong
các phiên họp hàng năm của các giám đốc có được áp dụng hay
không. Những phiên họp này được tổ chức tại Valdocco vào khoảng
lễ Thánh Phanxicô Salê. Trước tiên, ngài nói những nhận xét cho các
giám đốc, và sau đó, qua họ, đến các nhân sự Salêdiêng.
Một chương trình trên văn bản của nhiều cuộc kinh lý được soạn
ra ở một trong những cuốn sổ của ngài. Trước hết, cuộc thanh tra
xem xét tất cả mọi lãnh vực, rồi đến những con người, Salêdiêng và
học sinh và cuối cùng đến môi trường tổng quát. Ngài chính xác
kiểm tra sổ sách quản trị.144 Ngài thanh tra tất cả những lãnh vực bắt
đầu với nhà thờ và phòng thánh, đến bàn thờ, các áo thánh, những
cử hành trong tuần và Chúa nhật và những ngày lễ. Rồi ngài tiếp tục
đi tới những phòng của bề trên và các phòng ngủ của học sinh: có
gì quá thanh lịch trong các phòng của hội viên không? Nhà ngủ có
sạch sẽ và đủ thoáng khí không? Ảnh chuộc tội, tượng Đức Mẹ có ở
chỗ xứng đáng không? Chỗ ngủ của hộ trực tại nhà ngủ có nhỏ đủ
để xua bỏ cám dỗ biến chúng thành một văn phòng không? Đoạn
cha Rua đi xuống tầng trệt, dọc theo các hành lang, các cầu thang
và sân chơi và một cách hệ thống kiểm tra sự sạch sẽ. Nếu có cơ hội
đi vào các phòng lớp, ngài hỏi học sinh và kiểm tra những tập bài
vở của chúng.
Các hội viên là đối tượng chính để ngài chú tâm. Ngài coi xem
143 Sổ ghi chú này được phát hành trong P. Braido, "Don Michele Rua..", 136-170.
Độc giả tò mò cũng có thể tham khảo nó trong FdR 2955D2-2957A9.
144 Ở đây chúng tôi sử dụng tựa đề của sổ ghi chú của cha Rua: Cose da esaminare,
được xuất bản trong P. Braido, "Don Michele Rua..", p. 136.

11.8 Page 108

▲torna in alto
108 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
những huấn đức thiêng liêng cho các Salêdiêng và các ứng sinh trong
nhà đó có được bảo đảm không. Thực sự, trong một lá thư luân lưu
ngày 15 tháng Tám năm 1869 Don Bosco đã tán thành: "Có hai bài
huấn đức mỗi tháng, một trong chúng được dựa trên việc đọc và giải
thích đơn sơ những quy luật của Tu hội. Còn buổi huấn đức kia sẽ
liên can đến luận chứng luân lý nào đó, nhưng theo một cách thức
thực tiễn và được thích ứng với những người nghe." Trong cùng lá
thư luân lưu đó, ngài viết: "chính hội viên mỗi tháng một lần sẽ bày
tỏ chính mình cho giám đốc nhà mà họ thuộc về; họ sẽ nói về điều
mà họ cho rằng linh hồn mình được lợi ích; nếu họ có bất kỳ nghi
ngờ nào về việc tuân giữ quy luật, họ sẽ nói về điều này khi xin lời
khuyên mà có thể thích hợp cho lợi ích thiêng liêng và vật chất của
mình". Rồi, vị thanh tra đó phải kiểm tra xem cuộc đàm thoại thân
tình hàng tháng có đều đặn không. Đoạn ngài lượng giá đời sống tu
trì của các hội viên liên quan đến đức nết na, nghèo khó và vâng
phục. Nhất thiết phải xem xét sự nghiêm nhặt liên quan đến đức
thanh khiết. "Điều quan trọng nhất trong nhà chúng ta là cổ xúy, đạt
được và bảo đảm luân lý, của cả hội viên lẫn thiếu niên. Một khi ta
bảo đảm điều này, thì mọi sự khác sẽ chắc chắn; nhưng nếu thiếu
điều này, thì thiếu hết mọi sự". Trong một quyết định của Hội đồng
các giám đốc năm 1875-1876 chúng ta đọc thấy viết như thế.
Ngài cũng cần phải kiểm tra xem các vai trò Phó Bề trên và Giám
linh có được thực hành đúng như Quy luật mô tả không. Chúng ta
cần gợi nhắc rằng, theo quy chế Nguyện xá tại Valdocco, Giám linh
lo tới thiện ích thiêng liêng của các thiếu niên trong nhà, chăm sóc
người đau ốm, thiết lập và cổ xúy các hội lành (Thánh Lu-y, Hội Mẹ
Vô nhiễm và Thánh Thể).
Cha Rua biết các hội viên trẻ tạo nên một thành phần nhân sự
quan trọng của nhà ngài thăm viếng. Họ có đủ số không? Họ có đều
đặn học triết và thần học không? Họ có được đào luyện tốt về phụng
vụ, qua những bài học thích hợp không? Ta có thể nói gì về lối sống
của họ khi họ thực thi những chức năng như hộ trực hay thầy giáo?
Họ có mặt khi nguyện ngắm và đọc sách thiêng liêng cộng thể không?
Cuộc thanh tra cũng lo đến học sinh. Tình trạng sức khỏe chúng

11.9 Page 109

▲torna in alto
Cha Rua Vị Kinh Lược Những Nhà Được Liên Kết | 109
thế nào? Bệnh xá được giữ gìn ra sao? Về đời sống đạo của chúng,
có quan tâm dạy chúng cầu nguyện và chúng giúp lễ thế nào? Chúng
được hộ trực ra sao trong nhà nguyện, nhà hội, trong lớp, giờ chơi,
trong nhà ngủ và các chuyến dã ngoại? Ta có thể nói gì về sự sạch
sẽ thể lý và tình trạng sức khỏe thiêng liêng của chúng? Có thường
xuyên mời cha giải tội ở ngoài đến nhà không? Những em lớn tuối
hơn học hành cật lực không? Ban ngày có trẻ đến không? Nhà có
"Nguyện xá ngày lễ" không? Cha Rua cũng quan tâm đến tương lai
của trẻ. Có những học sinh nghĩ đến việc gia nhập hàng giáo sĩ
không? Những tư giáo có sẵn sàng thi để lấy được những chứng chỉ
sư phạm cho họ không?
Như Don Bosco đã đề nghị cho cha Rua khi được sai tới Mirabello
làm giám đốc, cha Rua cũng quan tâm đến những mối liên hệ giữa
trường học và khu vực địa phương, cha xứ, hội đồng huyện xã, v.v.
Rồi cuối cùng mới đến lãnh vực tài chính. Bề trên và học sinh được
đãi thế nào ở bàn ăn? Sự quản trị có đảm nhận việc xây dựng nặng
nề và trách vụ bảo trì không? Chi bao nhiêu tiền cho sách vở và di
chuyển? Năm vừa qua dư thừa hay thiếu nợ?
Cuộc thanh tra được thực hiện dựa trên những sổ sách mà việc
quản trị được mời gọi trình bày. Một danh sách những điều này minh
chứng cha Rua có tinh thần tỉ mẩn và có phương pháp như người
thanh tra: sổ Lễ, sổ hạnh kiểm của các tư giáo và sư huynh; sổ về
những thỉnh sinh cho đời Salêdiêng, sổ cho những học sinh và nội
trú; sổ tiền ký gởi của thanh thiếu niên, sổ dâng cúng, việc quản trị;
danh sách áo quần mà các sư huynh mang vào khi đến; danh sách
của những người cung cấp khác nhau: thợ đóng giày, thợ may, người
giao sữa, người nướng bánh, người bán thịt, người bán tạp hóa,
người bán thuốc, v.v.; và cuối cùng sổ về những thu nhập hiện hành.
Sổ ghi chú cho thấy cha Rua quan tâm ra sao về việc khuyên bảo
phải giữ các sổ sách này như thế nào.
Những cuộc thanh tra của Cha Rua vào năm 1874 và 1875
Những nhà cha Rua kinh lý năm 1874 và 1875 là: Borgo San
Martino, Lanzo, Sampierdarena, Varazze, Alassio and Torino-

11.10 Page 110

▲torna in alto
110 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Valsalice. Đây là nơi chúng ta thấy ngài áp dụng chương trình thăm
viếng chi tiết của mình.
Cha Rua kinh lý tại Borgo San Martino và Lanzo Torinese
Ngày 1 tháng Ba năm 1874, Don Bosco ở Rôma vẫn đang làm
việc để có bản Hiến Luật được phê chuẩn hoàn toàn; đang khi đó
cha Rua kinh lý nhanh gọn nhà Borgo San Martino. Tiểu chủng viện
hay trường Trung học thánh Charles tại Mirabello, mà ngài đã từng
làm giám đốc đầu tiên, đã chuyển tới địa phương này vốn có đường
xe lửa thuận lợi, trong một dinh thự đẹp đẽ trên một mảnh đất 7
mẫu, mà Don Bosco đã được Bá tước Scarampi di Pruney biếu tặng.
Thoạt tiên khoảng 100 em nội trú sống ở đó, rồi con số tăng lên giữa
năm 1874 và 1877, lúc đầu tới 160 em, rồi đến 200 em. Cha Gioan
Bonetti, một trong những Salêdiêng đầu tiên và được Don Bosco rất
kính trọng, đảm trách công việc đó. Sau khi kinh lý, cha Rua tuyên
bố ngài khá mãn nguyện với cách thức nhà trường đang chạy. Ngài
viết trong một sổ ghi chú: "các việc được điều hành tốt đẹp. Dù vậy,
ngài nghĩ là thích hợp khi để lại cho Giám đốc 12 lời khuyên, được
ghi số thích đáng; trích lá thư đó quả là xứng đáng; như thế chúng
ta có thể làm mình quen thuộc với phong thái của người kinh lược.
Đây là những lời khuyên đó. 1) Tránh các vết bẩn của đèn cầy trên
bàn thờ khi đốt đèn cầy; 2) Đặt một cây thánh giá và một bức ảnh
Đức Mẹ trong các lớp học và nhà ngủ ở những nơi không có; 3)
Chỉnh lại những buồng ngủ của hộ trực trong các nhà ngủ giống như
những buồng ngủ ở Nguyện xá; 4) Khử mùi hôi trong hành lang do
từ những nhà vệ sinh gần bên những lớp học thuật hùng biện
(rhetoric); 5) Hãy bảo đảm những huấn đức hàng tháng cho các hội
viên và đệ tử để họ đến đàm thoại thân tình mỗi tháng; 6) Khuyến
khích học thần học hơn nữa; 7) Lo liệu cho khóa học phụng vụ cho
tư giáo và thanh thiếu niên được đều đặn; 8) Thiết lập hội Mẹ Vô
Nhiễm; 9) Hàng tháng cho điểm [hạnh kiểm] cho các tư giáo và sư
huynh; 10) Giữ sổ ghi danh các thỉnh sinh hợp thời cũng như sổ chi
tiêu; 11) Trao cho tư giáo Ghione công việc Giám linh, và nếu có thể
cho thày không phải dạy học, như thế thày có thể chăm sóc hội
Thánh Lu-y, hội Thánh Thể và nhóm lễ sinh; 12) yêu cầu một số hội

12 Pages 111-120

▲torna in alto

12.1 Page 111

▲torna in alto
Cha Rua Vị Kinh Lược Những Nhà Được Liên Kết | 111
viên sẵn sàng cho các kỳ thi dân sự.
Cha Rua trở lại để thanh tra trường Borgo S. Martino tháng Tư
năm 1875; ngài dành hai ngày trọn ở đó. Ngài tuyên bố là mình
mãn nguyện từ quan điểm vật chất và luân lý, với một vài e dè.
Những học sinh ban ngày phải có thể dự Thánh Lễ hằng ngày. Phải
treo những tượng Thánh giá trong tất cả các lớp học và nhà ngủ. Sự
sạch sẽ của một số cầu thang và tủ ly chén còn là điều đáng ao ước.
Vai trò Giám linh phải được thực thi tốt hơn chút nữa, vì vậy người
liên hệ phải xin vị cố vấn là cha Chicco giúp đỡ. Cần khai mào hội
Mẹ Vô nhiễm, ít nhất giữa các tư giáo. Vị Phó Bề trên được mời gọi
để xin một tư giáo trợ giúp cho việc giao dịch thư tín và trông nom
sổ tài khoản. Giám đốc phải quan tâm hơn nữa để bảo đảm đàm
thoại thân tình của các hội viên sao cho đều đặn và liệu sao để cho
điểm hạnh kiểm đối với tư giáo và sư huynh. Vị kinh lược cũng yêu
cầu sinh viên thần học phải học một số bản văn Kinh Thánh và Giáo
phụ thuộc lòng và phải can dự vào việc giải quyết những vấn nạn
cho những đề tài thần học trong những khóa học.
Vào tháng Ba năm 1874, sau khi kinh lược Borgo San Martino,
cha Rua dùng một ngày rưỡi để thăm viếng nhà tại Lanzo. Đây là
một trường tiểu học và trung học nằm trên một quả đồi, cách Torino
35 km. Vì nó cũng dành cho nội trú, nên thu nhận một số người trẻ
như những em nội trú. Năm 1873 một tòa nhà ba tầng được xây
dựng, vì thế trong niên khóa 1874-1875 số nội trú là hơn 170 em.
Cha Gioan Tẩy giả Lemoyne làm giám đốc, một Salêdiêng từ Genoa
đã đến với Don Bosco khi đã là một linh mục.
Vị kinh lược không hoàn toàn mãn nguyện. Sự sạch sẽ của nhà thờ
còn là một điều đáng ao ước và nhà ngủ đầu tiên thì bất trật tự.
Ngoài ra, thiếu những thánh giá và ảnh Đức Mẹ trong các lớp học,
nhà ngủ và những nơi khác nữa. Những buồng ngủ của hộ trực quá
lớn. Như một quy luật chung, tất cả những nhà ngủ phải khóa khi
không có trẻ ở đó, cũng tương tự như thế cho các lớp học và những
phòng khác. Sân trước, cầu thang và hành lang thì bụi bặm và phải
tránh vất rác rưởi quanh sân trước. Vị giám đốc được mời gọi để
quan tâm hơn cho huấn đức hàng tháng và đàm đạo thân tình với

12.2 Page 112

▲torna in alto
112 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
các hội viên thật đều đặn. Linh mục không được miễn cho mình khỏi
[làm việc ở] trường học bằng cách đảm lấy những bổn phận tác vụ ở
nơi khác. Vị Phó Bề trên cần phải để ý hơn đến nhân viên phục vụ
hầu giúp họ thực thi các bổn phận của mình như những Kitô hữu tốt.
Các tư giáo dành quá nhiều giờ với nhau nhưng lại ít giờ giữa các
thanh thiếu niên; ngoài ra, họ không nghiêm chỉnh học thần học.
Mỗi ngày phải viếng Thánh Thể hoặc cá nhân hoặc như một cộng
thể với việc đọc sách thiêng nào đó. Hạnh kiểm của học sinh trong
mẫu [Form] II còn là một điều đáng ao ước. Ngài hy vọng phải cải
thiện việc các thiếu niên ăn mặc sạch sẽ. Vị Phó Bề trên, cha
Costamagna, có trách vụ chăm sóc lối sống của họ, không được vắng
nhà thường xuyên. Cần phải mời gọi các thiếu niên tốt lành hơn gia
nhập hội Mẹ Vô nhiễm. Thiếu một vài sổ sách: sổ điểm hạnh kiểm
cho tư giáo và sư huynh, sổ chi tiêu, sổ những nhà cung cấp. Cuối
cùng vị kinh lược ra lệnh rằng phải kéo giàn dây leo ở giữa vườn
xuống. Như ta có thể thấy các mệnh lệnh thật chi tiết và cung giọng
thật tuyệt đối.
Cha Rua như vị kinh lược lại xuất hiện ở Lanzo một năm sau, ngày
3 tháng Ba năm 1875. Ngài dành hai ngày ở đó và mãn nguyện ghi
nhận rằng xét về kỷ luật và lòng đạo đức, trường đó đã vận hành tốt
hơn năm trước. Dù vậy, vẫn có một loạt những nhận xét để Giám
đốc lưu tâm. Chúng ta có thể tưởng tượng đau khổ biết bao khi đọc
điều này. Trước tiên về nhà thờ và đào luyện tôn giáo: khăn bàn thờ
không sạch; cần phải bảo đảm thánh lễ hằng ngày cho các học sinh
ban ngày; ngài phải tổ chức một khóa học phụng vụ cho các tư giáo
và nghĩ đến việc đào luyện các lễ sinh; cần phải dành tầm quan trọng
hơn vào dạy giáo lý tại trường cấp hai; thiết yếu phải lập lớp nhạc
bình ca và cho số học sinh can dự vào đông hơn nữa, bỏ ra một tiếng
rưỡi hay ba khắc đồng hồ sau bữa tối cho điều này; cần chăm sóc
các hội Thánh Lu-y và Mẹ Vô nhiễm hơn nữa, với những huấn đức
ngắn gọn. Rồi vị Phó bề trên được mời để chăm sóc các nhân viên
tốt hơn nữa, quy tụ họ lại thường xuyên, giải thích luật nhà cho họ,
v.v. Ngài cần bảo đảm những bài học về triết và thần học cho các tư
giáo, ba lần hay ít nhất hai lần một tuần. Phải cho tư giáo và sư
huynh điểm hạnh kiểm mỗi tháng một lần. Các thày giáo được mời

12.3 Page 113

▲torna in alto
Cha Rua Vị Kinh Lược Những Nhà Được Liên Kết | 113
để đọc sách thiêng dưới sự hướng dẫn của cha Scappini, đang khi
nguyện ngắm ban sáng cho các hộ trực là trách nhiệm của cha
Scaravelli. Những ai không thể tham dự những thực hành đạo đức
cộng thể thì phải làm riêng. Kích thước của các buồng ngủ [cho hộ
trực] phải giảm lại cho hợp với những cỡ theo quy luật. Việc đọc sách
tại bàn ăn không phải là nhiệm ý vì thế không thể bỏ qua quá dễ
dàng.
Cha Rua kết thúc bài tường trình của mình về Lanzo bằng cách đề
xướng một số đổi mới kỷ luật vốn phải được tuân giữ, như một dấu
chỉ rằng tổ chức tốt hơn và hộ trực học sinh thì thích đáng.
Cha Rua kinh lý tại Sampierdarena, Varazze, Alassio và Valsalice
Từ Piedmont vị kinh lược chuyển tới Liguria Riviera để thanh tra
ba công cuộc khác. Ngày 7 tháng Tư năm 1875, ngài bắt đầu ba
ngày kinh lý nhà tại Sampierdarena. Như đối với Borgo San Martino,
ký túc xá tại Sampierdarena cũng là kết quả của một sự chuyển đổi.
Năm 1872 Don Bosco đã rời bỏ một ngôi nhà vốn quá nhỏ tại
Marassi, ở đó khoảng 40 thiếu niên lao động cư trú, và chuyển công
cuộc tới Sampierdarena, thuộc khu ngoại ô của Genoa, trong một tu
viện cũ cạnh bên một nhà thờ bị bỏ hoang. Tháng Tám năm 1875
ngài sai 50 thanh niên tới đó, những ơn gọi muộn 'Con Đức Maria'
mới được thành lập. Năm 1877 tòa nhà được nới rộng cho phép họ
tiếp nhận khoảng 200 học sinh, giữa họ là 70 ơn gọi muộn. Tương
tự với khuôn mẫu ở Torino, nhà này được trao cho cha Albera, một
môn đệ yêu dấu của Don Bosco.
Cha Rua rất trân trọng công cuộc này. Ngài thấy công cuộc chạy
trôi chảy và không phàn nàn về con số nhân sự không thích đáng,
linh mục, tư giáo và sư huynh. Việc thực hành bí tích thì tuyệt; các
thanh thiếu niên có thái độ tốt trong nhà thờ. Ngài chỉ ghi chú vài
điều: nhà ngủ cần phải sạch sẽ hơn; một vài ảnh tượng còn thiếu ở
một vài nơi chung, lớp học và nhà ngủ; những buổi huấn đức hàng
tháng và những cuộc đàm thoại thân tình của các hội viên phải được
thường xuyên hơn: phải có một khóa học hàng tuần về những lễ
nghi thánh cho các tư giáo; một vài học sinh không có áo quần đặc

12.4 Page 114

▲torna in alto
114 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
biệt cho các ngày lễ và suốt tuần áo quần sạch sẽ còn vài điều đáng
ao ước; cần lập hội Thánh Lu-y; và cuối cùng thiếu một vài sổ sách
trong văn phòng của Phó Bề trên. Đó là tất cả [nhận xét].
Ngày 22 tháng Bảy năm 1875, cha Rua ở Varazze. Trường học
Varazze, được thành lập như một trường cấp hai năm 1871, chỉ có
chỗ cho 120, 130 em nội trú thôi. Cũng có một số học sinh ban ngày.
Các hội viên cũng mở hai Nguyện xá ngày lễ trong thành phố, lệ
thuộc vào trường này, một điều mà cha Rua rất hạnh phúc. Giám
đốc của trường ấy là cha Gioan Tẩy giả Francesia, một trong những
môn đệ đầu tiên của Don Bosco.
Cuộc thanh tra kết thúc với một vài nhận xét tích cực và tiêu cực.
Buồng ngủ của hộ trực trong các nhà ngủ quá lớn: không nên có bàn
hay kệ sách, chỉ là một chỗ cho áo quần, một chiếc ghế và cái rương,
nếu không thể không có; tốt hơn hết là đặt các buồng ngủ giữa các
giường ngủ của học sinh. Rồi cần lo liệu sao cho các hộ trực học
chung, chẳng hạn trong thư viện, vì thế các nhà ngủ có thể khóa suốt
ngày, theo luật nhà. Các lớp thần học, cả phụng vụ, cũng không
được đều đặn. Phải bắt đầu Hội Vô nhiễm. Các sư huynh vốn phải
theo học những môn đặc biệt với sự đồng ý của Don Bosco phải có
nhiều giờ hơn, và bảo đảm những lớp đều đặn hơn. Những ghi chú
khác liên quan đến đồ ăn: nói chung thực đơn cộng thể nên theo
cùng đường nét của Nguyện xá ở Torino; phải tránh đưa quá nhiều
cà phê ra và luôn sẵn cho nhân viên. Cha Rua có một thỏa thuận với
Phó Bề trên của nhà đó, cha Fagnano, rằng tất cả nhân viên có việc
giặt giũ được đánh dấu với tên của chính mình, chỉ dành cho họ
dùng mà thôi. Sổ chi thu được giữ kỹ càng, và giúp ta biết có bao
nhiêu tiền.
Ngày 26 tháng Bảy năm 1875, cha Rua bắt đầu thanh tra trường
cao đẳng tại Alassio. Công cuộc ấy được thiết lập năm 1870, theo sự
thỏa thuận với hội đồng thành phố và được định vị ở một tu viện
Phanxicô cũ. Đó là một trường quan trọng, có những lớp đệ nhất cấp
(cấp 1) tuyệt vời và một phần đầy đủ của cấp 2. Năm 1875-1876 có
160 em nội trú, và năm 1877 có hơn 200 em. Giữa những em nội
trú và học sinh ban ngày trong năm 1876-1877, Alassio có 415 học

12.5 Page 115

▲torna in alto
Cha Rua Vị Kinh Lược Những Nhà Được Liên Kết | 115
sinh. Nó được trao cho cha Phanxicô Cerruti khôn ngoan hướng dẫn;
ngài là một Salêdiêng thuộc thế hệ đầu tiên, và là một trong những
người học thức nhất.
Cuộc kinh lý của cha Rua ở Alassio thì ngắn và giản lược. Ngài có
những nhận xét đơn giản: Cần bảo đảm sao cho các học sinh ban
ngày có thể tham dự các việc đạo đức vào ngày Chúa nhật; một số
nơi thiếu những ảnh thánh; một số buồng của hộ trực quá lớn và nên
được chuyển vào giữa các giường ngủ của thiếu niên; một số lớp học
khá dơ; nếu nguyện ngắm cộng thể và sách thiêng được sắp đặt, sẽ
dễ dàng thấy ai không thực hành chúng; cuối cùng cần nhấn mạnh
đến học thần học hơn nữa.
Ngày 11 tháng Ba năm 1875, cha Rua bắt đầu kinh lý nhà
Valsalice, trên quả đồi nhìn xuống Torino. Năm 1871, theo yêu cầu
của Tổng Giám mục Gastaldi, Don Bosco đã chấp nhận điều hành cơ
sở này cho những người quý tộc vốn đang gặp những khó khăn tài
chính nghiêm trọng, nhưng với sự chống đối nghiêm trọng từ Tu
Nghị Bề trên. Nhân viên phục vụ bị kiệt lực theo những bài tường
trình. Năm 1872-1873 chỉ có 22 nội trú. Vào lúc cha Rua kinh lý con
số tăng lên 35. Cha Phanxicô Dalmazzo phụ trách, được một nhóm
cộng sự viên giúp đỡ: Phó Bề trên, giám linh và ba vị cố vấn, cộng
thêm 4 hội viên sư huynh và tư giáo.
Cuộc kinh lý của cha Rua rất ngắn: nửa ngày. Mọi sự đều ngăn
nắp đáng khen: nhà thờ, các khu vực, lớp học, hành lang, cầu thang
và sân chơi đều sạch sẽ. Ngài chỉ phàn nàn là thiếu một nhà cung
cấp tốt và một vài sổ bộ (hạnh kiểm của tư giáo và sư huynh, các
nhân viên, tổng kết những chi tiêu). Ngài thích thấy một hội lành
được thiết lập, chẳng hạn, hội Thánh Lu-y hay hội Thánh Thể. Ngài
mong các học sinh cam kết học tập hơn. Dạy những lễ nghi thánh
cho các tư giáo còn là một điều phải ước ao. Cuối cùng ngài khích lệ
tất cả những nhân viên Salêdiêng tại Valsalice trở thành Salêdiêng.
Diện mạo của “người kinh lược (Giám tỉnh)” trong Tu hội Thánh
Phanxicô Salê
Những ghi chú để lại cho thấy cha Rua là một nhà kinh lược tỉ mỉ,

12.6 Page 116

▲torna in alto
116 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ít quan tâm hơn đến những nhạy cảm của các Giám đốc vốn là người
đầu tiên phải quan tâm đến những nhận xét của mình. Khi rời các
nhà, ngài cho họ một lá thư viết tay với cùng loại mực và cùng những
nhận xét vốn được tìm thấy trong cuốn sổ cá nhân của ngài. Những
nhà mà ngài viết ra những nhận xét có lẽ không quá ưa thích vì
những nội dung của chúng, đã không giữ chúng như những di tích
thánh. Thực sự chúng biến mất. Chỉ có một bản được đến với chúng
ta. Văn phong của nó thật ngắn gọn. Được đề ngày 10 tháng Ba năm
1875, nó được viết cho giám đốc nhà Lanzo, cha Lemoyne. Ngài viết
xuống 14 điểm ghi chú trên cuốn sổ của ngài. Lá thư mở đầu với
"Cha Giám đốc thân mến" và kết thúc với dòng chữ "Thân ái, cha
Rua, Phó Tổng Bề trên của Tu hội Thánh Phanxicô Salê".145 Hiển
nhiên, ngài đang thực thi dưới diện Phó Bề trên về kỷ luật. Nếu cần,
ngài có thể là một nhân vật đáng sợ. Bất kể sự hiền dịu của mình,
ngài thật nghiêm nhặt, khắc khổ, với một trí nhớ minh bạch, cái nhìn
xuyên thấu và quan tâm đến từng chi tiết.
Vì thế ngài không được đại chúng mến mộ; nhưng điều này chẳng
khiến ngài lo âu. Ngài làm việc để cống hiến một hình dáng nào đó
cho các nhà của Tu hội Thánh Phanxicô Salê, như ngài đã làm với các
tập sinh trong những năm trước. Có lẽ không ý thức điều này, song
Ngài góp phần vào lối đi này, hầu đóng ấn cho những cơ sở đó một
căn tính biệt loại và cốt yếu Salêdiêng; theo ngài, Don Bosco đã
muốn đặt căn tính này vào từng cơ sở ấy. Và ngài đã tạo nên một
vai trò mới về thể chế trong Tu hội đang triển nở: vị kinh lược (GT).
Cha Rua thăm viếng các nhà miền Piedmont và Liguria cho đến
Tổng Tu Nghị năm 1877. Mãi đến lúc đó tất cả những trung tâm
khác nhau tùy thuộc vào Tu Nghị Bề trên ở Torino. Nhưng với sự
bành trướng địa lý của các công cuộc, việc quản trị chúng trở nên
phức tạp hơn. Năm 1875, Tu hội đã bắt đầu trải rộng quá biên giới
Ý tới Pháp và Nam Mỹ. Năm 1877 Tổng Tu Nghị thấy phải nhất thiết
kiến tạo một vài điểm pháp lý và ủy trách vụ kiểm soát cho địa
phương, chính vì sự duy nhất toàn diện và tuân giữ Hiến Luật. Theo
một lược đồ được Don Bosco chuẩn bị nhằm cho Tu Nghị này, người
145 Lá thư được E. Ceria xuất bản trong MB XI, 530-531.

12.7 Page 117

▲torna in alto
Cha Rua Vị Kinh Lược Những Nhà Được Liên Kết | 117
ta biết đến "các Giám tỉnh" Salêdiêng, một vai trò hoàn toàn mới, là
những ispettori (nghĩa đen, những vị kinh lược) và các tỉnh dòng dưới
quyền tài thẩm của họ như là những ispettorie. Theo tinh thần của
Đấng Sáng lập, các bề trên này được trao trách vụ là trông nom -
như vị hiền phụ - các hội viên và các nhà. Họ có nhiệm vụ gìn giữ Tu
hội hiệp nhất. Giám tỉnh phải là con mắt của Bề Trên Cả trên mọi sự,
bảo đảm các luật lệ được tuân giữ; chúng là những luật lệ của toàn
Tu hội.
Ở đây chúng ta tìm thấy một ý tưởng mà cha Rua đã kiến tạo
trong vai trò của mình là vị kinh lý của những nhà được liên kết giữa
năm 1874 và 1876. Nhưng Don Bosco muốn làm nhẹ đi tính nghiêm
khắc ấy, như ngài giải thích trong Tổng Tu Nghị, giám tỉnh phải là
"một người cha; công việc của ngài là giúp con cái mình chu toàn
các việc cách tốt đẹp và vì thế nhủ khuyên họ, giúp và dạy họ làm
thế nào để tránh bối rối trong những tình huống khó khăn". Như
vậy, Giám tỉnh Salêdiêng - Tổng Tu Nghị năm 1877 đã phác thảo
một luật cho ngài trong đó chúng ta có thể thấy được sự dính dáng
chi tiết của cha Rua, vị Phó Tổng Bề trên - phải cố gắng hòa giải nơi
chính mình hai loại người bổ sung nhau, Don Bosco và cha Rua. Để
rõ điều này, trích dẫn hai khoản từ Quy chế có tựa đề là cuộc kinh lý
của Giám tỉnh là đủ: "... - 2) Ngài sẽ kinh lý nhà thờ hay nhà nguyện
theo nghĩa giáo luật, nghĩa là các cửa đều đóng lại. Ngài sẽ quan sát
Bí tích cực trọng, nhà tạm, dầu thánh, những hòm đựng thánh tích,
bàn thờ, tòa giải tội, phòng áo, các bình thánh, chén thánh, bình
đựng Mình Thánh, mặt nhật, sổ lễ, áo lễ được giữ gìn ra sao. - 3)
Ngài sẽ kinh lý phòng ngủ, nhà ngủ, bệnh xá, nhà bếp, các buồng
ngủ của hộ trực, trạm xá y tế; ngài sẽ cẩn thận xem xét có lãng phí
sách vở, giấy bút, vải vóc, áo quần, đồ ăn; nếu cần ngài sẽ ghi chú
điều gì xem ra trái với tôn giáo, luân lý và nghèo khó". Những khoản
này rút một vài điểm từ cuốn sổ ghi chú của cha Rua liên quan tới
những cuộc kinh lý ngài thực hiện trong những năm trước kia tại
Lanzo, Borgo San Martino, Varazze, Sampierdarena và Valsalice.

12.8 Page 118

▲torna in alto
118 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
10
CÁNH TAY PHẢI
của Don Bosco
Don Rua và Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo hữu
Trong những nhà của các nữ tu, cha Rua là con mắt của Don Bosco
về mọi sự. Tháng Sáu năm 1875 Don Bosco đã sai ngài kinh lý Tu
hội Con Đức Mẹ Phù Hộ mới nở ở Mornese. Cuốn nhật ký của chính
ngài không nhắc gì đến cuộc kinh lý này, nhưng ký sự Mornese ghi
lại rằng 'ngài ở đó vài ngày' và cho họ 'một vài khích lệ [fervorini]
ngắn gọn, chân thành'.146 Vì Gioan Cagliero, vị giám đốc Salêdiêng
đầu tiên của Tu hội ấy, đã rời đi Mỹ châu cùng năm đó như vị lãnh
đạo chuyến hành trình truyền giáo đầu tiên, nên cha Rua được cử
gánh vác vai trò đó đối với gia đình thứ hai của Don Bosco. Tháng
Tám năm 1876, ngài ở Mornese đại diện Don Bosco khi các tập sinh
mặc áo dòng. Vào dịp đó, ngài ngồi giải tội, giải thích những ý tưởng
của Đấng Sáng lập về phong thái sống của các Nữ tu, bàn đến khả
thể mở một nhà mới, và coi xem có thể thuyên chuyển các Nữ tu
được không. Ngài cũng xem xét tình trạng luân lý và tài chánh của
tu viện, cống hiến những giải thích, khích lệ và khuyên nhủ. Cộng
thể ấy, trước kia chưa hề được duyệt xét sâu rộng như thế, đã trân
trọng sâu xa tặng phẩm mà Don Bosco đã cho họ nơi con người cha
Rua.
Khi giao tiếp với các Nữ tu, cha Rua vẫn là con người của Tu Luật;
ngài không ưng thuận cả đến sự sai trệch nhỏ nhất. Trong năm 1877,
chị Bề Trên của nhà ở Torino được biếu rất nhiều trái cây. Nữ tu đó
mau mắn bắt đầu chia ra sau bữa càphê sáng, còn hơn là để cho trái
cây hư thối. Tuy nhiên, vì Tu Luật quy định bữa sáng hoặc dùng
càphê hoặc trái cây, nên chị cảm thấy cắn rứt lương tâm và tham
146 Theo sử biên niên Mornese được lặp lại trong Amadei 1, p. 260

12.9 Page 119

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 119
khảo cha Rua. Thật với chính mình, cha Rua trả lời rằng theo nguyên
tắc để cho trái cây hư thối thì tốt hơn là phá Tu Luật. Trong trường
hợp này, ngài khuyên nữ tu đó hoặc cho trái cây cho người nghèo
hoặc phân phát cho các em nữ.147
Những lá thư hàng tháng cho các giám đốc
Là Phó Tổng Bề trên cha Rua chịu trách nhiệm giám sát các giám
đốc địa phương vốn đang trở nên đông hơn vào cuối thập niên 60.
Ngài chủ tọa hầu hết những buổi huấn đức cho các giám đốc được
tổ chức vào tháng Hai năm 1876; nơi đây ngài ôn lại những vấn đề
về Quy Luật đã được nêu lên trong những cuộc kinh lý địa phương
trước: đều đặn tiếp nhận các hội viên đến thổ lộ; luôn huấn đức hai
tuần một lần; quan tâm kỹ đến phụng vụ; cắt bớt những ngày nghỉ
cho các hội viên. Ngài cũng lợi dụng dịp đó để nhắc nhớ các giám
đốc rằng họ không có quyền đuổi các phần tử tuyên khấn hay tập
sinh.
Các giám đốc hành động lệ thuộc trực tiếp vào trung tâm của Tu
hội. Cha Rua làm rõ điều này trong thư luân lưu hàng tháng được
viết tay gởi đến cho mỗi người. Tiêu đề mang tính cá nhân đang khi
phần chính của lá thư, được một thư ký viết, mang lấy hình thức của
một loạt những điểm được ghi số (thí dụ: số Thánh Lễ được cử hành
tháng trước cho những ý của Nguyện xá Torino, hay những lợi nhuận
tài chánh cuối năm);
Những tin giờ chót, (chẳng hạn: khi nào danh mục kế tiếp của Tu
hội sẽ được gởi ra; ngày thi cho các sinh viên thần học sống trong
nhà, hay có lẽ tình trạng sức khỏe của Don Bosco); những lời khích
lệ, chẳng hạn như: "Hiện nay chúng ta đang kinh nghiệm những vấn
đề tài chính ngoại lệ, vì thế Don Bosco thân yêu của chúng ta chỉ thị
cho cha phải khuyên nhủ tiết kiệm trong mọi lãnh vực và tránh bất
kỳ chi tiêu nào không cần thiết"). Có những yêu cầu tùy dịp (chẳng
hạn: gởi tới Torino sớm bao có thể danh sách các nhân viên, hay
những kết quả thi của các tư giáo, hay những chứng nhận là thành
viên của các Cộng Tác viên Salêdiêng mới), và những lời xin đạo đức:
147 Từ Ceria, Vita, p. 87

12.10 Page 120

▲torna in alto
120 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chẳng hạn bảo đảm những buổi tĩnh tâm tốt đẹp cho các học sinh
hay chắc chắn rằng chúng trải qua tháng Năm tốt đẹp.148 Đôi khi
cha Rua thêm vào bản văn của thư ký một tư tưởng thiêng liêng để
nâng tâm hồn và rồi ngài ký tên. Thậm chí thỉnh thoảng khi cần, ngài
thêm một ghi chú, dài hay ngắn. Một cách tự nhiên, từ năm 1876
trở đi, sứ mệnh tại Mỹ châu đòi hỏi những thư luân lưu chỉ dành cho
họ: ban đầu được ngỏ cho cha Bodrato, rồi cho cha Costamagna,
người hành sử như những Giám tỉnh. Những thư luân lưu này cuối
cùng có thể gồm cả những mục dài dòng được đánh số từ chính tay
cha Rua, như chúng ta có thể thấy từ một trong những lá thư được
gởi cho cha Costamagna, gồm 12 điểm riêng biệt.149
Từ năm 1881 trở đi, những thư luân lưu cho các Giám đốc các nhà
khác nhau được đi kèm hay được thay bằng một bảng câu hỏi mà
cha Rua ký nhận về việc điều hành các trường học. Điều này mang
tựa đề: "Tường trình về nhà ... tháng .... năm 188..." và bao gồm 9
câu hỏi sau: "1) cha có bao nhiêu nội trú? 2) Có bao nhiêu học sinh
ban ngày? 3) Hạnh kiểm tổng quát của chúng? 4) Sức khỏe của
những em nội trú? 5) Bao nhiêu thánh lễ được cử hành suốt tháng
qua cho những ý chỉ của những người ký dưới đây? 6) Bao nhiêu
thánh lễ được yêu cầu cho những ý chỉ của những người ký dưới
đây? 7) Có thực hiện tất cả những bàn hỏi không? 8) Dọn mình Chết
lành [Bona Mors] hàng tháng có được tiến hành theo các quy luật
không? 9) Có thực hiện hai huấn đức được quy định không?" Một
khoảng giấy trắng được dành ra để các giám đốc trả lời mỗi câu
hỏi.150
Trong năm 1881 một bảng biểu in gồm 7 cột để "thông tin về
nhân sự" của các nhà xuất hiện giữa những giấy tờ của cha Rua dùng
cho các giám đốc. Đối với từng tên, giám đốc được mời gọi để diễn
đạt ý kiến của mình về những bổn phận và công việc của người liên
148 Chẳng hạn, xem những lá thư hàng tháng gởi cho Fr Lazzaro được sao chép lại
trong FdR 3909 C12 at 3911 D5.
149 Xem những lá thư luân lưu gởi cho Tỉnh dòng Châu Mỹ trong FdR 3975 C12 at
3977 C1
150 Xem một thí dụ của định dạng này trong FdR 3910 B1.

13 Pages 121-130

▲torna in alto

13.1 Page 121

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 121
quan, về sức khỏe, về "sự chăm chỉ" của họ, về những trách nhiệm
cá nhân, lòng đạo đức và học hành của họ. Giám đốc có thể thêm
bất cứ "nhận xét và giải thích nào" vào những điều này mà ngài thấy
là thích hợp.151 Hệ thống có tính cách bàn giấy này nêu lên những
câu hỏi. Tuy nhiên, đây là cách thức Don Bosco, rốt cục chịu trách
nhiệm về tất cả những trung tâm ngài đã thành lập, làm cho sự hiện
diện của ngài được cảm nhận từ Torino qua sự chăm chỉ của người
là cánh tay phải và Phó Tổng Bề trên của mình, cha Rua, đang hoạt
động cách nào đó như một Bộ Trưởng Nội vụ. Những yêu cầu các
nhà phải tường trình mang lại những câu trả lời mà đôi khi khiến
cho vị Phó Tổng Bề trên của chúng ta rất quan tâm, đặc biệt khi
chúng đến từ truyền giáo Mỹ châu, như khi cha Bodrato phàn nàn
những gương mù lập lại ở Achentina. Ngày 4 tháng Chín năm 1879,
ngài tuyên bố: "Chiara đã phản bội chúng ta"; ngài nêu lên bốn nố
gương mù về tình dục, hai trong chúng tại St. Nicolas de los Arroyos
và hai tại Villa Colon. Ngày 18 tháng Ba năm 1880, ngài lại tường
trình rằng một sư huynh đã buộc phải lập gia đình "cách hết sức vội
vàng", đã lừa dối mọi người. Ngài khẩn nài: "Con xin cha chỉ gởi
những người có đời sống luân lý lành mạnh". Đó là những cú tát
nặng nề đối với cha Rua.
Hai cơ sở bị thất bại
Việc sai cử các vị truyền giáo đến Mỹ châu năm 1875 đã khuấy
động ở Ý, mạnh đến nỗi những yêu cầu mở những cơ sở mới đến
Valdocco tới tấp. Những yêu cầu này nằm trên bàn của cha Rua; ngài
phải nghiên cứu chúng, và dưới sự hướng dẫn của Don Bosco, ngài
can dự vào bất kỳ xử lý nào mà đôi khi có nghĩa là những khảo sát
ngay lập tức. Năm 1877 có một đề nghị các Salêdiêng đảm trách
một trường tại Mendrisio ở Swiss Canton [Canton Thụy Sĩ] thuộc
Tessin. Qua trao đổi lâu dài bằng thư từ, cha Rua đi tới Mendrisio
ngày 30 tháng Tư để tham quan tòa nhà và thu thập thông tin chính
xác. Ngày 3 tháng Năm ngài tường trình lại cho Tu Nghị Bề trên có
Don Bosco hiện diện.152 Đối với Don Bosco, điều này dường như
151 Danh mục này ở trong FdR 3910 B11.
152 Biên bản của Hội đồng ngày 3 tháng Năm năm 1877.

13.2 Page 122

▲torna in alto
122 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
mang đến cơ hội để có được một bàn đạp ở Thụy sĩ; vì lẽ đó, ngài
muốn có những nhượng bộ. Trái lại, những thành viên của Hội đồng
tỏ ra rất dè dặt. Trong biến cố đó, vào cuối tháng Tám, chính quyền
địa phương ở Canton chỉ định một giáo dân họ chọn với đầy đủ thẩm
quyền như hiệu trưởng của trường đó tại Mendrisio. Lúc đó những
hy vọng để Salêdiêng hiện diện tại Thụy sĩ đã bị hủy.
Cha Rua lại can dự rất chặt chẽ vào một sự tiếp quản thất bại khác,
lần này ở Paris. Năm 1866, Abbé Louis Roussel đã thiết lập một nơi
cho trẻ hè phố, được miêu tả là "Những em học nghề-mồ côi", với
nơi ăn chốn ở đã xiêu vẹo. Khu vực là Auteuil, mới được nhập vào
khu (Phường) mười sáu của Paris.153 Vì linh mục đó quan tâm đến
nhiều vấn đề mà giới lao động đối diện: nơi ăn chốn ở, học nghề,
và nếp nghĩ của chính những người lao động. Người ta nói rằng ngài
nhắm đến mở tâm hồn và trí tuệ của trẻ em và đồng thời chuẩn bị
cho chúng một nghề nghiệp tương lai. Vì nơi ăn chốn ở của gia đình
hoặc là không có hoặc chí ít là không thích đáng, nên ít nhất ngài
muốn cung cấp một mái nhà cho những em học nghề của mình, theo
một cách thức rất giống Don Bosco đang làm ở Torino và Genoa. Tuy
nhiên, một sự khác biệt nổi bật là đang khi Don Bosco huấn luyện
những người giúp mình tại chỗ, vị linh mục Pháp đó mang đến hoàn
toàn những người ngoài. Trong một cuộc thăm viếng Rôma, Abbé
Rousse được Đức Piô IX khuyên nên nói chuyện với Don Bosco; vì thế
vào tháng Chín năm 1887, ngài thăm Nguyện xá Torino. Điều ngài
đã thấy gây cho ngài ấn tượng mạnh đến nỗi ngài lập tức nảy sinh ý
tưởng về một dự phóng chung giữa Torino và Auteuil. Những người
Salêdiêng tỏ ra rất quan tâm, thấy trước một sự hòa nhập sau cùng
với Tu hội, với linh mục Pháp đó chỉ đơn giản giữ lại sự quản trị tập
san "La France Illustrée", đã do ngài điều hành. Don Bosco dường như
sẵn sàng để tiến tới với dự phóng đó. Với một bệ chân đã ở Pháp,
tại Nice và Marseilles bên bờ biển Địa Trung Hải, ngài có những tầm
nhìn trên Thủ đô nước Pháp, và các bạn hữu thúc đẩy ngài cũng thiết
lập ở đó.
153 Bản tường trình về sự thất bại trong khi thành lập ở Paris trong Don Bosco en
son temps, p. 1120-1123.

13.3 Page 123

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 123
Đang khi ở Torino, Abbé Roussel đã gặp Bá tước Cays, một linh
mục mới chịu chức nói tiếng Pháp giỏi; Abbé Roussel đề nghị rằng
Bá tước nên đảm nhận tất cả những thương thảo cần thiết. Don Bosco
đồng ý, và nhanh chóng bảo Bá tước Cays lên đường đi Paris. Nhưng
Bá tước không đi một mình: cha Rua trung thành sẽ đi với ngài, đảm
trách việc soạn thảo một khế ước với Abbé Roussel, và thông tri
những tư tưởng của Tổng Giám mục Paris, Hồng y Joseph-Hippolite
Guibert. Hai người khởi hành ngày 6 tháng Mười Một năm 1878, và
chẳng bao lâu những thương thảo dường như khởi sự cách đúng đắn.
Don Bosco, hành động qua cha Rua, rất cẩn thận để tránh bất kỳ ấn
tượng về một sự tiếp quản: vị trí của Abbé Roussel như người đứng
đầu sự nghiệp Auteuil sẽ là suốt đời; những người Salêdiêng sẽ giúp
ngài, chỉ cung cấp một người kế tục khi thời gian đó đến. Ngày 12
tháng Mười Một, tiếp theo một cuộc triều yết với Tổng Giám mục,
người tỏ ra rất tán thành sự hiện diện của Salêdiêng ở Thủ đô, cha
Rua viết cho Don Bosco và phác thảo một khế ước được đề nghị với
bốn điều: 1) thiết lập một hội dân sự, mà bao gồm Abbé Roussel, về
chủ quyền của sự nghiệp Auteuil và những thành phần lệ thuộc của
nó; 2) những người đồng sở hữu sẽ cam kết trao công việc bác ái này
cho những người Salêdiêng, vốn sẽ quản trị nó theo Hiến Luật của
họ; 3) khi nhu cầu nảy sinh, Tu Nghị Bề trên Salêdiêng sẽ cung cấp
sự giúp đỡ tài chánh cho dự phóng Auteuil; 4) Abbé Roussel vẫn
đứng đầu sự thành lập này. Lời ghi chú duy nhất của Don Bosco là
đối với người Salêdiêng phải có những bảo đảm để sở hữu vững
bền.154 Ngày 16 tháng 11, ngài viết cho Bá tước Cays theo cùng
đường nét này: "Tất cả [những thành viên của Tu Nghị Bề trên] đồng
ý rằng chúng ta phải dành cho Abbé Roussel sự kính trọng và quyền
bính thích đáng, miễn là sự hiện diện của chúng ta ở Paris được bảo
đảm vững bền."155 Cùng ngày đó ngài diễn đạt hai ước muốn của
mình cho cha Rua: thiết lập ở Paris và đừng lao vào nguy cơ bị đuổi
154 M. Rua – G. Bosco, Paris 12 tháng Mười Một, 1878, FdR 3862 A7-9
155 G. Bosco – C. Cays, Torino, 16 tháng Mười Một, 1878, Epistolario, Ceria III, p.
414-415

13.4 Page 124

▲torna in alto
124 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đi.156 Hai vị sứ giả trở về Torino chiều tối ngày 30 tháng 11.
Bản thỏa ước được soạn thảo ở Torino không chút chậm trễ. Cốt
yếu, nó nói rằng Abbé Roussel nài xin Don Bosco và Tu hội ngài đến
giúp đỡ công cuộc của mình ở Auteuil; Abbé Roussel vẫn còn là giám
đốc của công cuộc đó suốt đời; người Salêdiêng sẽ giúp ngài và cung
cấp những người thay thế chỉ như và khi điều này trở thành cần thiết
mà thôi; Don Bosco có tước vị đồng-giám đốc (co-director) với quyền
kế tục.157 Khế ước này được gởi từ Torino tới Paris ngày 16 tháng
Mười Hai 1878 và được Abbé Roussel ký khoảng 20 tháng Giêng
1879 ở Marseilles; tại đó ngài đã gặp Don Bosco. Tiếp theo, sau khi
Don Bosco trở về Torino, các biến cố bị đảo ngược nhanh chóng: vào
cuối tháng Giêng, các Salêdiêng quyết định rút lui. Don Bosco sợ
rằng sáng kiến Paris sẽ đổ vỡ và ngài sẽ mất mặt. Cớ làm cho việc
nuốt lời được Hồng y Guibert mang đến; ngài dành cho mình quyền
yêu cầu những người Salêdiêng rời đi nếu họ không đáp ứng quang
cảnh Paris. Họ không được chuẩn bị để mạo hiểm như thế. Ngày 6
tháng Hai, lúc khai mạc buổi Huấn đức hàng năm cho các giám đốc,
Don Bosco giải thích mọi sự cho con cái mình.158 Sự rút lui đó được
gởi cho Abbé Roussel ngày 10 tháng Hai, và ba ngày sau Bá tước
Cays gởi cho ngài một lá thư nữa giải thích vấn đề đầy đủ hơn; nhưng
xem ra sự hủy bỏ này khiến vị linh mục người Pháp này phiền
lòng.159 Thực sự, đúng là do Chúa quan phòng đối với dự phóng
Auteuil. Thậm chí nó chặn trước kết cục này, vì việc nước Pháp áp
dụng những luật lệ chống lại các Dòng Tu giữa năm 1901 và 1903
sẽ minh chứng là chí tử đối với nó.
Cha Rua trong cuộc xung đột với Tổng Giám mục Gastaldi
Don Bosco đau khổ nhiều giữa 1871 và 1883 vì Tổng Giám mục
156 G. Bosco – M. Rua, Torino, 16 tháng Mười Một, 1878, Epistolario Ceria III, p. 415-416
157 Piece biên soạn trong Documenti XX, p. 79. E. Ceria ưa thích sao chép lại trong MB XIII,
p. 999, doc.59, một phiên bản chuẩn bị từ Bá tước Cays vốn khác biệt chút ít với bản văn
được ký nhận.
158 Bản tường trình về phiên họp trong Documenti XX p. 77-78.
159 C. Cays – L. Roussel, Torino, 13 tháng Ba năm 187, ed. MBXIII, p. 1001-1002 doc. 61.

13.5 Page 125

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 125
Lawrence Gastaldi.160 Ngài giả như không biết những lý lẽ trước sự
thù hằn đột ngột này từ một người đã từng là một trong những người
bạn chí thân của ngài, một người mà ngài đã ủng hộ vào số ứng sinh
được phong Giám mục trong thập niên 60, người đã công khai nâng
đỡ những thương thảo với Rôma để nhìn nhận Tu hội, và sự thuyên
chuyển đáng ca ngợi của ngài từ tòa Saluzzo tới tòa Torino Don Bosco
đã đạt được từ Vatican trong năm 1871.
Sự thù hằn nảy sinh trong năm 1873-1874 khi Don Bosco cố gắng
có bản văn Hiến Luật được các vị thẩm quyền Rôma chấp nhận, thì
không phải không có cơ sở. Tổng Giám mục Gastaldi nghiêm chỉnh
đảm nhận những bổn phận mục vụ của mình. Ngài cố gắng cải cách
giáo phận mình, bắt đầu với hàng giáo sĩ mà ngài muốn thấy họ là
những linh mục xứng đáng, đạo đức và học hành đầy đủ. Don Bosco
đã kinh nghiệm những vấn đề đào luyện các tư giáo của mình với
Tổng Giám mục Riccardi di Nietro. Tình trạng đó còn tệ hơn dưới
triều của vị kế tục ngài. Tổng Giám mục Gastaldi rất đòi hỏi với những
ứng sinh Salêdiêng xin thụ phong; điều ấy khiến Don Bosco âu lo.
Ngài hỏi cha Rua trong một lá thư ngày 18 tháng Mười Một 1875:
"Có phải việc thụ phong đang gặp rắc rối với Tổng Giám mục
không?" Những cải cách của Tổng Giám mục Gastaldi làm xáo trộn
(phần nào) hàng giáo sĩ địa phận và họ phàn nàn với Rôma. Đức Tổng
Giám mục nghi ngờ Don Bosco, vốn được Đức Giáo hoàng và vị thư
ký Antonelli của ngài coi trọng, như là một người đáng bị khiển trách
do một lá thư từ Đức Piô IX trách mắng ngài. Bầu khí của những mối
liên hệ giữa Hội đồng giáo phận và Valdocco ngày một chua cay
hơn. Ngày 27 tháng Tám năm 1873, Don Bosco rất buồn khổ vì
những chỉ trích của Tổng Giám mục nhân dịp ngài thăm viếng trường
Alassio.
Trong những tình hình của cuộc tranh cãi, cha Rua thường xuyên
bị buộc hành động ở tuyến đầu. Trong cuộc bất đồng giữa hai hội
160 Bình luận sau chót về cuộc tranh luận nổi tiếng này giữa Tổng Giám mục và
Don Bosco được tìm thấy trong Arthur J. Lenti, Don Bosco, his Pope and his bishop.
The trials of a Founder, Rome, LAS, 2006, p. 65-245

13.6 Page 126

▲torna in alto
126 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
viên thân cận với Don Bosco - Gioakim Berto và Gioan Bonetti - ngài
cố hết sức bằng mọi cách có thể hầu làm cho tình trạng dịu đi. Ngài
thường giữ bình thản, đưa ra những giải thích, lý luận hay đơn giản
giữ im lặng. Không bao giờ người ta thấy ngài nổi đóa. Đối với
Valdocco, vị thư ký của Tổng Giám mục đó, Kinh sĩ Toma Chiuso, là
một kẻ thù đối với vụ việc của họ, nhưng cha Rua đối xử với ngài
như "một người bạn rất thân yêu", khi bắt đầu các lá thư của mình
bằng "Teologo mio Carissimo" ("Cha rất thân mến của con"), và kết thư
bằng cách xin ngài "vì tất cả chúng con ở Valdocco, hôn tay Đức
Tổng Giám mục Gastaldi, vị Giám mục thân mến và xứng đáng trước
nhan Chúa."161 Theo cha Ceria, một lá thư giải thích như thế, được
viết ngày 13 tháng Giêng năm 1879, "là một tuyệt tác của sự tinh tế
ngoại giao".162
Vụ việc có văn kiện rõ ràng về sự treo chén tưởng tượng của Don
Bosco vào tháng Mười Hai 1875 cho thấy vai trò của ngài trong điều
mà chỉ có thể được gọi là cuộc chiến giữa Valdocco và Tòa Tổng Giám
mục. Cha Rua không chỉ là môi giới tiện lợi đối với Don Bosco. Ngài
can thiệp khéo léo. Ngay cả trong những trao đổi nóng nảy nhất,
ngài vẫn có thể cân bằng sự thẳng thắn với sự chừng mực, sự chính
xác với sự tế nhị, tình yêu vô điều kiện dành cho Don Bosco với sự
tôn kính đầy đủ đối với Tổng Giám mục. Những năng quyền giải tội
của Don Bosco đã không được gia hạn trong thời gian quy định.163
Ngày 24 tháng Mười Hai cha Rua thông tin cho Don Bosco, người
diễn dịch rằng vị Tổng Giám mục đã từ chối để gia hạn chúng - một
biện pháp vị Tổng Giám mục thường nại đến trong việc đối xử với
hàng giáo sĩ. Don Bosco rút sang Borgo San Martino [ngoài địa phận]
để tránh phải từ chối giải tội ở Torino. Ngày 27, Kinh sĩ Chiuso cho
cha Rua hay rằng Tổng Giám mục Gastaldi cho phép Don Bosco tiếp
tục giải tội, vì năng quyền này không bao giờ bị lấy khỏi ngài. Ngày
29, một ghi chú nữa từ vị Kinh sĩ mời cha Rua gặp Tổng Giám mục.
Chiều hôm đó ngài đến và bảo vệ lập trường mục vụ của Don Bosco,
161 M. Rua – T. Chiuso, Torino, 13 tháng Ba năm 1879, ed. MB XIII, p. 1001-
100”, doc. 61
162 MB XIV p. 231
163 Đọc về những năng quyền giải tội không được canh tân MB XI, p. 485-488

13.7 Page 127

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 127
theo cách tốt nhất mà ngài có thể làm được. Ngày hôm sau, ngài viết
lại lý do chính cho lời ngài giải thích, đồng thời khiêm nhường xin
lỗi vì có lẽ đã quá kịch liệt khi bảo vệ Don Bosco. Rồi ngài tự ý thêm
rằng: "suốt những năm con sống gần Don Bosco và ai nấy đều thấy
rõ là ngài làm được nhiều điều tốt và Chúa chúc lành cho công việc
ngài làm. Con cũng có thể thấy rằng ngay cả những dự phóng tham
vọng nhất của ngài đã hoàn thành tốt; từ đây con chỉ có thể kết luận
rằng Chúa thật sự ban cho ngài ơn địa vị, và đã đặt định ngài hoàn
thành một vài dự phóng tốt lành; Chúa mưa tuôn trên ngài sự trợ
giúp cần thiết để đưa các dự phóng đó tới hoàn thành, và hoàn thành
tới mức rằng thỉnh thoảng ngài thấy mình bị những người đáng kính
chống đối, như từng xảy ra cho nhiều vị sáng lập thánh thiện."164
Cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục không giảm. Ngày 31 tháng Mười Hai,
Hội đồng giáo phận chĩa một loạt những lời khiển trách có tài liệu
dẫn chứng vào những người Salêdiêng. Tu hội không thể nhận
những ứng sinh không có những thư chứng thực từ những Đấng Bản
quyền của họ; họ không thể có những người trẻ trong trường mang
áo dòng mà không có phép của Giám mục. Còn nghiêm trọng hơn
nữa, có một sự bất hòa rõ ràng giữa thẩm quyền giáo sĩ của Torino
và Tu hội khi Tu hội chấp nhận những người đã có phép vào chủng
viện địa phận. Họ tuyên bố, vết rạn nứt này thậm chí rõ hơn, khi
thiếu kính trọng thẩm quyền Tổng Giám mục trong những lá thư và
những cuộc đối thoại. Vì vậy Tu hội buộc phải tuân giữ những giáo
luật chặt chẽ. Khi bắt đầu năm mới 1876, cha Rua lại cầm bút trả lời
cả loạt nhận xét này, từng điểm một, trong một lá thư dài gởi lên
Tổng Giám mục Gastaldi. Với văn phong trực tiếp, gãy gọn, hoàn
toàn cao quý và không có bất kỳ lời lẽ xúc phạm hay khó nghe nào,
ngài bàn đến từng luận điệu, và chỗ nào cần thiết, có những quy
chiếu tới Giáo luật.
Những câu ngài mở đầu định rõ giọng điệu cho toàn lá thư. "Đức
Tổng Giám mục kính mến, con có bổn phận phải cám ơn ngài rất
chân thành vì những nhận xét trong lá thư đề ngày 31 tháng Mười
Hai. Nó minh định ấn tượng rộng rãi giữa chúng con rằng lý do chân
164 M. Rua - L. Gastaldi, Torino, 30 tháng 12, 1875 FdR 3903 D6-9

13.8 Page 128

▲torna in alto
128 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thật để Đức Tổng không bằng lòng với Tu hội Salêdiêng chỉ là thiếu
sự minh tỏ cần thiết. Con có lý lẽ vững tin rằng khi các sự việc được
trình bày trong ánh sáng thật sự của nó và thiện ý của chúng con trở
thành hiển nhiên, thì các vấn đề sẽ biến mất, bởi vì chúng không có
hoặc bởi vì chúng được gán ghép sai lầm cho chúng con. Như vị Phó
Bề trên của Tu hội, con luôn hoàn toàn ý thức về mọi điều đang xảy
ra; vì thế, nếu Đức Tổng cho phép, con sẽ giãi bày quan điểm của
con đang khi đặt mọi sự rốt cục lụy phục sự khôn ngoan được soi
sáng của Đức Tổng."
Lá thư kết thúc: "Con biết rõ mình đã quá dài dòng, nhưng xin
Đức Tổng vui lòng tha thứ cho con mở lòng mình bằng cách này để
bảo đảm với Đức Tổng rằng những người Salêdiêng không hề thiếu
kính trọng và tôn kính đối với Đức Tổng, khi ngài còn là Kinh sĩ trong
thành phố này, hay khi đã thành Giám mục của Saluzzo, hay khi Chúa
Quan phòng thấy là thích hợp để ngài là Tổng Giám mục của chúng
con. Về phần con, tuyên bố mình là tôi tớ rất khiêm hạ của Đức Tổng
luôn là niềm vinh dự và một lý do để biết ơn, cha Micae Rua."165
Biết một cách chi tiết nào đó, đâu là vai trò cha Rua thực hiện
trong vụ tranh cãi của Gioan Bonetti quả thật lý thú. Người Salêdiêng
này, được Don Bosco chọn làm tuyên úy và giám đốc của Nguyện xá
Thánh Têrêsa dành cho trẻ nữ ở Chieri được các Con Đức Mẹ Phù hộ
điều hành, thấy mình mâu thuẫn với cha xứ. Dường như vào tháng
Hai năm 1879, sau khi đã đi quá những quyền lợi của mình ở giáo
xứ, ngài tiếp tục lăng mạ cha xứ bằng lá thư, và như vậy những năng
quyền giải tội của ngài bị Đức Giám mục rút lại và thậm chí cấm ngài
đặt chân đến Nguyện xá. Bonetti phản ứng cách buồn khổ, nhưng
Don Bosco nâng đỡ ngài, đang khi cha Rua hành động như một trung
gian, cố gắng minh định điều gì đã sai và để khôi phục lại một sự
bình thản nào đó. Tất cả đều vô ích. Suốt ba năm Chieri vẫn còn là
một điểm sôi động đối với những người Salêdiêng và phần số của vị
165 M. Rua – L. Gastaldi, Torino, 8 tháng Giêng, 1876, biên bản được sao chép lại
trong FdB 673 B4-7

13.9 Page 129

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 129
Phó Tổng Bề trên là can dự hoàn toàn vào đó.166
Hãy cho phép tôi lựa ra một trong những việc xảy ra mà chúng ta
có nhiều thông tin. Vào tháng Mười Một năm 1889 một nữ tu
Salêdiêng chết trong nhà ở Chieri. Nữ tu ấy đã ở trong tình trạng
nguy kịch trước khi những người Salêdiêng bị cáo ở Hội đồng giáo
phận vì vi phạm rõ ràng những quyền lợi giáo xứ và Giáo luật. Vị
biện lý (người đại diện của Tổng Giám mục) tin rằng thông tin đó là
xác đáng, mời cha Rua tới Hội đồng giáo phận và đặt những sự kiện
cho ngài như sau:
Hai Salêdiêng đã ban các bí tích sau cùng cho Nữ tu hấp hối đó,
sử dụng những dầu thánh từ nhà nguyện của dòng Tên và sau khi
nữ tu đó chết đã đi theo đám tang qua thành phố và tới nghĩa trang.
Suốt cuộc phỏng vấn đó, cha Rua cho vị luật sư đó điều dường
như đối với ngài là lời giải thích đáng tin cậy nhất, khi xin lỗi vì
những hội viên đó không biết rành về những quy luật giáo xứ. Sau
đó, ngày 27 tháng Mười Một, ngài trình bày giải thích của mình về
những biến cố một cách đầy đủ cho Tổng Giám mục: một trong
những linh mục đó là cha giải tội thường xuyên của nữ tu đó; đối với
những bí tích sau cùng và đám tang, hai linh mục đã theo phong tục
của Nguyện xá Torino. Cuối cùng, cha Rua "khiêm nhường xin Đức
Tổng tha thứ cho hai linh mục liên hệ" và nói ngài "được chuẩn bị để
làm cùng điều ấy đối với cha xứ địa phương nếu Đức Tổng xét là cần
thiết". "Nếu xem ra thích hợp đối với cha xứ để đền bù sự vi phạm
những quyền lợi giáo xứ, theo một dấu kính trọng và đơn sơ từ Đức
Tổng, chúng con được chuẩn bị để làm bất cứ điều gì cần thiết."167
Nay rõ ràng là, trong biến cố đó, cha Rua đã cường điệu vụ việc, bởi
vì thực thế, các bí tích sau cùng không phải do những người
Salêdiêng, nhưng do một kinh sĩ ban (tình cờ, vị này chống lại cha
xứ và đứng về phía Bonetti), còn đám tang chỉ gồm có các trẻ nữ từ
166 Về vụ việc Bonetti xem Don Bosco en son Temps, p. 1087-1092, 1137-1141,
1158-1161.
167 M. Rua – L. Gastaldi, Torino, 27 tháng Mười Một năm 1880, biên bản trong
FdR 3903 E 1-2.

13.10 Page 130

▲torna in alto
130 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Nguyện xá Thánh Têrêsa mà thôi...168
Sự bất đồng đến mức căng thẳng khi Tổng Giám mục tố cáo Don
Bosco khởi đầu những tuyên bố xấu xa về ngài được phát ra giữa
năm 1877 và 1879. Theo những phỉ báng này, Don Bosco là kẻ thù
số một của Đức Tổng Giám mục, và rõ ràng những người viết chúng
được biết rõ những vấn đề nội bộ của Tu hội Salêdiêng. Một trong
những lời phỉ báng, vốn diễu cợt cả Đức Tổng Giám mục lẫn vị cha
xứ ở Chieri trong vụ việc Bonetti, mang tựa đề: "Đức Tổng Giám mục
Torino, Don Bosco và cha Oddenimo, hay những câu chuyện ngu
xuẩn, nghiêm trọng và đáng buồn được một người từ Chieri kể lại."
Vụ việc Bonetti và vấn đề lời sỉ nhục là một sự liên kết không may.
Don Bosco bất lực để bảo vệ chính mình hay hội viên của mình; ngày
27 tháng Hai, ngài thổ lộ cho cha Rua: "Cha đã nhận được một lá
thư từ Hồng y Nina [người bảo vệ các vụ việc Salêdiêng ở Rôma] về
vấn đề cha Bonetti. Cha ao ước duy nhất là dàn xếp ổn thỏa sự khác
biệt này với mọi người liên hệ. Giải pháp đơn giản nhất cha có thể
thấy là giải pháp từ năm trước, nghĩa là, xóa bỏ sự treo [chén] mà
Đức Tổng Giám mục đã áp dụng thế nhưng ngay hôm sau lại áp đặt
lại. (Ở đây, ta phải nhắc nhớ rằng tin tức về những vụ xảy ra ở Chieri
cuối cùng đã tới tòa Tổng Giám mục; vì vậy sự đổi ý như thế là khả
thi.) Tuy nhiên vẫn có vấn đề nghiêm trọng được cha Colomiatti phác
họa: nếu Don Bosco không đồng ý một sự thích nghi nào đó, Đức
Tổng Giám mục sẽ mang vụ việc chống lại Don Bosco vì những xác
quyết phỉ báng chống lại ngài nơi báo chí. Cha phải ngăn cản mối
đe dọa Tu hội chúng ta chịu trách nhiệm về những phát hành này
trong đó cha đã không có phần trực tiếp hoặc gián tiếp. Còn hơn thế
nữa, vì cha bị đè nặng do chính Đức Tổng Giám mục đe dọa; hơn
một lần ngài tuyên bố rằng nếu Don Bosco, hoặc chính mình hay từ
người khác, trong ấn phẩm hay bản thảo, đã xuất bản hay phân phát
[tài liệu chống lại ngài] hay làm như thế trong tương lai, ngài sẽ bị
treo [chén] ipso facto incurrendo từ Đức Thánh Cha và Bộ lo về các
Giám mục và Quy luật. Căn cứ vào những đe dọa nghiêm trọng này,
ai sẽ tin rằng Don Bosco mất khôn tới độ tung ra những xuất bản
168 Việc xảy ra được E. Ceria thuật lại, MB XIV p. 249-250.

14 Pages 131-140

▲torna in alto

14.1 Page 131

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 131
như thế? Con có thể để cho cha Colomiatti biết suy nghĩ của cha. Cha
trao quyền cho con giải quyết tất cả điều này và làm cho yên chuyện
theo cách mà con tin là để Chúa được vinh quang hơn và các linh
hồn được ích lợi, nhưng chắc chắn phải cho cha Bonetti biết bất kỳ
điều gì xảy ra liên quan đến ngài."169 Buồn thay, nỗ lực này của Don
Bosco chẳng đi đến đâu.
Đức Tổng Giám mục tiếp tục điều tra những lời phỉ báng, thu thập
chứng từ nào đó rằng Don Bosco có lẽ phạm tội và gọi ngài ra hầu
tòa trước tòa án địa phận... Toàn vụ việc tới Rôma, ở đó thực thế vào
năm 1882, Đức Lêô XIII cuối cùng đã gán cho những người Salêdiêng
một mức nào đó là có tội. Đối với cha Rua, ngài vẫn chân thật với
những nguyên tắc ngài đã giữ từ lâu: "Im lặng, cầu nguyện, phản
ứng đúng lúc, báo cho Don Bosco khi cần thiết, và vâng lời ngài tuyệt
đối." Hoàn toàn trái ngược với cha Bonetti, người đã đi khắp nơi
phản kháng cách ồn ào và tố cáo những kẻ khác, cha Rua, người
thông tin hoàn hảo, khôn ngoan giữ an bình và cầu nguyện.
Vị Phó Tổng Bề trên nghiêm nhặt
Don Rua mất mẹ, Joan Maria, ngày 21 tháng Sáu 1876.170 Người
phụ nữ thánh thiện này đã dành 20 năm cuối đời cho các thiếu niên
của Don Bosco; chúng đều tìm thấy ở bà cố một trái tim mẫu tử chân
thật. Bà cố chết, đúng là một nỗi buồn khủng khiếp cho người con
yêu của bà; toàn Nguyện xá sớt chia nỗi buồn này. Cha Rua gởi một
bức ảnh của mẹ cho anh Antôn, người điều hành xưởng vũ khí của
nhà Vua tại Brescia, cùng lúc gởi cho ông một số đồ của bà. Gia tài
này gồm một ít vải vóc, một ít vàng trị giá 38.50 lire, nhẫn cưới mà
người ta nghĩ là bằng vàng nhưng thực ra là mạ bạc và đáng giá 2
lire, cùng một ít đồ khác đáng giá 80 lire. Cha Rua đã chia những
vải vóc áo quần cho các thành viên gia đình; đối với vật còn lại, ngài
viết: "Tổng cộng nửa số nữ trang của mẹ là 30 lire và nửa đồ đạc là
40 lire, em gởi đến anh ở đây 70 lire mà em mong rằng anh sẽ chia
sẻ với con cái để chúng đều có kỷ vật nhỏ bé của bà nội thân yêu."
169 G. Bosco – M. Rua, Roquefort, 27 tháng Hai năm 1881, Epistolario Ceria, t.IV,
p. 28
170 Đối với đoạn này chúng tôi theo E. Ceria, Vita, p. 88-89

14.2 Page 132

▲torna in alto
132 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Nhìn vào những số lượng này, độc giả sẽ rút ra những kết luận
của mình. Tuy nhiên, thật rõ rằng một người quá tỉ mỉ trong việc
quản lý một gia tài giản dị lại rất thích hợp để trông nom những số
tiền khổng lồ Chúa Quan phòng mang đến cho Don Bosco. Hẳn
nhiên nhiều tiền đã qua tay cha Rua, nhưng không một xu nào bị tắc
nghẽn ở các ngón tay ngài; ngài không hề chi tiêu hay phung phí
hơn điều cần thiết. Trong những vấn đề này, cũng như trong các vấn
đề khác, ngài theo quy luật của Don Bosco: "Chúa Quan phòng không
bao giờ, và sẽ không bao giờ, bỏ chúng ta, bao lâu chúng ta không
trở nên bất xứng với Ngài bằng cách phung phí tiền bạc và để cho
tinh thần nghèo khó suy giảm. Vì vậy, cha Rua chặt chẽ tuân giữ lời
khấn nghèo khó, nghiêm nhặt với mọi người, song ngài bắt đầu với
chính mình. Nghèo khó nơi áo quần: Năm 1877, cha Vespignani,
một trong những thư ký của ngài, được giao trách vụ chải áo thâm
chùng của ngài, đã phải rất cẩn thận kẻo rách, vì đã sờn quá rồi.
Nghèo khó trong giày dép: ngài không chút xấu hổ khi mang giày
vá. Nghèo khó nơi văn phòng: một chiếc bàn ở đó ngài làm việc và
tiếp khách, có hai ba chiếc ghế thường, hai bức tranh về Bí tích Thánh
Thể và Mẹ Maria Phù hộ, đơn giản treo trên tường đối diện với ngài,
và không có gì khác nữa.
Ngài cũng để mắt đến sự nghèo khó của các hội viên. Có quá
nhiều điều có thể nói về vấn đề này, nhưng chỉ gợi lại một ít thí dụ
từ những năm 1875-1880 là đủ rồi. Các vị truyền giáo được ngài săn
sóc, và năm 1876 một hội viên sắp trẩy đi Achentina muốn có một
sách nguyện mới. Cha Rua xin được coi cuốn sách người đó đang
dùng, rồi cho xem cuốn sách của mình, cũ kỹ và đầy vết tay, rồi mỉm
cười xin người đó trao đổi. Người kia cúi đầu khuất phục và từ chối.
Năm 1877, cha thư ký Vespignani của ngài, vẫn còn là một tập sinh
nhận được một hộp sách từ gia đình và xin phép giữ trong phòng.
Cha Rua tử tế trả lời: "Cha sẽ nói cho con cha sẽ làm gì với sách của
cha: cha đặt tất cả trong thư viện cộng thể rồi." Gia đình của
Vespignani cũng gởi cho ngài một bàn viết lớn ở đó ngài có thể đứng
làm việc. Cha Rua trả lời: "này, cha cao lớn rồi. Cách tiện lợi nhất cho
cha để đứng làm việc là đặt một cái ghế trên bàn", hàm ý rằng ngài
có thể viết trên ghế. Cha Ceria bình luận, trong từng trường hợp, cha

14.3 Page 133

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 133
Rua đều thử thách tập sinh. Ngài từ khước họ bất kỳ sự thừa thãi
nào, và không cho phép họ giữ những tặng phẩm cho chính mình
để phá Luật.
Ngài có những tường trình chi tiêu được các thư ký của ngài kiểm
soát mỗi hội viên tiêu bao nhiêu cho quần áo, và xin một danh sách
những ai có hơn một chiếc áo dòng mới hay đôi giày mới suốt năm,
để ngài có thể nói một lời với họ. Căn cứ vào tài chánh liên lỷ thiếu
hụt, có rất nhiều những lời khuyến cáo khác nhau về tiết kiệm: tiết
kiệm trong nhà bếp, phòng rượu, phòng vải, giặt giũ, và trong sưởi
và điện sáng. Những thí dụ này, được cha Ceria cung cấp, có thể xa
lạ với xã hội tiêu thụ của chúng ta, nhưng ngài tuyên bố rằng sự chú
ý đến từng chi tiết như thế giúp hình thành một tinh thần tiết kiệm
trong não trạng của những người Salêdiêng, không chỉ bảo đảm nền
kinh tế gia đình tốt đẹp, nhưng kiến tạo một ý thức về giá trị của
tiền bạc trong tay của một người khấn sống nghèo khó. Đối với một
tu sĩ, tiền bạc hầu như là một sự thánh thiêng, bởi vì nó là quà tặng
của Chúa Quan phòng chỉ vì một mục đích: Vinh quang Thiên Chúa
và phần ích các linh hồn. Vậy chúng ta có thể hiểu tại sao cha Rua
xem xét rất nhiều đến những quản lý có trách nhiệm đối với việc
quản trị của các cộng thể khác nhau. Ngài muốn quy tụ họ lại để
giải thích những hướng dẫn cụ thể để tiết kiệm và đồng ý trên những
phương pháp kế toán, căn cứ vào nhu cầu thiết lập một thực hành
chung phù hợp với tinh thần chân thật của Tu hội Salêdiêng đang
phát triển.
Không có gì keo kiệt về phía ngài hoặc đối với những người khác,
vì tất cả sự nhiệm nhặt của ngài. Dù giữ nghèo khó trong ăn mặc,
ngài không chỉ gọn gàng, nhưng cũng rất sạch sẽ và chỉnh tề. Tinh
thần nghèo khó khiến ngài ý thức đến những nhu cầu của kẻ khác.
Ngài rất nhớ đến những người ốm đau, và, ngài trách nhiệm đối với
họ, cũng như những vị truyền giáo. Ngài không bủn xỉn khi liên quan
đến vẻ đẹp của phụng vụ. Hai nguyên tắc dẫn đường ngài trong
những vấn đề khó nghèo, một mang tính tu đức và một mang tính
luân lý. Không có tinh thần nghèo khó, không thể cầu nguyện sốt
sắng, không sẵn sàng hy sinh vốn cố hữu trong ơn gọi Salêdiêng,

14.4 Page 134

▲torna in alto
134 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
không thể tiến bộ thiêng liêng hay trở nên con cái chân chính của
Don Bosco.
Nguyện xá Valdocco sống trên sự bác ái. Năng khiếu của Don
Bosco để tìm ân nhân cho công cuộc của mình thì đã thành cách
ngôn. Dần dần, vị vốn là cánh tay phải của Don Bosco được dạy cùng
kỹ năng đó, dù điều ấy phải khiến ngài đau khổ cách nào đó; trong
những thời kỳ Don Bosco vắng mặt nhiều hơn, ngài không có sự
chọn lựa nào ngoài việc đưa nó ra thực hành. Rồi ngài đặt định công
việc, viết cho người này, rồi người khác loan báo cuộc thăm viếng
sắp tới, hy vọng nhận được bất kỳ tặng phẩm bác ái nào họ có thể
biếu tặng.
Đôi khi, ngay cả lúc Don Bosco ở nhà, cha Rua không biết đường
nào để xoay sở hầu tìm được trợ giúp một nhu cầu khẩn cấp nào đó,
Don Bosco vẫn không xao xuyến, thâm tín rằng Chúa Quan phòng
sẽ lo liệu điều đó. Vì đối với cha Rua, chính trong một tình huống
như thế mà ngài học một bài học nhỏ, như cha Lemoyne thuật lại
trong hình thức của một cuộc đối thoại.171
Vào bữa tối ngày 29 tháng Tư 1879, và trước một vài hội viên,
Don Bosco bảo cha Rua rằng một số người phàn nàn, bởi vì khi họ
đến xin ngài chút tiền ngài để họ về tay trắng. Cha Rua trả lời, "vì lý
do đơn giản: két tiền rỗng hết rồi."
- Con hãy bán bất kỳ giao kèo nào chúng ta có.
- Con đã bán một số rồi, nhưng không bán tất cả. Chúng ta phải
giữ lại một số để đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp vốn có thể
nảy sinh.
- Nếu điều đó xảy ra, Chúa sẽ cung cấp. Trong lúc này con hãy
gắng sắp xếp những món nợ còn tồn đọng mà chúng ta đang
đối diện.
- Nhưng trong vòng hai tuần, con sẽ phải trả chi phiếu 28.000
171 Được tìm thấy trong Amadei I, p. 294. Chính lập luận có lẽ mang tính lịch sử.
Cuộc nói chuyện được cống hiến ở đây chắc chắn là một can thiệp của người viết
sử biên niên.

14.5 Page 135

▲torna in alto
Cánh Tay Phải của Don Bosco | 135
lire.
- Nhưng không trả món nợ hôm nay và giữ tiền chỉ cần thiết
trong hai tuần tới quả là điên.
- Những món nợ của hôm nay không thúc ép, vì thế chúng ta sẽ
làm gì đây?
- Chúa sẽ cung cấp. Bất kỳ ai để dành tiền ra một bên cho những
nhu cầu tương lai đang đóng cửa cho Chúa Quan phòng.
- Nhưng chúng ta phải khôn ngoan...
Con hãy nghe cha. Nếu con muốn Chúa Quan phòng giúp chúng
ta, con hãy lấy ra điều con có và trả những món nợ. Vì đối với tương
lai, chúng ta hãy trao vào tay Thiên Chúa. Cha không biết về bất kỳ
người quản lý nào của chúng ta vốn hoàn toàn tin tưởng vào Chúa
Quan phòng và không xây dựng những quỹ cho tương lai. Cha sợ
rằng những vấn đề hiện tại của chúng ta là vì quá cẩn thận. Khi con
người sử dụng điều đó, Thiên Chúa rút lui.”
Hai tính khí, hai lối thiêng trong sự hợp tác tuyệt vời
Những khác biệt thật đáng kể trong những khóe nhìn của họ về
tầng lớp và địa vị. Cha Rua cảm thấy mạnh mẽ về phẩm giá linh
mục. Tuy nhiên, vì buổi ban đầu của Tu hội Salêdiêng con số giáo
dân, chính yếu là những người buôn bán, làm vườn hay nấu nướng
đã trở thành hội viên hoàn toàn. Như chúng ta biết, cha Rua đã đặc
biệt hiến mình lo đào tạo tư giáo. Còn để lại cho Don Bosco, rồi cha
Barberis, chăm sóc đào luyện các hội viên giáo dân, được thực hiện
chính yếu qua hàng loạt những huấn đức chung, và có một khuynh
hướng nhìn những sư huynh này là những Salêdiêng hạng hai. Vào
Tổng Tu Nghị III năm 1883, một trong những đề xướng đọc thấy
như sau: "Phải dành cho sư huynh một địa vị thấp hơn: họ phải được
gán cho một loại (phạm trù) riêng của chính mình", và v.v. Khó chịu
ra mặt với điều này, Don Bosco phản đối: "Không, không, không
được! Các sư huynh là như nhau với những người khác.”172 Sau này,
tháng Chín năm 1884, cha Rua muốn đề nghị hai loại sư huynh khác
172 Được P. Braido trích dẫn, Religiosi nuovi per il mondo del lavoro, Rome PAS 1961, p. 27

14.6 Page 136

▲torna in alto
136 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhau. Như khi ngài nói, "một luật sư, dược sĩ hay thầy giáo lại phải
xếp hàng bên cạnh một người công nhân thường” thật không thích
hợp tí nào.173 Don Bosco chống lại thẳng thừng: "Cha không thể chấp
nhận hai loại sư huynh"; nhưng ngài nói rõ rằng những người thô lỗ,
ngớ ngẩn không thể trở thành hội viên của Tu hội.
Vẫn bảo vệ lập trường của mình, cha Rua hỏi ngài liệu xem ngài
không thể thiết lập một nhóm tương tự như dòng Ba Phan sinh hay
sao, nhưng ngay cả điều này cũng không thể thay đổi tâm trí của
Don Bosco. Người nông dân nơi Don Bosco không thể đi đôi với tính
quan chức thành phố nơi cha Rua với những quan tâm của ngài đối
với xã hội thập niên 90.
Bất cứ điều gì chúng ta làm về những lối tiếp cận trái ngược này,
những phẩm tính trí thức, luân lý và tôn giáo của cha Rua thật nổi
bật đến nỗi bất kỳ ai có mắt nhìn đều có thể nhận ra ngay lập tức.
Quá nhiều đến nỗi ý tưởng đó trở nên mạnh mẽ hơn vào ngày mà
ngài kế vị Don Bosco. Vào năm 1879, khi nói cho cha Cagliero từ Mỹ
Châu trở về, Don Bosco đặt câu hỏi về người kế vị mình, nói rằng
theo ý kiến của ngài có ba ứng viên có thể được. Cha Cagliero trả lời:
"Sau này, có thể có, nhưng bây giờ thì chỉ có một - cha Rua." Don
Bosco không phủ nhận, trái lại, còn tuyên bố: "Chúng ta chỉ có một
cha Rua! Ngài đã luôn và vẫn luôn là cánh tay phải của Don Bosco."
Cha Cagliero nói thêm: "Không chỉ cánh tay phải của cha, nhưng còn
là đầu, là mắt, là tâm trí và cõi lòng của cha."174 Cha Rua chắc chắn
có nhân cách độc đáo của chính mình, nhưng hơn là thả lỏng nó,
ngài bắt nó lụy phục, thậm chí hy sinh nó vì Don Bosco và công cuộc
ngài; ngài thâm tín rằng bằng cách này chính ngài được đồng hình
đồng dạng với một ơn gọi đến từ trên cao.
173 Annali I, p. 709
174 Từ E. Ceria, Vita, p. 99

14.7 Page 137

▲torna in alto
Người Bạn Du Hành của Don Bosco | 137
11
NGƯỜI BẠN DU HÀNH
của Don Bosco
Rôma: Tháng Tư - Tháng Năm, năm 1881
Mãi đến năm 1881, bất cứ khi nào Don Bosco rời khỏi Torino, cha
Rua phải thế chỗ ngài tại Nguyện xá và như vậy không tự do để đi
cùng ngài. Nhưng ngày 5 tháng Tư năm đó, trên đường về sau một
hành trình dài ở Pháp, Don Bosco viết từ Riviera với lời yêu cầu mạnh
mẽ: "Xin con cho cha biết con có thể đến Sampierdarena vào ngày
thứ tư Tuần Thánh và đi với cha tới La Spezia, Florence, v.v. hay
không. Cha cần con.”175 Ngài thật sự có ý hành trình thật xa tới tận
Rôma.
Thực sự cha Rua đã cùng đi với Don Bosco tại Sampierdarena ngày
13 tháng Tư. Hai nhà du hành xuyên qua Florence; tại đây họ bị cầm
chân lâu hơn dự liệu; cuối cùng ngày 20, họ đã đến Rôma ở đó họ
tìm được chỗ nghỉ với cha Dalmazzo gần nơi xây dựng thánh đường
được cung hiến cho Thánh Tâm.
Năm trước, dự phóng xây cất này được Đức Giáo hoàng yêu cầu
dường như hoàn toàn bị án binh bất động, và vị Hồng y Đại diện đã
diễn đạt nỗi chán chường của ngài cho Don Bosco, lúc đó đang ở
Rôma. Don Bosco đã đồng ý lãnh trách nhiệm tiếp tục công việc
dang dở, với điều kiện là xây dựng một nhà dành cho những người
trẻ từ thành phố tại cùng một địa điểm. Với vụ việc Bonetti vẫn tiếp
tục ầm vang, thật dễ hiểu rằng nếu ngài phải đương đầu với nhiệm
vụ to lớn này, ngài cần cha Rua.
“Một địa điểm tuyệt vời, vừa ý và tốt đẹp", đó là lối cha Rua miêu
tả nó trong một lá thư gởi cho cha Lazzero, giám đốc của Nguyện
175 Epistolario Ceria, IV, p. 40.

14.8 Page 138

▲torna in alto
138 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
xá. Ngài chỉ phàn nàn về môi trường "Thệ phản" (Tin lành,
protestant) thôi. Còn đối với chi phí cho ngôi nhà thờ đó cũng như
ngôi nhà dành cho thanh thiếu niên - ít nhất tới vài ngàn lire, nếu
không phải là hàng triệu" - nghĩ tới nó đủ làm ngài chết khiếp rồi.
Dù sao đi nữa, ngài tiếp tục: "Don Bosco cầu nguyện và làm việc với
tất cả năng lực để đi tới thành công; ngài làm mọi thứ có thể được
để đạt mục tiêu. Ngài tiếp tục nói ngài cần thanh thiếu niên cầu
nguyện trợ giúp.”176
Chúng ta biết rất ít về việc ở lại Rôma lần này, trừ cuộc triều yết
với Đức Lêô XIII ngày 23 tháng Tư. Cha Rua chắc chắn hiện diện với
Don Bosco; ngài đã viết về nó trong Tập san Salêdiêng vào tháng
Năm sau đó. Nơi đây chúng ta tìm thấy mẩu đối thoại ngắn này với
Đức Giáo hoàng:
“… ‘Bây giờ, con hãy nói cho Ta về thánh đường và căn nhà cho
thanh thiếu niên ở Espuiline, được thánh hiến cho Thánh Tâm. Công
việc tiến hành thế nào? Có tiến bộ gì không? Hay đã dừng rồi?' Con
xin thưa với Đức Thánh Cha rằng công việc đang tiến nhanh, có
khoảng 150 người thợ dùng tất cả sự tài khéo của mình vào công
việc này, được Đức Giáo hoàng chúc lành rất nhiều. Con thấy rằng
các tín hữu dâng nhiều tặng phẩm, điều ấy khích lệ chúng con nhiều;
nhưng căn cứ vào dự phóng to lớn đó, chúng con bắt đầu cảm thấy
rằng những quĩ đó vẫn hoàn toàn không đủ. Xảy ra là trước đó một
ít, một ai đó đã biếu tặng Đức Thánh Cha món tiền 5000 francs cho
Tòa Thánh. Đức Thánh Cha mỉm cười nói: "Đây con cầm lấy, tiền này
đến đúng lúc: tay phải Cha nhận được, nhưng tay trái Cha trao cho
con. Con hãy cầm lấy cho công cuộc ở Esquyline'".
Don Bosco đủ sắc sảo để đi vào chuyện gây quỹ, nhưng đối với
ngài đấy chỉ là một trong nhiều vấn đề. Ngài cần thông tin hợp thời
về những khế ước với những nhà cung cấp mà ban quản trị trước đã
thực hiện, điều đình với kiến trúc sư và xem xét tỉ mẩn những kế
hoạch cho nhà nghỉ. Thực thế, tất cả những lãnh vực này đã được ủy
cho Phanxicô Dalmazzo, nhưng Don Bosco cảm thấy rằng con mắt
176 Lá thư này trong FdR 3907 E2.

14.9 Page 139

▲torna in alto
Người Bạn Du Hành của Don Bosco | 139
kinh nghiệm của cha Rua thật là vô giá. Đang khi đó, chính ngài sẽ
phải thương thảo với các bộ của Rôma về vụ việc Bonetti và những
đặc ân ngài hy vọng giành được cho Tu hội của mình.
Cuối cùng hai nhà du hành rời Rôma ngày 13 tháng Năm, về lại
Torino vào ngày 16, để không lỡ việc khai mạc tuần chín ngày chuẩn
bị mừng trọng thể lễ Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Tháng Năm, năm 1883: Bên cạnh Don Bosco tại Paris và Lille
Hai năm sau chuyến thăm viếng Rôma, cha Rua lại được gọi để ở
bên cạnh Don Bosco trong những chuyến du hành, lần này xuyên
qua Nước Pháp.
Don Bosco rời Torino ngày 31 tháng Giêng, nhắm tới Liguria và
Côte d'Azur. Mục đích của ngài là tìm trợ giúp để xây dựng Thánh
đường Thánh Tâm tại Rôma, và chìa tay ra xin trong một đất nước
không thiếu tiền bạc và những người hảo tâm. Ngày trước khi lên
đường, ngài viết như sau cho vị Hồng y Đại diện vốn trao phó cho
ngài trách nhiệm xây dựng Thánh đường ấy: "Sáng mai con sẽ đi
thăm Genoa... Con sẽ đi từ nhà này sang nhà khác cho tới Marseilles,
và, nếu sức khỏe của con và những tham gia của công chúng cho
phép, từ đó con sẽ thẳng tiến tới Lyons và Paris, tìm những trợ giúp
cho Thánh đường Thánh Tâm và làm cho mọi người có ấn tượng tốt
về Tòa Thánh.”177 Thực sự, sau thất bại ở Auteuil, ngài hy vọng sẽ
thiết lập được những cơ sở Salêdiêng ở Paris và Lille; đích thân ngài
xuất hiện ở đó mới có thể giúp cho vụ việc của mình.
Tháng Hai và tháng Ba, người ta thấy ngài ở Nice, Cannes, Toulon
và Marseilles; kết quả thật tuyệt. Ngày 19 tháng Ba ngài có thể thông
tri cho cha Dalmazzo, người phụ trách công việc ở Rôma, rằng ngài
gởi đến ba ngàn francs từ Cannes và hai ngàn từ Hyeres. Ngài khiêm
nhường viết: "Cha đang cố hết sức..."
Ngày 2 tháng Tư ngài lại thẳng tiến, rời Marseilles và đi tới phía
Bắc, được Camille de Barruel, một Salêdiêng, như thư ký, tháp tùng.
Lúc này, ngài không còn cần lôi kéo công chúng chú ý bằng cách nói
177 Epistolario Ceria, IV, p. 210-211.

14.10 Page 140

▲torna in alto
140 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
về việc cứu giới trẻ gặp nguy hiểm. Dân chúng lũ lượt kéo đến với
ngài như một người làm phép lạ. Ngài dành ngày 3 và 4 tại Avignon,
và ngày sau đó, ngài rời đi; một tờ báo đăng tin như sau: "Vị linh
mục đáng kính này, ngày trước đây là kẻ xa lạ hoàn toàn, lập tức
được đám đông bệnh nhân vây quanh ... quang cảnh thật cảm động
khi những người mù, điếc, bất toại, hen suyễn và động kinh quây
chặt lấy ngài, ganh đua nhau mong ngài để mắt đến hay nhận được
một lời của ngài.”178 Dường như họ phải tạo được một liên hệ nào
đó với ngài, nhìn thấy ngài; nếu được, nói với ngài và chạm đến ngài
để hưởng được nhiều lợi ích từ những tặng phẩm của ngài. Rước
Mình Thánh từ chính tay ngài là một ơn huệ được những người đạo
đức thèm khát. Một bà quý tộc từ Paris tiếc nuối thốt lên: "Tôi không
sao chạm đến ngài." Nhưng rồi bà thêm: "Chúa Nhật vừa qua tôi vui
sướng được rước Chúa từ tay ngài - ơn lớn nhất trong mọi ơn...”179
Khi không thể ở trước mặt ngài, dân chúng thường viết cho ngài.
Dường như những lời ngài cầu nguyện có thể được Thiên Chúa ban
điều gì đó.
Hai người du hành thẳng tiến tới Paris theo từng chặng -
Avignon, Valence, Tain, Lyons và Moulins - và cuối cùng rời xe lửa
tại ga Lyon ở Paris, khoảng 6 giờ chiều ngày 18 tháng Tư. Tại mỗi
thành phố họ rảo qua, cả những người công giáo lẫn những kẻ tò
mò đều phấn khích. Họ tụ họp đông đảo tại các nhà thờ để nhìn
thấy Don Bosco, lắng nghe ngài và, nếu có thể, trò chuyện với ngài;
lúc ngài đến Paris, báo chí dành trang nhất cho sự hiện diện của ngài.
Trở về lại Torino, cha Rua đã theo dõi hàng loạt những biến cố
gây ngạc nhiên này; trong một luân thư dài gởi các giám tỉnh, đề
ngày 28 tháng Tư, ngài chia sẻ với họ về cuộc hành trình của Don
Bosco xuyên qua nước Pháp khuấy lên làn sóng nhiệt tâm.180 Đối với
chúng ta, lá thư của ngài đạt được điều mà những tình cảm của ngài
178 Gazette du Midi, 5 tháng Tư, 1883.
179 Mme de Staplande to Don Bosco (104, rue du Bac, Paris), s.d.,FdB 1613 D10-
E1.
180 Lối biến thể thủ bản luân lưu đề ngày 28 tháng Tư năm 1883 được cha Rua ký,
FdR 3987 C6-7.

15 Pages 141-150

▲torna in alto

15.1 Page 141

▲torna in alto
Người Bạn Du Hành của Don Bosco | 141
trong nửa đầu của cuộc hành trình Don Bosco tới Paris (mặc dù nó
chứa đựng những lỗi, chính yếu về những ngày mà chúng ta có thể
sẵn sàng bào chữa, nhưng tôi sẵn sàng tự ý chỉ ra). Sau khi nói về ba
việc chữa lành được gán cho Don Bosco như những phép lạ, lá thư
tiếp tục:
“... Những biến cố lạ lùng này khuấy lên nhiệt tình và tôn kính
rất lớn đối với con người Don Bosco, Bề trên và cha chúng ta,
đến nỗi đám người rất đông theo ngài khắp nơi; thậm chí họ
đi quá xa là dùng kéo cắt những miếng áo chùng thâm của
ngài để giữ như những di tích quý báu. Chúa nhật mồng 8
tháng Tư, Don Bosco ở tại Fourvière, một đền thờ nổi tiếng
được xây dựng trên một ngọn đồi gần Lyons, và nổi tiếng như
một đền thánh dâng kính Đức Nữ Trinh. Dân chúng đến xem
ngài và nhận phép lành của ngài đến nỗi nhà thờ mà nơi đó
các lễ nghi được cử hành và toàn vùng xung quanh chỉ toàn
người là người.
Nó có nghĩa rằng khi những việc phụng tự đã xong, Don Bosco
phải ban phép lành từ cửa sổ căn phòng của Giám đốc vì những
người đã không thể vào trong nhà thờ [không đúng: Don Bosco
ban phép lành trên khoảng đất dành cho đi bộ]. Thứ hai ngày
10 tháng Tư, một đám người đã đến nhà thờ xứ thánh Phanxicô
Salê ở Lyons để tham dự Thánh Lễ Don Bosco cử hành, để thấy
ngài và nhận phép lành của ngài. Họ đông đến nỗi để Don
Bosco có thể ra khỏi nhà thờ thì người ta phải đóng phòng áo
lại trước để đề phòng. Ngày tiếp sau, dân chúng còn đông hơn
nữa trong nhà xứ chính của thành phố đó, tên là Ainay, và lên
rước Mình Thánh; vì thế, cho Rước lễ mất nhiều giờ. Sau Thánh
Lễ, Don Bosco phải "chiến đấu" khi ngài chầm chậm rẽ lối tới
phòng thánh để cởi áo lễ. Mọi người muốn thấy ngài, chạm
ngài và nhận phép lành của ngài...
“Ngày 11 tháng Tư, đáp lại lời mời tử tế và nài nẵng, Don Bosco
ăn tối tại nơi cư trú của các chủng sinh Lyons. Có khoảng 200
người tụ họp lại với các bề trên và một số quan khách vị vọng.
Một trong những người này là Đức ông Guiol (là Giám đốc của

15.2 Page 142

▲torna in alto
142 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ban giáo sư Công giáo ở Lyons, ngài chiêu đãi Don Bosco tại
nhà riêng của mình). Các bề trên và chủng sinh tiếp đón Don
Bosco thật tuyệt vời và thân thiện. Họ cùng ăn chung trong một
nhà cơm lớn. Cuối bữa, họ sôi sục mong mỏi ngài nói đôi lời
đến nỗi Don Bosco đồng ý ngỏ lời với các chủng sinh, khi
khuyên nhủ và khích lệ họ. Ai nấy sốt sắng lắng nghe ngài; khi
ngài kết thúc, tất cả vỗ tay tán thưởng rầm trời. Don Bosco cũng
ghé thăm tu viện của Tu hội Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Khi ở Lyons, ngài cũng có hai bài huấn đức, trước hết cho những
thành viên của hội địa lý, rồi cho một cử tọa trong một hội
trường riêng. [Phần sự nghiệp của Boisard tại Guillotière].
“Thứ hai ngày 23 (sai: đó là thứ hai ngày 16 tháng Tư) ngài lên
đường từ Lyons tới Moulins; ngài hy vọng ít nhất được một
ngày nghỉ tại đó sau mọi hoạt động mệt nhọc. Cuối cùng ngài
tới Paris vào thứ ba ngày 25 (một lỗi nữa: đó là thứ tư, ngày 18
tháng Tư). Có nhiều người ganh đua nhau xem ai sẽ được vinh
dự tiếp đón ngài, hay, nếu dường như không có thể, ganh đua
về việc làm cho ngài hứa sẽ đến thăm họ, vì họ coi sự hiện diện
của ngài tại gia đình của mình đúng là một phúc lành của Chúa.
“Chúa nhật 29 tháng Tư, ngài huấn đức cho các Cộng Tác viên
Salêdiêng tại một trong những Thánh đường trung tâm và đẹp
nhất ở Paris, mà ta biết là nhà thờ thánh Madalena. Niềm hy
vọng của chúng ta là đây: Chúa sẽ độ lượng giúp ngài thu
hoạch những hoa trái vì phần rỗi đời đời.
“Ước chi Chúa giữ Bề trên thân yêu của chúng ta được khỏe
mạnh trong những hành trình này, và giữa quá nhiều cam kết
gây nhọc mệt. Công cuộc ngài buộc đảm trách thì quá đòi hỏi
đến nỗi cha thư ký viết rằng ngài cần ít là hai người nữa trợ
giúp.
Vì vậy anh em hãy cầu nguyện và hãy cầu nguyện hơn nữa cho
Don Bosco, đang khi cũng nhớ cầu nguyện cho anh em, v.v."
Vào lúc ký lá thư này, cha Rua có lẽ đã quyết định cùng bên Don
Bosco ở Paris để giúp thư ký của ngài, Camille de Barruel, người nói

15.3 Page 143

▲torna in alto
Người Bạn Du Hành của Don Bosco | 143
rằng mình bị các thư phủ kín. Thực thế, ngài đến nhà của bà Bá tước
Combaud vào sáng ngày 2 tháng Năm; khi trông thấy cả núi thư từ
trên bàn của Don Bosco, ngài biết chính xác điều mình phải làm. Sau
này ngài viết ngày đó cho giám đốc của Nguyện xá Torino: "Cha
không thể bắt đầu tưởng tượng cả núi lá thư ở đây, tất cả đang đợi
trả lời. Ngài cần không chỉ ba, nhưng là sáu hoặc bảy thư ký. May
thay có một tu sĩ tử tế luôn làm cho chính mình nên sẵn sàng trên
đường ngài đi."
Cha Rua không phóng đại. Bạn tìm được cùng nhận xét đó hai
ngày sau từ ngòi bút của một phóng viên thuộc tờ báo La Liberté.
Nhân dịp thăm Don Bosco ở Hotel de Combaud, ông được dẫn tới
một người mà ông gọi là "vị tổng thư ký của ngài, tên là cha Rua";
bạn có thể tưởng tượng, đó là một người Ý hoàn toàn." Nhà báo đó
viết: "Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng quá nhiều lá thư đến thế
được gởi đi trong một ngày. Cả đống thư trên bàn; còn sàn nhà la
liệt những lá thư đã bị xé. Giữa những mảnh rải rắc đó bạn có thể
thấy những sợi tóc dài, đẹp, cho biết rằng những lá thư từ bàn tay
của một phụ nữ. Vị tổng thư ký ghi chú trên mỗi lá thư dường như
đáng trả lời, rồi đặt nó vào đống thư trước mặt ngài. Quá nhiều thư
từ! Quá nhiều thư từ!”181 Cha Rua phải qua từng đêm một phân loại;
và chỗ nào cần, ngài trả lời những lá thư đó.
Cha Rua đã ở với Don Bosco cho đến khi ngài trở về Torino vào
cuối tháng Năm. Trong lúc đó, ngài thăm Lille với Don Bosco từ ngày
5 đến 14, trở lại Paris với ngài, và ở lại cho đến khi ra đi vào ngày
26. Tiếp theo là đi tới Reims; ở đó, giữa các chuyến xe lửa, Don Bosco
có buổi họp được sắp xếp trước trong một nhà thờ với Léon Harmel.
Rồi họ tiếp tục đi tới Dijon; họ ở lại đây từ 26 đến 29, phá vỡ hành
trình để ghé thăm nhanh gọn bá tước Maistre ở Dôle, ngày 29 và
30, đoạn rời Nước Pháp ngay chiều 30 để trở lại Nguyện xá ngày 31
khoảng 9 giờ sáng.
Chúng ta có một số lượng thông tin nào đó về tất cả những hoạt
động của Don Bosco suốt những tuần đó: những Thánh Lễ ngài dâng
181 “A travers champs” par X, trong La Liberté, Paris, 5 tháng Năm, 1883.

15.4 Page 144

▲torna in alto
144 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
trong các nhà thờ, tu viện và những nhà nguyện riêng, những huấn
đức, số lượng ngài nhận được trong của dâng cúng, những lần ngài
thăm các bệnh nhân trong bệnh viện, bệnh xá, những cử tọa của
ngài, những bữa tiệc chính thức với những bậc vị vọng chính quyền
và giáo hội, những bữa ăn lễ hội (tại Lille!), những chuyến tham quan
xen giữa từ Lille tới Roubaix hay từ Paris tới Versaille, v.v. Còn đối
với cha Rua, ngài luôn ở hậu cảnh.
Chính ngày họ trở lại Torino, cha Rua soạn một luân thư gởi cho
giám đốc các nhà; ngài viết như sau: "Nhờ Thiên Chúa trợ giúp, cha
thân yêu của chúng ta đã trở về an mạnh sau chuyến du hành dài 4
tháng hay hơn nữa: toàn bộ hành trình liên tục làm dân Pháp yêu
mến và kính trọng ngài và Tu hội Salêdiêng." Vì thế, cha Rua mời
gọi họ tạ ơn Thiên Chúa và Đức Nữ Trinh. Cùng với lá thư đó, ngài
cũng gởi một bản về giấc mơ Don Bosco đã có vào đêm ngày 18
tháng Giêng, trong đó cha Provera, người đã khuất, mang đến một
lời khuyên cho các Salêdiêng và học sinh của họ.182
Như chúng ta thấy, cha Rua vẫn luôn xóa mình hoàn toàn sau con
người Don Bosco. Dù sao, con người khiêm nhường này cũng tạo
nên một ấn tượng. Đây là cách thức một nhân chứng phân định ra
khi tận mắt thấy ngài trong suốt hành trình đó: "Cha Rua là nguyên
mẫu của một nhà ngoại giao Ý lỗi lạc: cao trung bình, nước da hơi
xanh, nét mặt sắc sảo và con mắt tinh tường. Ngài nói năng trầm
lặng, và nơi nụ cười lanh lợi bộc lộ nhiều tử tế. Chúng ta có thể
chuyện trò với ngài cả tiếng, rồi chúng ta bỏ đi, song đã bị nét duyên
dáng của ngài trong trò chuyện thu hút; nó cho thấy một sự hòa điệu
tuyệt vời giữa bản tính tốt lành của người Ý và một niềm thông cảm
sâu xa của trái tim con người. Ngài là một nhân vật nổi bật.”183
Ngày 27 tháng Năm, hai nhà du hành đã ở Carmel miền Dijon;
tại đây, Don Bosco cử hành Thánh Lễ, rồi đi tới bệnh xá để ban phép
lành cho Mẹ Bề trên đang ốm nặng. Vào năm 1933, một nữ tu
182 Giấc mơ này trong E. Ceria, MB XVI, p. 15-17.
183 “Don Bosco à Paris, par un Ancien Magistrat”, Paris, 1883, p. 61. Tôi nghĩ "viên
chức tư pháp địa phương trước kia" là Albert du Boys, ông sẽ xuất bản một tiểu sử
về Don Bosco năm kế tiếp.

15.5 Page 145

▲torna in alto
Người Bạn Du Hành của Don Bosco | 145
Carmelite làm chứng như sau: "Ngay cả sau khi xa cách tới 50 năm
tôi vẫn có thể nhìn thấy Don Bosco, trầm lặng và thủ tâm, dường
như ngài sống trong thế giới khác nhiều hơn trong thế giới này...
Còn cha Rua, dù khác nhau, tôi bắt gặp như một vị thánh, một Lu-y
Gonzaga khác.”184
Với Don Bosco tại Frohdorf
Giữa tháng Bảy năm đó, Don Bosco và cha Rua hành trình đột xuất
nhưng thật sự là gây kinh ngạc đến Áo để thăm Bá tước de
Chambord; Bá tước yêu sách hợp pháp cho ngai vàng của nước Pháp
với tước hiệu Henry V. Đặt hành trình này vào bối cảnh, chúng ta
chọn khởi đầu bài tường trình đã được cha Rua viết.185
“Đến cuối tháng Sáu 1883, Bá tước de Chambord ngã bệnh
nặng. Sau Thiên Chúa, tất cả những người Công giáo Pháp hy
vọng bá tước sẽ khôi phục trật tự trong những việc chính trị và
tôn giáo của quốc gia quảng đại đó. Tin tức ông lâm bệnh thì
không chính xác trước khi các lá thư và điện tín từ khắp nước
Pháp được gởi đến Don Bosco để cầu nguyện Đức Maria Phù
Hộ các Giáo Hữu cho bệnh nhân quý phái đó. Mỗi tuần các thư
loại này có đến cả hàng trăm.
Từ Frohsdorf, bông hoa của giới quý tộc Pháp vốn gầy dựng
lên một triều thần nhỏ, gởi những lá thư và điện tín để xin Don
Bosco cầu nguyện và xin người khác cầu nguyện, đang khi
không để cho ngài nghi ngờ rằng Bá tước đó hoàn toàn tin
tưởng vào sự che chở của Mẹ Phù Hộ khi Don Bosco và các
thiếu niên của ngài cầu nguyện cùng mẹ. Người ta thực hiện
mọi cố gắng để gởi những câu trả lời hứa cầu nguyện và hiệp
thông hầu hoàng tử được chữa lành, nếu điều đó hợp với thiện
ích cho linh hồn ngài. Rồi một ngày kia trong tháng Bảy, một
điện tín đến từ Neustadt, được Abbé Curé ký, với câu trả lời đã
được trả tiền trước gồm 20 chữ, hết lòng xin Don Bosco đến
184 Cf. E. Ceria, MB XVI, p. 275, bản văn và ghi chú.
185 “Viaggio di D. Bosco a Frohsdorf”, 6 trang viết tay, FdB 1349 C4-9. Tiếc rằng
tường trình này không đầy đủ.

15.6 Page 146

▲torna in alto
146 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Frohsdor, vì hoàng tử ốm yếu rất mong gặp ngài. Don Bosco
không khỏe rồi còn cả gánh nặng công việc. Vì vậy, ngài buộc
phải trả lời rằng cho đến lúc này không cho phép ngài hành
trình như thế. Điện tín lạc mất và cùng tin nhắn đó được lặp lại
bằng thư tín. Khi biết rằng Don Bosco không thể đến, hoàng tử
vẫn tiếp tục giữ hy vọng là xin Don Bosco ở với mình một vài
ngày.
Sau đó rất ngắn, Bá tước Joseph Du Bourg từ Toulouse, một
người nhiệt tình đối với Giáo hội và hoàng triều, nhận được
điện thoại từ hoàng tử mời ông đến thăm mình. Hơn nữa, tin
nhắn ấy còn chỉ thị cho ông đi qua Torino ở đó ông phải đón
Don Bosco và mang ngài theo với mình....”
Giuse du Bourg, thành viên của đảng hoàng triều và là bạn của
gia đình de Maistre, đã tiếp đãi Don Bosco ở Toulouse năm 1882.186
Ông quay lại Valdocco ngày 13 tháng Bảy, nhưng được tiếp đón lạnh
lùng. Sau này ông viết: "Vị linh mục tốt lành đó tiếp tôi với một nụ
cười chân chính, tử tế và hỏi về gia đình tôi. Sau khi trả lời, tôi giải
thích lý do cho hành trình cũng như việc thăm viếng của tôi. Không
chút ngập ngừng ngài mạnh mẽ nói 'không", từ đó tôi có thể thấy
rằng trong toàn bộ vấn đề, ngài đã quyết định vững chắc rồi. Ngài
tiếp tục bảo tôi rằng những chuyến du hành qua nước Pháp đã làm
hao mòn tất cả sức lực của mình; từ lúc trở về, ngài không khỏe tí
nào và không thể làm việc gì, và chân ngài vẫn hoàn toàn vô dụng.
Chúng chỉ như hai chiếc cẳng bằng nhựa vô hồn". Ngài tiếp tục: "Dù
sao chăng nữa, tôi làm gì ở cái lâu đài ấy? Nó không phải là chỗ cho
Don Bosco. Nếu Hoàng tử cần những lời cầu nguyện, tôi sẽ cầu
nguyện và xin toàn Tu hội của tôi cầu nguyện cho ngài. Nếu Thiên
Chúa muốn can thiệp vào sức khỏe của Hoàng tử ư, ngài sẽ làm. Còn
đối với Don Bosco, tất cả điều ngài có thể làm là cầu nguyện; mà ở
đây tại Torino, ngài có thể cầu nguyện tốt đẹp như ngài có thể làm
tại đó." Vị Bá tước sửng sốt, nhưng không chấp nhận thất bại. Ông
186 Từ đây, theo trình thuật chúng tôi được Bá tước này cống hiến trong tác phẩm
của ông, Les entretiens des princes à Frohsdorf, 1873 and 1883. La vérité et la légende,
Paris, Perrin & Co, 1910, p. 112-168.

15.7 Page 147

▲torna in alto
Người Bạn Du Hành của Don Bosco | 147
nói nhiều với Don Bosco, và đến nỗi ngài đồng ý du hành. Ngài sẽ
đi Frohsdorf với cha Rua.
Một sự khó chịu hơn nữa là bằng mọi giá họ phải lên đường vào
chính đêm đó. Don Bosco đành chấp nhận. Chuyến du hành trước
tiên đưa họ xuyên qua phía bắc Ý, rồi vào Áo. Thêm vào những khó
nhọc của họ, sự chậm trễ vào sáng ngày 14 tháng Bảy khiến lỡ
chuyến chuyển tiếp tại Mestre, một trạm gần Venice; họ đến muộn
45 phút cho chuyến xe lửa tốc hành từ Venice. Những người du hành
không có chọn lựa nào ngoài việc lấy một xe lửa địa phương với
những trạm dừng không ngớt, điều ấy có nghĩa rằng họ mất 24 giờ
để tới Wiener-Neustadt rất sớm ngày Chúa nhật 15 tháng Bảy, tổng
cộng mất hai đêm và một ngày trên xe lửa.
Tuy nhiên, Joseph du Bourg viết: "thời gian qua rất nhanh, nhờ có
được những cuộc trò chuyện thú vị với hai người du hành của mình.
Trong những lúc dừng lại lâu, tôi cố để làm cho họ ăn uống chút gì,
nhưng vô ích. Vào hai giờ ban chiều, rốt cuộc cha Rua dùng hai trái
trứng chiên vì lịch sự. Đang khi đó, Don Bosco, một người ốm yếu,
xoa bóp đôi chân như thể bằng nhựa của mình, đi đi lại lại trên sàn
xe lửa, tay chắp sau lưng. Áo chùng thâm của ngài khiến hành khách
khác chú ý, vì khắp nước Áo, linh mục mặc một áo khoác dài và đội
mũ đen cao khi ra khỏi nhà. Nó không làm tôi ngạc nhiên rằng, với
lối sống của họ như người Spartan, những vị tu sĩ đáng kính này gầy
còm như một cái cào. Nhưng họ là những vị thánh, và điều đó làm
nên mọi sự! Đối với tôi, những lời cầu nguyện của Don Bosco làm
cho tôi một điều tốt nào đó: tôi ăn như hổ đói vậy.”187
Một chiếc xe đón ba nhà du hành tại trạm Wiener-Stadt và mau
chóng đưa họ đến lâu đài Frohsdorf; nơi đây, vị hoàng tử tiếp đón
Don Bosco bên giường bệnh ngay sau khi ngài cử hành Thánh Lễ.
Một khi ngài rời khỏi căn phòng, Hoàng tử đó gọi Du Bourg: "Bạn
thân mến, tôi nói này, tôi được chữa lành rồi. Ngài không tiết lộ,
nhưng tôi biết; lần này tôi đã khỏe lại rồi." Du Bourg thật ngây ngất.
Ông tiếp: "ngài là một vị thánh. Tôi rất hạnh phúc để chăm sóc ngài.
187 Joseph du Bourg, op. cit, p. 131-132.

15.8 Page 148

▲torna in alto
148 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Tôi muốn anh liệu sao sắp xếp cho hai vị tu sĩ này ngồi tại bàn ăn
của vợ tôi nhé."188 Vì ngày 15 tháng Bảy là ngày lễ Thánh Henry,
Thánh Quan thầy của Bá tước de Chambord, vùng lân cận của ông
được phép thu gom mọi sự và dâng những ước nguyện. Vị tuyên úy
của lâu đài, nhân dịp này đã chọn để dừng cuộc rước, đã để lại một
bản bình luận được vị Bá tước viết. Ta bỏ quên ở đây thì thật đáng
tiếc: "Tôi muốn thăm ông trong những ngày này, nhưng tôi quá
mệt." Khi nói đến Don Bosco và người bạn đường của ngài, cha Rua,
ông thêm: "Don Bosco hiểu rằng ngài không phải là người đó. Đó là
một người khác. Vì tôi không hiểu điều ông nói, ông lặp lại: Đúng
thế: ngài không phải là người làm những phép lạ; chính là người
đồng hành của ngài; ngài cũng là một vị thánh.”189
Suốt hai ngày đó, Don Bosco và cha Rua ở với ông, Bá tước
Chamborg xem ra có chiều hướng tốt hơn. Khi Don Bosco tạm biệt,
ông hứa với ngài sẽ thăm viếng thánh đường Mẹ Phù Hộ nếu sức
khỏe tiếp tục cải thiện. Hai nhà du hành thánh thiện rời Frohsdorf
ngày 17 tháng Bảy, và lần này họ may mắn bắt được chuyến xe tốc
hành mà chẳng bao lâu đưa họ về lại Torino.
Như một phần kết thúc thích hợp cho hành trình lịch sử này, cha
Rua không trì hoãn viết ngay cho Bà Bá tước Marie-Thérèse về Don
Bosco, cám ơn bà và chồng vì sự hiếu khách của họ. Cùng lúc ngài
gom lại và gởi đi những lá thư từ các học sinh và trẻ tập nghề dâng
những lời cầu nguyện sốt sắng cho chồng bà sớm được bình phục
sức khỏe. Rất cảm động vì điều này, bà Bá tước trả lời như sau:
“Cha Rua rất đáng kính, lá thư của cha đi thẳng vào tâm hồn tôi.
Tôi đọc nó ngay cho người chồng thân yêu, ốm bệnh của tôi; nó
khiến ông rất cảm động. Cả hai chúng tôi muốn cám ơn cha và Don
Bosco về những lời rất tử tế của cha. Đó thật là một nguồn an ủi cho
chúng tôi khi nhận phép lành của ngài, và biết rằng biết bao linh
hồn trong sạch và vô tội đang cầu nguyện cho người chồng bệnh tật
thương yêu của tôi. Cám ơn Chúa, mỗi ngày chúng tôi thấy có sự
188 Ibidem, p. 146-147
189 Lá thư từ A. Curé gởi cho Mgr Vannutelli, sứ thần ở Vienna, 17 tháng Bảy năm
1883, được E. Ceria biên soạn, MB XVI, p. 573

15.9 Page 149

▲torna in alto
Người Bạn Du Hành của Don Bosco | 149
thuyên giảm dần dần, dù chậm chạp; dẫu những cơn bệnh nhỏ vẫn
còn xảy ra, song ít thường xuyên hơn; tất cả những điều đó làm
chúng tôi có lý để hy vọng được chữa lành hoàn toàn vốn như Don
Bosco nói, chúng tôi cần phải kiên nhẫn. Cả hai chúng tôi cám ơn
cha vì những lá thư, rất chân thành và quảng đại, được những thiếu
niên của Nguyện xá của Don Bosco, những học sinh và trẻ tập nghề,
gởi đến. Khi tôi viết cho cha, chồng tôi yêu cầu tôi khẩn khoản xin
Don Bosco yêu dấu tiếp tục cầu nguyện cho ông.
“Cha Rua đáng kính, chúng tôi sẽ luôn giữ kỷ niệm thiết tha về hai
ngày mà Don Bosco và chính cha đã ở với chúng tôi. Tôi rất vui sướng
vì cha trở về nhà suôn sẻ. Nó không làm tôi ngạc nhiên, bởi vì những
tâm hồn tốt lành và xứng đáng như quý cha đáng được các Thiên
thần Bản mệnh che chở đặc biệt.
“Tôi kết thư khi chúng tôi lại nói lên lòng biết ơn và tình cảm chân
thành dành cho Don Bosco và chính cha. Cùng với những điều này,
từ đáy tim, tôi vẫn là
Bà Bá tước Chombord, Marie-Thérèse,
Frohsdorf, ngày 29 tháng Bảy 1883
Chồng tôi buộc tôi gởi một lời chúc rất đặc biệt và chân thành đến cha.”190
190 Lá thư được E. Ceria biên soạn, MB XVI, p. 348. Tình trạng sức khỏe của Bá
tước chỉ cải thiện tạm thời. Ông trở nặng hơn từ ngày 5 tháng Tám và chết ngày
24 tháng Tám năm 1883.

15.10 Page 150

▲torna in alto
150 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
12
TỔNG ĐẠI DIỆN của Don Bosco
Đức Lêô XIII can thiệp
Năm 1884 trôi qua bắt đầu tai họa đối với Don Bosco, ngài yếu
dần do những cuộc du hành của năm trước. Vào tuổi 68, xác đáng,
ngài không phải là một người già, nhưng có chứng cớ rõ ràng rằng
sức khỏe của ngài đã tới tận đáy rồi. Nhọc mệt, những vấn đề và đau
khổ luân lý đã làm ngài sa sút. Theo bác sĩ của ngài, "từ khoảng năm
1880 trở đi, thân xác Don Bosco hầu như đã thành một tủ thuốc di
động.”191
Sau điểm tâm ngày 31 tháng Giêng, ngài đến tập viện tại San
Benigno để cử hành lễ Thánh Quan thầy Phanxicô Salê. Chính ở đó
ngài mệt nhọc tột độ khiến cha tập sư, Giulio Barbaris, lo lắng rất
nhiều; ngài nói cho chúng ta rằng khi huấn từ tối ngày 1 tháng Hai,
ngài khiến các tập sinh chú ý, khi thêm rằng đã đến lúc dường như
phải làm một sự cam kết lạ thường với Thiên Chúa để giữ cho con
người thánh thiện này sống. Đáp lại điều này, dường như Lu-y
Gamerro, một thanh niên cao lớn 24 tuổi, đã dâng mạng sống mình
cho Don Bosco. Cha Barberis nói, sự hy sinh của cậu được chấp nhận,
vì cậu qua đời sau đó ít ngày.192 Trong tháng đó, sau này Don Bosco
lại chịu cơn bệnh cuống phổi tấn công nặng nề và họ sợ cho mạng
sống của ngài. Ít lâu sau ngài lại hồi phục, nhưng chẳng mấy chốc,
chính Đức Giáo Hoàng bắt đầu lo lắng về tình trạng của ngài.
Ngày 9 tháng Năm, năm 1884, cuối cùng Don Bosco được Đức
Lêô XIII ban cho cuộc triều yết, sau nhiều ngày mong chờ. Cha
Lemoyne ở với ngài và ngài hy vọng được ban cho những đặc ân vốn
sẽ làm cho việc cai quản Tu hội Salêdiêng thành đúng thể thức. Đức
191 G. Albertotti, Chi era Don Bosco?, Gênes, Pala, 1934, p. 83.
192 Documenti XXVII, p. 33.

16 Pages 151-160

▲torna in alto

16.1 Page 151

▲torna in alto
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 151
Giáo Hoàng giữ sự cởi mở quen làm, thậm chí tỏ ra nồng ấm hơn
với ngài; tuy thế, Đức Giáo Hoàng sửng sốt vì ngài mệt nhọc tột độ.
Lập tức ngài bắt đầu mạnh mẽ thúc đẩy Don Bosco phải nghỉ ngơi
và để cho người khác làm việc đó, hầu ngài có thể lo cho chính mình.
"Con không khỏe rồi; con cần nghỉ và được chăm sóc. Con cần một
ai đó bên cạnh con; một ai có thể nắm giữ những truyền thống của
con, và giữ cho sống động nhiều điều vốn không được viết ra.”193
Hồng y Nina, Vị hồng y bảo trợ những người Salêdiêng, cũng nghĩ
như thế. Đức Giáo Hoàng nói cho ngài: "Don Bosco cố làm quá
nhiều." Vì thế, vào năm 1884, trong tâm trí của nhiều vị thẩm quyền
trong Giáo hội, Don Bosco không còn có thể một mình điều khiển
như vị Tổng quyền của những người Salêdiêng nữa. Ngài có thể chết
bất kỳ lúc nào. Điều gì sẽ xảy ra cho Tu hội ngài đã thành lập? Liệu
ngài đã không liều vì đồng nhất chặt chẽ với nó sao? Nghĩ đến việc
ngài nghỉ hưu, ít nhất là phần nào đó, và về một người kế vị quả là
khôn ngoan.
Vào tháng Chín, nguy cơ ấy dường như cận kề. Vào ngày 14 cuộc
tĩnh tâm đang tiến hành tại Valsalice, và Don Bosco phải cấp tốc trở
về Valdocco, vì chân ngài sưng vù lên, buộc ngài phải nằm liên tục.
Thư ký của ngài, cha Lemoyne, nghĩ nó là sự bộc phát của sự nhiễm
trùng da do vi khuẩn, nhưng sự sưng vù ấy có thể có những nguyên
do khác nữa ấy là anaemia (thiếu máu), suy tim hay căn bệnh phổi
nghiêm trọng. Trong bất kỳ trường hợp nào, những kẻ chung quanh
ngài nghĩ rằng họ đang mất ngài. Ngày 19 họp Tu Nghị Bề trên, do
cha Rua chủ tọa, đã không mất giờ khi thảo luận không chỉ về cái
chết sắp tới của ngài, mà cả đến đám tang và chôn cất nữa.194 Theo
biên bản của cuộc họp, "cha Rua nói rằng, bởi vì Don Bosco ốm yếu,
chúng ta không thể không xét đến một hậu quả buồn thảm có thể
xảy ra. Nghĩ đến đám tang có thể xảy ra và tổ chức nó ra sao cũng
như nơi chôn cất quả thật thích hợp. Chúng ta có thể xin phép chính
193 Từ Verbale del Capitolo superiore, 24 October 1884, FdB 1881 D1-3.
194 The Verbali del Capitolo Superiore từ ngày 30 tháng Tám, 1884 đến ngày 23
tháng Hai có thể được tìm thấy với những ngày tương ứng của chúng trong FdB
1881.

16.2 Page 152

▲torna in alto
152 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
quyền để chôn ngài trong nhà thờ Nguyện xá.” Còn đối với chính
Don Bosco, tâm trí ngài rõ ràng nghĩ tới cái chết gần kề của mình.
Ngài đã bắt đầu viết chúc thư thiêng liêng của mình vào năm 1884,
nhưng chính trong tháng Chín, ngài hoàn tất phần hai, trong đó ngài
thanh thản nói đến cái chết của mình.195
Chính trong ít tuần này, bị buồn phiền vì bóng tối của những điềm
gở đau thương, đến nỗi Đức ông Đaminh Jacobini, thư ký của Bộ
Truyền Bá Đức tin, viết nhân danh Đức Lêô XIII cho Hồng y Tổng
Giám mục của Torino, Gaetano Alimonda, ngược với vị tiền nhiệm,
là một người bạn tốt của Don Bosco. Phần thứ nhất của lá thư liên
quan đến cha Cagliero, phần thứ hai đến việc Don Bosco nghỉ hưu
và việc chỉ định một người kế vị. Nhờ Hồng y Alimonda ân cần giúp
đỡ, Đức Giáo hoàng muốn là, vì lợi ích của Tu hội, ta nên yêu cầu
Don Bosco chỉ định hoặc người kế vị - có nghĩa là nhường địa vị của
chính ngài như Bề Trên Tổng quyền của những người Salêdiêng -
hoặc một người đại diện có quyền kế vị. Đây là bản dịch của phần
quan trọng đó:
Đức Thánh Cha truyền lệnh con nhân dịp này phải viết cho Đức
Hồng y về một đề tài rất quan trọng. Ngài thấy rằng ngày hôm
đó Don Bosco đã rất suy yếu và ngài sợ cho tương lai của Tu
hội đó. Vì thế, ngài muốn Đức Hồng y, dùng sự tinh tế của mình
như lối tiếp cận tốt nhất, để nói cho Don Bosco và thuyết phục
ngài chỉ định người mà ngài nghĩ là thích hợp nhất để kế vị
ngài hay có tước vị đại diện với quyền kế vị. Trong hai trường
hợp, Đức Thánh Cha sẽ dành cho chính mình sự chỉ định, theo
như ngài phán đoán là khôn ngoan nhất. Hơn nữa, ngài muốn
rằng Đức Hồng y phải hành động ngay về vấn đề này, vốn có
hệ quả quan trọng cho phần ích của Tu hội đó.196
Dường như rất có thể là Đức Hồng y đã đến thăm Don Bosco vào
ngày 10 tháng Mười, ngày nhận được tin nhắn này. Dù sao chăng
195 Xem F. Motto, Memorie dal 1841 al 1884-5-6 pel Sac. Gio. Bosco a’ suoi figliuoli
salesiani, Roma, LAS, 1985.
196 Documenti XXVIII, p. 450, ở đó có một tài liệu được đề ngày 9 tháng Mười,
1884.

16.3 Page 153

▲torna in alto
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 153
nữa, khi ban Thượng Cố vấn họp ngày 23 tháng Mười, Don Bosco
chia sẻ những ước muốn của Đức Lêô XIII với các hội viên, và hỏi họ
tiến hành ra sao. Hội nghị xin chính ngài chỉ định vị điều hành/kế vị
và gởi tên người đó cho Đức Giáo Hoàng, và họ chắc rằng Đức Giáo
Hoàng sẽ lập tức phê chuẩn quyết định của ngài. Don Bosco chọn
Micae Rua; tuy nhiên, ngài không trở thành Bề trên Tổng quyền
ngay, nhưng chỉ là vị đại diện của ngài. Vì Don Bosco không dự tính
nghỉ hưu hoàn toàn, ngài ưa chuộng giải đáp thứ hai của Đức Lêô
XIII. Dường như trong trí lòng ngài không có tên nào khác để kế vị
ngài như thủ lãnh của Tu hội Salêdiêng. Ngài gởi câu trả lời đến
Hồng y Alimonda, và qua Hồng y bảo trợ Nina ân cần giúp đỡ,
chuyển nó đến Đức Giáo Hoàng ngày 27 tháng Mười Một sau đó.197
Trong khi đó, Đức Lêô XIII đã diễn tả những tình cảm của mình
cho cha Cagliero nhân dịp triều yết dành cho ngài ngày 5 tháng Mười
Một. Ngài đã đặt Cagliero làm Giám mục và chỉ định ngài là Đại diện
Tông Tòa ở vùng Bắc và Trung Patagonia, và sau khi nói cho ngài về
sứ vụ của mình, ngài nói ngài cảm thấy quan tâm về điều sẽ xảy ra
cho công cuộc của Don Bosco khi Đấng Sáng lập qua đời. Lắc đầu,
Ngài diễn đạt: "Don Bosco đã già cả. Phải nỗ lực hết sức nắm bắt
tinh thần của ngài hầu giữ cho sống động và chuyển giao nó cho
người khác cách nguyên vẹn. Không có điều này, bước tiến của Tu
hội sẽ mau chóng dừng lại. Đừng để mất giờ. Bao lâu Đấng Sáng lập
còn sống, biết tinh thần chân chính của Tu hội thì dễ dàng hơn. Đức
Giáo Hoàng kết luận: "điều này đòi phải có một vị đại diện có khả
năng".
Tước vị "Tổng Đại diện" trở thành chính thức
Suốt năm 1885, cha Rua tiếp tục thực thi vai trò của mình là vị
Phó Tổng Bề trên, hàng tháng gởi thư cho các Giám đốc của những
nhà khác nhau. Ngài tỏ ra quan tâm rất đặc biệt đến những Giám
đốc mới ở Paris, Charles Bellamy, vốn nhận không dưới 16 lá thư từ
ngài trong năm đó.198 Trong những lá thư của mình, cha đề nghị
197 Những cắt nghĩa trong MB XVII, p. 275-280.
198 FdR 3853 C5 à 3854 B4, i.e. 48 trang.

16.4 Page 154

▲torna in alto
154 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
những cuộc tĩnh tâm cho học sinh và chuyển tin tức về Don Bosco
hay những hành trình truyền giáo, v.v. Tháng Tư, Don Bosco sai ngài
như vị kinh lược ngoại thường các nhà Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù
Hộ ở Trung Ý và Sicily. Mọi nơi ngài được tiếp đón nồng ấm. Trái
với những cuộc thăm viếng ngài thực hiện giữa năm 1874 và 1876
cho các nhà ở Piedmont và Liguria, ngài không quan tâm đến những
chi tiết về tài sản - điều đó thuộc thẩm quyền của Giám tỉnh. Như
chúng ta thấy từ những ghi chú ngài để lại khi thăm viếng những
trung tâm ở Spezia và Lucca, trách nhiệm chính của ngài là bảo đảm
rằng mỗi cơ sở chu toàn vai trò của mình như một chỗ giáo dục
những em nội trú lẫn những học sinh ban ngày.199
Việc quyết định thời gian để thăm viếng Sicily thì 'xui xẻo' nhất.
Việc các Salêdiêng được kỳ vọng tới Catania làm bùng nổ lên phe
chống giáo sĩ địa phương. Tờ báo La Gazzetta di Catania chộp lấy một
câu chuyện mới đây để đặt công chúng vào thế cảnh giác. Một bé
gái được chấp nhận do các nữ tu Salêdiêng vào trong nhà họ tại
Bronte, rồi được gởi tiếp tới nhà mẹ tại Nizza Monferrato, bị xoay ra
không ổn về tâm thần, và theo dõi một thời gian ngắn trong bệnh
viện tâm thần ở Torino, cô đã được gởi về lại gia đình. Bồn chồn do
những kinh nghiệm của mình, cô đã ngu xuẩn bắt đầu truyền bá
những chuyện hoang tưởng tinh quái, mà một nhà báo từ La Gazzetta
lấy làm trọng, biến chúng thành một bi kịch của những nữ tu thật sự
với một cốt chuyện đầy tưởng tượng mang tính lăng nhục. Nó nhại
"những nữ tử của Don Bosco" và công kích lại những người đã trao
phó trường nữ sinh của Bronte cho những "những kẻ bạo tàn dưới
lốt chiên ngoan". Sự khuấy động đến tột đỉnh khi cha Rua đến. Ngài
hành sử bình thản, thu nhặt những thông tin thích đáng và soạn một
lời minh tỏ có chứng cớ tài liệu rõ ràng, để tờ Gazzetta chú ý. Mặc
dù vậy, tờ báo tiếp tục làm cho chiến dịch của mình không giảm bớt.
Nó xuất bản tờ tường trình của cha Rua trong một tập san giáo sĩ
L’Amico della Verità ngày 27 tháng Tư cho dân chúng ở Catania học
199 Những ghi chú được cha Braido biên soạn, «Don Michele Rua primo autodidatta
Visitatore Salesiano», RSS 1990, p. 167-168.

16.5 Page 155

▲torna in alto
biết sự thật.200
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 155
Cha Rua trở lại Torino với những tình cảm lẫn lộn về công việc tại
Magliano Sabina, không xa Rôma. Tu Nghị Bề trên đối diện vấn đề
này trong buổi họp của mình ngày 12 tháng Sáu 1885. Don Bosco
muốn những người Salêdiêng rút ra; cha Rua và những thành viên
ban cố vấn theo một quan điểm khác, nhìn trước những phản ứng
tiêu cực về phía các vị thẩm quyền Rôma. Một sự mâu thuẫn hiển
nhiên. Don Bosco cuối cùng nói: "Các con muốn làm gì thì làm",
nhưng ngài tiên đoán "một tai ương" có thể tới. Ít năm sau những
lời ngài nói thành sự thật khi toàn bộ các Salêdiêng dọn đi khỏi đó.
Như chúng ta có thể thấy, suốt những tháng này Don Bosco luôn
hiện diện, dù biết rõ chính ngài không còn có thể thực thi những
trách nhiệm của mình nữa. Như người ta nói nếu cha Rua đã đảm
trách, ngài có thể đơn giản hiến mình để tìm kiếm những quỹ từ các
ân nhân, hoặc bằng thư từ hay bằng những cuộc thăm viếng cá
nhân.201 Dù sao đi nữa, ngài dành giờ để cống hiến cho vị Phó Bề
trên của mình tước hiệu chính thức là Tổng Đại diện. Hẳn nhiên, nó
làm ngài đau đớn khi tưởng nghĩ bất kỳ ai khác hơn là chính mình
như nhân vật chủ chốt của Tu hội mình. Liệu nhân vật này, rất khác
biệt với ngài, lại không tạo cho nó một hình ảnh khác biệt hay sao?
Cuối cùng, mãi cho đến ngày 24 tháng Chín năm 1885 ngài mới lấy
bước quyết định này. Dịp đó là một buổi họp làm nên lịch sử
(historic) của Tu Nghị Bề trên, khi tuân theo bước tiến hành theo giáo
luật và cha Rua được tuyên bố là Đại diện và kế vị ngài.
Ngày đó, Don Bosco phải tuyên bố hai điều.202 Tuyên bố thứ nhất
liên quan đến chính mình, nay con người mà ngài thường là chỉ còn
một nửa thôi, và cần một sự thay thế. Tuyên bố thứ hai liên quan
200 Bài viết này, được ký «Priest Michel Rua, general procurator of the Salesian
Society» được sao chép lại trong E. Ceria, MB XVII, p. 823-824.
201 Buổi họp của Hôi đồng Bề trên, trong Verbali del Capitolo Superiore, 22 tháng
Sáu năm 1885. Biên bản của Tu Nghị Bề trên cho thời kỳ tháng Ba, 1885-tháng
2, 1888 trong FdB 1882-1883
202 Những dòng sau đây quy chiếu đến biên bản của buỏi họp này trong Verbali
del Capitolo Superiore, 24 tháng Chín năm 1885.

16.6 Page 156

▲torna in alto
156 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đến vị Tổng Đại diện, vốn sẽ đảm trách tất cả các trách nhiệm chính
ngài đã thực thi cho đến lúc đó, và tất cả đều đóng góp vào sự hưng
thịnh của Tu hội. Dù vậy Don Bosco thâm tín rằng trong tất cả những
vấn đề ngài sẵn lòng tìm kiếm những khóe nhìn của ngài và sẽ làm
việc chỉ vì sự thiện của Tu hội Salêdiêng, hầu lúc ngài chết không có
gì sẽ bị thay đổi. Vị Đại diện phải lo sao cho những truyền thống, rất
quý báu của Tu hội, được nguyên vẹn. Chính Đức Thánh Cha đã
mạnh mẽ khuyên dạy thế. Don Bosco chỉ ra: các truyền thống thì
không giống như các Quy luật. Chúng dạy chúng ta làm thế nào để
giải thích và đem chúng ra thực hành. Phải làm mọi sự để bảo đảm
và chuyển giao những truyền thống đó một cách toàn vẹn cho những
người sẽ đến sau ngài, sau khi ngài chết.
Don Bosco tiếp tục: "Vị Tổng Đại diện của cha trong Tu hội sẽ là
cha Micae Rua. Đức Thánh Cha viết cho cha qua Đức ông Jacobini
trước tiên cũng nghĩ như thế. Vì ngài muốn giúp đỡ Don Bosco trong
mọi cách thức có thể được, ngài xin cha, theo ý cha, ai là người sẽ
thay thế cha. Cha trả lời cha chọn cha Rua vì ngài đã là một trong
những người đầu tiên trở thành phần tử của Tu hội, đang thực thi
điều này cách trách nhiệm suốt vài năm qua, và sự chỉ định của ngài
phải được mọi hội viên tiếp nhận cách tốt đẹp. Qua Hồng y
Alimonda, Đức Thánh Cha mới đây trả lời chấp nhận sự chọn lựa của
cha. Từ nay trở đi, cha Rua sẽ thế chỗ cha hoàn toàn. Điều chính cha
không thể làm, ngài sẽ làm. Ngài có đủ mọi năng quyền của Bề Trên
Cả: chấp nhận các hội viên, trao áo dòng, các ủy viên, v.v. Tuy nhiên,
sự chỉ định này đòi buộc rằng ngài phải ở sát cạnh cha; vì thế ngài
phải bỏ vai trò Phó Bề trên của Tu hội. Vậy, dùng đến năng quyền
được ban cho cha trong Quy luật, cha bổ nhiệm cha Celestinô
Durando, đang là cố vấn lo các trường học làm Phó Bề trên của Tu
hội..."
Don Bosco kết thúc bằng cách xin thư ký của Hội đồng soạn thảo
một thư luân lưu để thông tri cho mọi nhà trong Tu hội về việc chỉ
định cha Rua làm Tổng Đại diện. Thư luân lưu đó được in và đề ngày
mồng 8 (sắp tới) tháng Mười Hai,203 và chính Don Bosco đảm trách
203 Thư luân lưu được sao chép lại trong MB XVII, p. 181-182.

16.7 Page 157

▲torna in alto
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 157
việc phân phát đó.
Ở Nguyện xá, Don Bosco làm cho việc chỉ định đó thành một biến
cố long trọng vào ngày 8 tháng 12. Ngài chắc chắn có mặt tại bàn
ăn trong phòng ăn cộng thể, một điều mà ngài đã lâu rồi không thực
hành vì lên xuống cầu thang khó khăn. Đối với ngài cũng thật hiếm
khi ngài chủ sự chầu Thánh Thể, nhưng hôm đó ngài đã chủ sự. Khi
ngài chầm chậm bước từ phòng thánh ra, những người trong cộng
đoàn đã đứng lên ghế để nhìn thấy ngài. Buổi tối đó ngài huấn đức
cho các Salêdiêng trong chỗ của ca đoàn tại Thánh đường Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu, như ngài quen làm mỗi năm vào ngày đó. Trước
khi nói, ngài xin cha Francesia, Giám tỉnh của những nhà Piedmont
đọc thư luân lưu công bố sự chỉ định. Ngài không bình luận gì thêm,
nhưng ca ngợi sự tốt lành của Mẹ, Đấng chúc phúc và che chở toàn
thể sứ mệnh Salêdiêng. Ngài nhìn lại những thăng trầm của Nguyện
xá từ thời thành lập. Sự đối nghịch giữa quá khứ và hiện tại nêu bật
con đường dài họ đã trải qua và báo trước tương lai tốt đẹp.
Ngày 9 tháng Mười Hai, thư luân lưu được gởi đến ba Giám tỉnh
khác ở Âu châu và hai ở Châu Mỹ. Trong mắt của toàn Gia đình
Salêdiêng, cha Micae Rua nay là Vị Tổng Đại diện hợp pháp của Don
Bosco và họ tin ngài là người kế vị được bổ nhiệm của Don Bosco.
Sự chỉ định cha Rua không chỉ được ai nấy tán thành tiếp nhận,
nhưng còn với sự nhiệt tình thật sự. Bằng chứng về điều này ta tìm
thấy nơi số lá thư từ Pháp và châu Mỹ gởi về và được giữ trong công
hàm Salêdiêng. Chúng ta trích dẫn như một thí dụ phản ứng của
Charles Bellamy ở Paris, được đề ngày 15 tháng Mười Hai 1885.
Ngài viết cho cha Rua như sau: "Lễ Mẹ Vô Nhiễm đã luôn là ngày
của niềm vui cho Tu hội chúng ta. Năm nay Mẹ tốt lành của chúng
ta đã tặng cho chúng con một tin vui mà tất cả các người Salêdiêng
đã nhận như món quà quý báu nhất, thân thiết nhất và được ước ao
nhất: Con muốn nói đến cha được chỉ định chính thức vào vai trò đòi
hỏi nhưng ngọt ngào như người cha của Tu hội chúng ta. Ồ! chúng
con đã tạ ơn Đức Mẹ biết bao vì điều này và chúng con đã hứa hết
tâm đứng về phía cha, như đứng về phía Don Bosco rất thân yêu của
chúng ta, những người con vâng phục và nhiệt thành của cha!"

16.8 Page 158

▲torna in alto
158 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Chúng ta có thể trích dẫn những người Salêdiêng ở Ý, khởi đi với
những người bạn đồng trang của ngài trước kia; trích dẫn Gioan
Cagliero, vị hồng y tương lai là đủ rồi. Những tình cảm của ngài diễn
đạt tình cảm của những người khác. "Tôi là bạn của ngài như thiếu
niên, như một tư giáo và như một linh mục, rồi như các Giám đốc và
thành viên của Tu Nghị Bề trên, và tôi có thể xác minh rằng vào mỗi
giai đoạn đời sống, ngài luôn là kẻ thứ nhất giữa những người bằng
nhau [primus inter pares], thứ nhất trong nhân đức, thứ nhất trong
công việc, thứ nhất trong học hành và hy sinh, cũng như ngài luôn
là thứ nhất trong tình yêu thánh thiện và mạnh mẽ dành cho Don
Bosco và cho giới trẻ, vì họ ngài không là gì khác hơn sự nhiệt thành,
chăm sóc và tình yêu hiền phụ.”204
Cha Rua được 48 tuổi. Hai mươi năm đã qua như vị Phó Bề trên
đã in dấu lên ngài với một vẻ nghiêm khắc, không như một đặc điểm
tự nhiên, nhưng như một điều bị đòi buộc do loại trách nhiệm cố
hữu thuộc vai trò đó. Một khi trở thành vị Đại diện của Don Bosco,
ngài vất bỏ hết điều đó và nỗ lực hết sức tái tạo nơi chính mình tình
cha của vị thánh đó. Sự thay đổi thật hiển nhiên. Các hội viên vốn
kính trọng ngài nhiều nay tỏ cho ngài tình yêu con thảo. Cha Ceria,
một chứng nhân tận mắt từ những thời gian xa xôi, có lời bình giải
thích đáng trong cuốn tiểu sử ngài viết về cha Rua: "Bất kỳ ai đã
không sống qua những năm đó không thể hiểu đầy đủ điều chúng
tôi đang nói ở đây, bởi vì họ không kinh nghiệm thực tại về một Don
Bosco sống động đối với những Salêdiêng đó.”205 Này đây chúng tôi
có nó.
Với Don Bosco ở Tây Ban Nha
Ngày 1 tháng Ba năm 1886, thư ký của Don Bosco, Charles
Viglietti ghi chú trong sử biên niên của mình: "Hôm nay Don Bosco
nói: 'đói quá, sói cũng phải chui khỏi hang' và cùng cách ấy cha cảm
thấy bối rối, hom hem và uể oải, để đảm trách một hành trình nữa
204 Những ghi nhận được A. Amadei trích dẫn I, p. 348. Chúng hơn kém tương
ứng từng lời với lời cung khai của Hồng y Cagliero về những nhân đức của Don
Rua trong tiến trình phong chân phước.
205 E. Ceria, Vita, p. 120.

16.9 Page 159

▲torna in alto
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 159
và có lẽ phải đi xa tới tận Tây Ban Nha. Chúng ta đã coi xem khi nào
khởi hành". Như thế, vị thánh đã nhắm đến Tây Ban Nha, ở đó ngài
đã có hai cơ sở (Utrera ở Andalusia và Sarria ở Catalonia) và ở đó
ngài có thể trông mong những ân nhân quảng đại.206
Sự thật là đối với những người chung quanh Don Bosco, căn cứ
trên tình trạng ngài kiệt sức và nhiều đau ốm, hành trình được dự
phóng này là không thể tin được. Tuy nhiên, ngay sau trưa ngày 12
tháng Ba, được thư ký Viglietti tháp tùng, ngài rời Torino và tới
Riviera ở Ý và nhà Salêdiêng ở Sampierdarena, gần Genoa. Cuộc
hành trình sẽ chia thành từng chặng, với những trạm dừng dài ngắn
khác nhau trong chuyến đi mà từ đó ngài có thể quyên góp tiền cho
công cuộc của mình và cho Thánh đường và nhà trọ Thánh Tâm (Sacro
Cuore) ở Rôma. Theo lộ trình dọc theo Riviera, các nhà du hành của
chúng ta ở tại Varazze ngày 16 và Alasio ngày 17, từ đó họ ngang
qua Pháp và ở Nice vào ngày 20, Cannes ngày 27 và rồi ở Toulon
ngày 29, và Marseilles ngày 31.
Ở Torino có nhiều thái độ hoài nghi về kết quả của hành trình tới
Tây Ban Nha. Ngày 28 tháng Ba, Giuse Lazzaro viết cho Giám mục
Cagliero: "nhân loại mà nói, căn cứ vào tình trạng sức khỏe của Don
Bosco, thật khó mà nghĩ như thế được." Tuy nhiên, tin tức từ Pháp
lại kể một câu chuyện khác hẳn: loại công việc khổ nhọc này, khi đối
diện với công chúng biểu lộ sự ngưỡng mộ, chẳng những không làm
Don Bosco yếu đi, mà dường như lại tăng sức cho ngài. Ngài được
ghi nhận là kiên trì. Vì vậy cha Rua quyết định đi theo ngài ở
Marseilles, và ngày 2 tháng Tư ngài ở bên Don Bosco tại Nguyện xá
Thánh Lêô. Để nắm bắt một kiến thức nào đó về Tây Ban Nha, ngài
mang theo với mình một cuốn văn phạm sơ cấp, nhỏ, cuốn sách nhỏ
Don Bosco y su Obra do Đức ông Spinola và cuốn Gương Chúa Giêsu
được dịch sang tiếng Tây Ban Nha. Ngài tiến bộ nhanh chóng đến
nỗi một khi vượt qua biên giới, ngài đã biết tiếng Tây Ban Nha đủ
để làm việc.
Tại Marseilles Don Bosco cho phép người ta thực hiện sự phòng
206 Đối với hành trình tới Tây Ban Nha, xem MB XVIII, p. 66-138.

16.10 Page 160

▲torna in alto
160 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngừa nào đó để bảo đảm cuộc hành trình của ngài, nhưng bất kỳ
xảy ra gì ngài sẽ thăm bạn hữu của mình qua dãy Pyreneés. Ngày 4
tháng Tư, Viglietti thông tin cho Lemoyne: "Cha chúng ta đầy can
đảm, bất chấp tình trạng yếu đau của mình..."
Để mang đến một sự thoải mái tối đa, cha Rua quyết định rằng
khi rời Marseilles ngày 7 tháng Tư, họ sẽ di chuyển bằng phòng hành
khách riêng trong xe lửa từ Pháp tới Tây Ban Nha. Thực thế, điều này
đưa Don Bosco, cha Rua và cha thư ký Viglietti đến Port-Bou, biên
giới Pháp/Tây Ban Nha, ngày 8 lúc 4 giờ sáng. Giám đốc nhà tại
Sarrìa, cha Gioan Tẩy giả Branda, đã ở đó, đợi họ. Họ đổi xe lửa và
có thể tiếp tục hành trình của mình tới Barcelona trong một toa xe
dành riêng.
Những nhà du hành đó được phục vụ chút giải khát và Don Bosco
tiếp nhận. Trái lại, cha Rua cố ý giữ chay để dâng Thánh Lễ tại
Barcelona, nên đã từ chối. Chính trong phần hành trình này mà cha
Rua một cách trùng khớp được kéo vào trong một cuộc đối thoại nào
đó. Trước ngày 6 tháng Hai, cha Giám đốc, Branda, đã kinh nghiệm
một thị kiến dài trong đó, hẳn nhiên lúc đó Don Bosco ở Torino, đã
xuất hiện ngay bên cửa phòng ngài ngủ lúc nửa đêm, nêu danh một
sư huynh và hai trẻ là có tội về một thái độ tục tĩu, và rồi cùng ngài
bước đi qua những nhà ngủ tại Sarrìa. Tối đó, dường như, Don Bosco
cùng lúc ở Torino và Sarrìa. Ngài đã từng biết điều đó không? Khi
họ du hành từ Port Bou, cha Branda đi vào toa xe lửa của ngài và bắt
đầu hỏi ngài về vấn đề vô luân đó. Ngài cho Don Bosco bản tường
trình của mình về việc xảy ra đó; song Don Bosco chỉ đơn giản đáp
lại: "Hãy tiếp tục", nhưng không cho thêm ánh sáng nào hơn. Đoạn
ngài thiếp ngủ. Cha Branda rời đi và vào toa xe kế tiếp ở đó ngài kể
câu chuyện của mình cách chi tiết cho cha Rua, và ngài đã cẩn thận
ghi chú lại.207
Lịch sử chính thức của Salêdiêng (Lemoyne năm 1913 và Ceria
207 Ngài sẽ làm chứng cho điều này tại tiến trình phong thánh cho Don Bosco, khi
nối kết tường trình này với một điều ngài nghe Don Bosco nói trong tháng Hai đó
rằng ngài muốn đi thăm Don Branda. (Positio super Introductione Causae.
Summarium, p. 830.)

17 Pages 161-170

▲torna in alto

17.1 Page 161

▲torna in alto
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 161
năm 1937) không nghi ngờ về sự hiện diện hai nơi này; nhưng để
có sự hiện diện hai nơi chân chính, như chính cha Branda nghiêm
chỉnh xác định trong nhiều trường hợp, thì cần Don Bosco phải hoàn
toàn ý thức về điều đó. Không may, đối với thị kiến của cha Branda,
chúng ta không có bằng chứng đáng tin rằng ngài đã ý thức về bất
kỳ hành trình bằng tâm trí nào từ Torino đến Barcelona vào tháng
Hai năm 1886.208
Cha Rua đầy ngạc nhiên khi chứng kiến thành phố Barcelona đón
chào Don Bosco. Tại những trạm ga ở Pháp, Don Bosco đã tìm thấy
bạn hữu và ân nhân. Ở Barcelona, ngài được những người có thẩm
quyền dân sự cũng như Giáo hội chúc mừng: chính quyền thành phố
đó đại diện Hoàng hậu nhiếp chính, và vị Tổng Đại diện đại diện
Giám mục (vắng nhà vì thăm viếng mục vụ). Những vị lãnh đạo của
Hiệp hội Công giáo và những chức sắc khác nhau cũng ở đó. Cả
những người mến mộ lẫn những người tò mò cũng hiện diện trong
đám đông. Bị nhiệt tình lôi cuốn, cha Ceria viết: "Hàng ngàn người
từ mọi trình độ xã hội đều đổ tới nhà ga để xem Don Bosco." Nghi
thức ngoại giao được những ủy viên chính thức khác nhau tuân giữ
thích đáng. Thư ký Viglietti bình luận, những người quyền cao chức
trọng theo thủ tục đúng cách. Những cộng tác viên lỗi lạc, nam cũng
như nữ, dễ nhận ra. Giữa họ là Dorothy Chopitea, được những người
khác kính trọng, đã rất mãn nguyện vì đón Don Bosco, cha Rua, và
cha thư ký Viglietti trong chính cỗ xe của bà. Sau Thánh Lễ, được cha
Rua cử hành, và một bữa ăn tại nhà bà, những nhà du hành của
chúng ta thẳng đường tới nhà Salêdiêng tại Sarrià. Họ trú lại đó suốt
thời gian ở Barcelona từ 8 tháng Tư tới 6 tháng Năm. Chính ở đó
Don Bosco tiếp vô số khách mà thường không có sự chọn lựa song
đến theo nhóm chỉ để nhận phép lành của ngài. Tất cả ra về - người
sùng đạo cũng như kẻ tò mò - với ảnh của Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Chính từ đó ngài dự những cuộc tiếp tân để ca ngợi ngài được những
người giàu có sắp xếp, hoặc trong những thánh đường nguy nga hay
những đại sảnh lộng lẫy.
208 Tham khảo về "hiện diện hai nơi ở Barcelona" trong cuốn sách Don Bosco en son
temps, p. 1350-1356.

17.2 Page 162

▲torna in alto
162 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Đang khi đó cha Rua bắt đầu tiếng Tây Ban Nha, khiến Don Bosco
ngạc nhiên nhiều; Don Bosco đã hỏi xem ngài đã học một ít câu mỗi
ngày. Ngài trả lời: "Hơn một tí nữa, cha à." Don Bosco nói: "Hoan
hô con, con sẽ giúp cha bớt bối rối." Thực vậy, ngài thường hành xử
như người giải thích của Don Bosco ở đâu một cuộc đối thoại quan
trọng cần đến tài khéo ngôn ngữ mà không Salêdiêng nào khác có
thể mang lại. Một lá thư ngài viết ngày 9 tháng Tư cho Gioan Bonetti
minh họa tốc độ phi thường của việc ngài học ngôn ngữ. Ngài bắt
đầu lá thư bằng tiếng Tây Ban Nha, rồi sau khi viết xong một đoạn,
ngài trách mình: "Này, cha coi, tôi thường nói Tây Ban Nha đến nỗi
tôi không để ý rằng tôi đang viết cho cha bằng ngôn ngữ ấy. Tôi biết
cha đã ở đây, nhưng cha không dùng ngôn ngữ đó nhiều, bởi vì cuộc
thăm viếng của cha quá ngắn. Tôi sẽ tiếp tục viết bằng tiếng Ý để
không phí giờ của cha." Vị Phó Tổng Bề trên, cha Durando, đôi khi
viết cho các nhà về cuộc thăm viếng tới Tây Ban Nha, với những tin
tức thâu gom từ thư ký Viglietti, nhưng tên của cha Rua chỉ được
nhắc đến trong một thư luân lưu, đề ngày 5 tháng Năm. Ở đó ngài
viết: "Cha không được quên cho anh em hay biết về cha Rua rất yêu
mến của chúng ta. Suốt thời gian Don Bosco ở Tây Ban Nha, giữa
nhiều trách nhiệm khác nhau, ngài luôn là vị đại diện và sự hỗ trợ
chân thật của Don Bosco, bất chấp giá ngài phải trả trong làm việc
hay mệt nhọc. Ngài giảng bằng tiếng Tây Ban Nha trước một cộng
đoàn lớn trong nhà thờ chúng ta tại Sarria, đó hẳn làm nhiều anh
em ngạc nhiên." Đó là ngày thứ hai Phục sinh, ngày 26 tháng Tư.209
Như ta có thể kỳ vọng, cha Rua luôn tháp tùng Don Bosco tại
những cử hành tôn vinh ngài, dù trong nhà ở Sarria hay tại những
buổi tụ họp khác ở Barcelona.210 Ngài ở bên cạnh Don Bosco trong
những dịp sau: 14 tháng Tư, tại trường cao đẳng dành cho những
Người Nữ của Thánh Tâm; 15 tháng Tư, tại một buổi gặp mặt ban
tối của Hội Công giáo tại Barcelona khi ngài long trọng được nhận
là một thành viên danh dự; ngày 17 tháng Tư, tại một bữa tiệc tôn
209 E. Ceria, Vita, p. 122-123.
210 Nhật ký về Don Bosco ở lại tại Barcelona trong chương «Diario barcellonese»,
MB XVIII, p. 66-117. Tôi cũng dựa trên bản sử biên niên chi tiết của thư ký Viglietti.

17.3 Page 163

▲torna in alto
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 163
vinh ngài do cha Narciso Pascual khoản đãi; 21 tháng Tư, khi ngài
cử hành Thánh Lễ tại Nguyện đường riêng của Nữ hầu tước de
Comillas; ngày 24 tháng Tư, tại Kinh Chiều, trong nguyện đường
riêng của cha Narciso Pascual; 29 tháng Tư, thăm viếng Oscar
Pascual, chủ tịch ngân hàng Barcelona; 30 tháng Tư, tại một cuộc
huấn đức cho các Cộng tác viên Salêdiêng tại thánh đường Nuestra
Senora de Belen; 1 tháng Năm tại Thánh Lễ Don Bosco dâng trong
cùng thánh đường trên; 2 tháng Năm, tại bữa tối được Tổng Giám
mục Barcelona khoản đãi; 3 tháng Năm tại buổi tiếp tân hoành tráng
ở dinh thự của cha Lu-y Marti Codola; ngày 4 tháng Năm, một bữa
tối với gia đình Pons, tại trường cao đẳng của dòng Tên và trong nhà
thương được Dorothy Chopitea thành lập; 5 tháng Năm, tại buổi
thăm viếng Nữ Hầu tước de Comillas và tại một lễ nghi trong thánh
đường Nuestra Senora de la Merced. Tuy nhiên, ngoại trừ một ít luật
trừ có tầm quan trọng khác nhau, ký sự rất chi tiết của cha thư ký
Viglietti ít nhắc đến ngài. Sau đây là một trong những luật trừ đó.
Ngày 11 tháng 4, Don Bosco gọi cha Rua, cha Giám đốc Branda
và thư ký Viglietti; ngài khóc nhiều và kể cho họ một giấc mơ ngài
có suốt đêm 9/10. Nó là một giấc mơ về truyền giáo trong đó Don
Bosco thấy con số rất đông giới trẻ gọi ngài lớn tiếng: "Chúng con
đang đợi cha". Một nhóm người được một người nữ mục tử dẫn dắt
chỉ tới Valparaiso ở Chile, rồi vượt qua các rặng núi đồi và trùng
dương, tới một chỗ khác gọi là Bắc Kinh. Người nữ mục tử ấy vạch
một đường đi từ Satiago tới Bắc Kinh, cắt qua Phi châu, và nói với
ngài: "Nay con đã có một ý tưởng rõ ràng về các Salêdiêng của con
phải làm gì". Don Bosco kêu lên: "Nhưng, làm thế nào họ có thể đi
tới đó? Những khoảng cách trùng trùng điệp điệp, các nơi chốn khó
mà tới được, và chúng con lại quá ít." Rồi ngài lại được chỉ những
chỗ ở Ấn Độ và Trung Hoa, ở đó có thể có những nhà tập mới để
tuyển mộ người mới. Cả ba đều lắng nghe trong ngạc nhiên, và
người thứ nhất, rồi người khác nữa kêu to: "Ồ, Mẹ Maria, Mẹ Maria!"
Vị Tổng Đại diện ghi lại tất cả những gì đã được nói, thâm tín rằng
đó là một sứ điệp trời cao. Tim ngài luôn nung nấu việc truyền giáo.
Một ngày kia, ngài không ngần ngại sai các môn đệ đi tới Phi châu
và Á châu. Cuối cùng ngài nói với Don Bosco: "Đức Maria yêu chúng

17.4 Page 164

▲torna in alto
164 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ta biết bao". Cha Rua luôn tin những lời tiên báo như thế đến từ
trời.211
Trở về từ Tây Ban Nha
Ba nhà du hành rời Tây Ban Nha ngày 6 tháng Năm. Họ hành
trình từng chặng, nghỉ tại Gerona, Montpellier, Valence và Grenoble,
mất cả thảy chín ngày để đến Ý.212 Trong hai nơi cuối cùng được
nói tới, cha Rua rất nổi bật.
Tại Montpellier, bác sĩ Combal được tham khảo về tình trạng sức
khỏe của Don Bosco: Tất cả điều ông có thể làm là xác nhận lại sự
chuẩn đoán được thực hiện 2 năm trước tại Marseilles. "Bệnh tật duy
nhất Don Bosco mắc phải không gì khác hơn là sự kiệt lực quá độ.
Nếu Don Bosco đã không hề làm phép lạ thì tôi có thể nói phép lạ
lớn nhất của ngài là sự kiện ngài vẫn còn sống. Toàn bộ hệ thống
của ngài đã hư hoại. Ngài hầu như chết vì mệt nhọc, mọi ngày ngài
làm việc, ăn ít và tiếp tục sống. Đối với tôi đó thực sự là một phép lạ
lớn nhất rồi." Những ngày ở Barcelona đã hoàn toàn làm ngài kiệt
sức.
Vậy không ngạc nhiên rằng ngài không đủ khỏe mạnh để nói
bài huấn đức đã được hoạch định tại nhà thờ chính tòa ở Valence.
Cha Rua thay thế ngài và thuật lại lịch sử Nguyện xá tại Valdocco.
Khi họ tới Grenoble ngày 12, cha Rua lại phải can thiệp lần nữa. Họ
khó ra ngoài nhà ga khi ba nhà du hành của chúng ta thấy một đám
rất đông tụ họp tại quãng trường thánh Lu-y, gần thánh đường có
cùng tên: người ta nói rằng Don Bosco, người làm phép lạ, sắp đến.
Không chỉ quảng trường, mà cả những đường phố gần đó những
người là người. Trên những bậc của thánh đường đó, cha xứ, mặc áo
với những giáo sĩ vây quanh, đang đợi Don Bosco. Đám đông im
lặng và vị linh mục lên tiếng, mời Don Bosco cầu xin ơn trời xuống
cho con dân giáo xứ của mình, đến nỗi những ý định của họ được
chấp nhận. Don Bosco ân cần bằng lòng: ngài chúc lành cho dân
211 Giấc mơ này, được bao gồm trong sử biên niên của Viglietti (FdB 1224 D6-7),
tái xuất hiện, với một ít sửa chữa do Lemoyne, in MB XVIII, p. 72-74.
212 Tham khảo chương «Partenza dalla Spagna e ritorno a Torino», MB XVIII, p.
118-138.

17.5 Page 165

▲torna in alto
Tổng Đại Diện của Don Bosco | 165
chúng và sửa soạn lên đường tới nơi Giám mục cư trú. Tuy nhiên,
phép lành chung chung của ngài không chút mãn nguyện những kỳ
vọng sùng mộ của dân chúng. Theo lời của cha thư ký "một loại bách
hại mới" chờ đợi ngài ở quảng trường Saint Louis. Dân chúng, bị thu
hút bởi một điều mà Viglietti thấy khó mà diễn tả - đó là sự "nhiệt
thành" hay một thứ "điên dại"? - tràn tới Don Bosco, đang khi cha
Rua cố hết sức bảo vệ ngài. Họ mang đủ mọi vật đạo đức khác nhau
- ảnh tượng, thánh giá, tràng hạt, v.v. - mà họ nhất quyết phải xin
ngài chạm tới. Những tràng hạt, được ném từ xa do những người
không thể đến gần ngài, rơi trên vai, cổ, đầu và tay ngài. Cha Rua
gọi đó là "một hình phạt đạo đức" khi làm chứng cho tiến trình phong
thánh. Những người đạo đức mà ở gần nhất thúc ép ngài hôn những
ảnh thánh giá và ảnh tượng. Cuối cùng, ngài được kéo ra khỏi họ để
đi và trú tại đại chủng viện.
Ngày hôm sau, 13 tháng Năm, bề trên của chủng viện đề nghị
cha Rua rằng ngài nên hướng dẫn "việc đọc sách thiêng" như luật
đòi hỏi. Theo thuật ngữ Sulpice (Hội Xuân bích), điều này hơn hẳn
một "bài nói chuyện thiêng liêng" hay "bài học trong linh đạo". Một
chủng sinh hiện diện miêu tả biến có đó như sau: "Vị linh mục đạo
đức của Don Bosco lấy chủ đề 'Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng
ta'. Những lời tâm thành của ngài biểu thị một tâm hồn nóng cháy.
Nó không phải là bài nguyện gẫm cho bằng chiêm niệm. Với vị
Thánh, điều này trở thành một sự xuất thần, khi những giọt lệ lớn
lăn tròn trên gò má ngài. M. Rabilloud [cha Bề Trên] nói ra bằng một
giọng rất hiền từ và cảm động: "Don Bosco khóc". Những giọt lệ của
vị thánh thì thậm chí hùng biện hơn những lời nâng cao đến từ tâm
hồn của cha Rua. Chúng tôi cảm động tới tận sâu thẳm. Chúng tôi
đã thấy sự thánh thiện của ngài trong dấu chỉ tình yêu này, và chúng
tôi không cần phép lạ để thúc đẩy chúng tôi tôn kính vị thánh khi
chúng tôi từ hội trường tiến tới nhà cơm."213
Với vị Tổng Đại diện, cha Rua và, vị thư ký, Charles Viglietti, Don
Bosco trở lại Torino tối ngày 15 tháng Năm, đúng lúc khai mạc tuần
213 Dom Pierre Mouton, «Séjour de saint Jean Bosco au séminaire de Grenoble, mai
1886», Documenti XXXII, p. 328, h. t.

17.6 Page 166

▲torna in alto
166 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chín ngày chuẩn bị lễ Mẹ Maria Phù Hộ các Giáo Hữu ngày 24.
Suy nhược vì mệt mỏi, Don Bosco chầm chậm, rất chậm đi ngang
qua sân nhà, được ban kèn của những thiếu niên dẫn đầu và được
đoàn thiếu niên hộ tống hai bên. Cha Rua ghi nhớ cuộc du hành này
tới Tây Ban Nha như chiến thắng cuối cùng của vị thày được mọi
người kính trọng; và nay ngài đã trở nên vị Tổng Đại diện khiêm tốn
của ngài.

17.7 Page 167

▲torna in alto
Cuộc Đời Don Bosco Tới Kết Tận | 167
13
Cuộc Đời Don Bosco
tới KẾT TẬN
Một vị Phó Tổng Bề trên thánh thiện và khiêm tốn
Cha Rua khiêm tốn và cần mẫn thực thi vai trò của mình như vị
Tổng Phó Bề trên. Vào tháng Tám năm 1886, Don Bosco ủy quyền
cho ngài chủ sự tại Tổng Tu Nghị của Con Đức Mẹ Phù Hộ tại Nizza
Monferrato, cho ngài những năng quyền cần thiết đối với bất kỳ
quyết định nào xét là lợi ích cho Tu hội. Trong lá thư ủy nhiệm, ngài
viết: "Hãy can đảm! Chúa đã trang bị chúng ta cho những trách vụ
khác nhau; chúng ta có bổn phận nỗ lực hết sức để thực hiện chúng
đến cùng. Vì nay, thị lực của cha quá kém và sức khỏe của cha tàn tạ
rồi.”214 Thực thế, bây giờ Don Bosco không thể làm nhiều hơn là cầu
nguyện, và ngài có thể tin tưởng vào vị Phó Bề trên với tâm hồn an
bình.
Đúng là ngài đã chủ tọa Tổng Tu Nghị Salêdiêng tại Valsalice vào
tháng Chín, ở đó tất cả các Giám đốc đều tề tựu. Dù vậy, trong một
biện pháp chưa có tiền lệ, ngài viết một lá thư minh nhiên gởi tới
"Cha Micae Rua, Tổng Đại diện của Tu hội Salêdiêng", chính thức
mời cha Rua thay thế ngài trong việc tiếp nhận mỗi thành viên Tu
nghị tỏ bày thiêng liêng.215 Cha Rua đảm nhận vai trò lãnh đạo ở hai
dịp trong Tu Nghị đó. Ở buổi họp khai mạc, ngài đọc những quy
luật tiến hành, và khi bế mạc, ngài chia sẻ với các thành viên Tu Nghị
mười hai hướng dẫn, có khả năng đến từ chính mình, nhưng phản
ánh một sự khắc khổ nào đó của vị Phó Tổng Bề trên trước kia của
Tu hội. Chúng liên quan đến việc tuân giữ khó nghèo, đời sống cộng
214 G. Bosco - M. Rua, Pinerolo, 8 tháng 8 năm 1886. Epsitolario Ceria IV, 359.
215 Epsitolario Ceria IV, p. 355-356.

17.8 Page 168

▲torna in alto
168 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thể và đào luyện những tư giáo trẻ trong các trường.216
Cha Rua sống kỹ càng sự nghèo khó ngài khuyên người khác. Cha
Amadei, người đương thời của ngài, nói cho chúng ta rằng khi ngang
qua sân chơi của Nguyện xá một ngày kia, cha Rua bất chợt nhặt
được một cây bút mới. Khi lượm lên, ngài đưa cây bút cho mình nói
rằng: "với cây bút này, cha sẽ có thể viết cả tháng trời rồi!”217 Một
trong những thư ký trẻ của ngài thời đó, Antôn Dones, nói rằng cha
Rua đôi khi xin ngài đi tới người may hay đóng giày của Nguyện xá
để vá áo hay giày mà trước tiên không tới gặp vị Phó Bề trên để ngài
chấp thuận. Khi ngài ghi nhận rằng vị Đại diện của Don Bosco không
cần làm thế, ngài trả lời: "Không được đâu: vị Phó Bề trên là người
duy nhất có thẩm quyền trên những xưởng thợ.”218
Khi đến giờ cầu nguyện, chỉ điều gì có tầm quan trọng lớn lao
nhất mới có thể kéo ngài ra mà thôi. Tại thủ tục pháp lý Tông tòa
cho cha Rua, Alexander Lucchelli (1864-1938) làm chứng như sau:
"Phải ca ngợi ngài thật bình thản. Trong nửa giờ đó, ngài dường như
say mê đối thoại sâu xa với Thiên Chúa; bất chấp điều gì xảy ra chung
quanh, không gì làm ngài phân tâm hay xáo trộn. Sáng ngày 23
tháng Hai - ngày đầu tiên của mùa Chay - chúng tôi tất cả đều đang
nguyện gẫm tại Thánh đường Mẹ Phù Hộ. Một trận động đất rung
phía Đông Bắc nước Ý, tâm chấn ở Liguria. Đột nhiên, chúng tôi cảm
nhận mặt đất rung mạnh dưới chân chúng tôi, và một tiếng động va
chạm khủng khiếp của các đồ vật làm điếc tai chúng tôi. Dường như
thể thánh đường sắp bị nghiền nát bởi một tên khổng lồ. Tiếng la
vang lên: 'Động đất! Động đất!' Và mọi người chạy ra khỏi nhà thờ
tuôn vào sân chơi, mặt tái nhợt vì sợ. Họ nhìn lên mái vòm, chờ xem
nó rơi vỡ xuống bất kỳ lúc nào. Nhưng nỗi kinh hoàng ấy rất ngắn;
chẳng mấy chốc họ ý thức rằng cuộc động đất không làm thiệt hại
thánh đường gì cả. Họ trở lại vào trong nhà thờ, và cha Rua ở đó -
người độc nhất không nhúc nhích - vẫn ở chỗ mình và cầu nguyện.
Ngài đã không biết gì sao? Tôi không nghĩ thế. Ngài có hiểu rằng
216 Đọc chúng trong MB XVIII, p. 188-189.
217 Amadei I, p. 364.
218 Amadei I, p. 364-365.

17.9 Page 169

▲torna in alto
Cuộc Đời Don Bosco Tới Kết Tận | 169
chúng tôi không bị nguy hiểm sao? Tôi không biết. Nhưng một điều
chắc chắn, như mọi người có thể thấy: mặc dù trái đất rung mạnh
khủng khiếp, cha Rua đã không gián đoạn cầu nguyện của mình.”219
Tại Rôma: cuộc cung hiến Thánh Đường Thánh Tâm
Don Bosco thật háo hức hiện diện ở Rôma cho lễ cung hiến Thánh
đường Thánh Tâm mà ngài đã trả giá biết bao hy sinh. Ngài khởi
hành đi Rôma ngày 20 tháng Tư cùng với cha Rua và cha Viglietti.
Họ đi từng trạm một, và đến Rôma ngày 30. Don Bosco mệt lử và
cha Rua cũng thế. Một buổi sáng ở đó, khi ngài chuẩn bị cử hành
Thánh Lễ ngài xỉu và phải nằm nghỉ chốc lát. Tuy nhiên, ngài đứng
lên lại ngay và cử hành Thánh Lễ như không có gì xảy ra trước đó.
Đức Lêô XIII dành cho Don Bosco cuộc triều yết ngày 13 tháng
Năm, ngày trước khi cung hiến Thánh đường. Trước khi giã từ, Don
Bosco xin Đức Giáo Hoàng có thể giới thiệu cha Rua và cha Viglietti,
đang đợi ở phòng chờ hay không. Người viết ký sự giữ một hồ sơ về
những lời của Đức Giáo Hoàng: "Ồ, cha là cha Rua, Vị Đại diện của
Tu hội. Tốt lắm! Rất tốt! Cha nghe nói rằng con ở với Don Bosco từ
lúc nhỏ. Con hãy tiếp tục thẳng tiến với dự án mạo hiểm này; con
hãy bảo đảm gìn giữ nơi chính mình tinh thần của Đấng Sáng lập
của con." Cha Rua trả lời: "Trọng kính Đức Thánh Cha, chắc chắn như
thế. Với phép lành của Đức Thánh Cha, chúng con hy vọng có thể
hiến mình tới hơi thở cuối cùng cho chính công cuộc mà chúng con
đã hiến thân từ bé." Rồi ngài xin phép để nói lên một yêu cầu: một
đặc ân để chấp nhận những ứng sinh cho Tu hội. Đức Giáo Hoàng
lắng nghe rồi nói ngài hãy theo mình. Ơn xá đó được ban cho năm
năm ngay lập tức và ngay tại chỗ.220
Cả ba trở lại Torino vào tối ngày 20 tháng Năm. Ngay khi họ ở
Nguyện xá, Don Bosco nài nỉ đi tới Thánh đường để tạ ơn Đức Mẹ.
Đó là ngày thứ sáu trong tuần chín ngày chuẩn bị mừng lễ Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu; toàn cộng đoàn tụ họp tại đó cho những nghi lễ
219 Alexander Lucchelli (1864-1938), Tiến trình phong thánh của cha Rua, trong
Positio 1947, p. 586-587.
220 Minutes of the Superior Chapter, 12 tháng 9 năm 1887, FdB 1883 C12.

17.10 Page 170

▲torna in alto
170 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thông thường. Cha Rua chủ tọa chầu Thánh Thể và ban phép lành,
và Don Bosco lãnh nhận thật sốt sắng.
Huấn đức trong Thánh đường đó vào ngày lễ Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu cho các Cộng Tác viên ở Torino, đó là một truyền thống. Dịp
này, chính cha Rua cho huấn đức. Ta được tường trình về điều đó
trong Tập San Salêdiêng vào tháng Bảy sau đó: "Huấn đức xảy ra vào
ngày hôm sau, ngày 25 tháng Năm trong thánh đường ấy. Cha Rua,
vị Tổng Đại diện của Don Bosco, đã nói về buổi cử hành ở Rôma khi
cung hiến Thánh đường Thánh Tâm, rồi về cuộc triều yết hiền phụ
được Đức Lêô XIII ban cho Don Bosco, phép lành mà Đức Thánh Cha
đã nhân hậu ban cho tất cả những ân nhân của Thánh đường mới,
bước tiến liên tục của việc truyền giáo ở Patagonia, và cuối cùng sự
che chở đặc biệt của Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Mẹ mới đây, dường
như đúng vậy, cứu Giám mục Cagliero khỏi chết một cách lạ lùng -
đang khi du hành qua Andes, ngài phải nhảy khỏi lưng con ngựa
bỗng nhiên lồng lộn lên. Đấy là những đề tài chính của cuộc nói
chuyện rất thú vị và xây dựng ấy.”
Nói thay cho Don Bosco
Trước cơn bệnh sau cùng của Don Bosco, cha Rua đã phải thế chỗ
ngài ở ba biến cố công cộng. Mỗi năm, vào ngày 23 và 24 tháng
Sáu, để mừng lễ Thánh Gioan Tẩy giả, Nguyện xá cử hành trọng thể
để tán dương Don Bosco. Những lễ mừng xảy ra ở sân chơi lớn, một
chỗ duy nhất đủ lớn để tụ họp giới trẻ và nhiều khách mời.
Khi buổi hòa nhạc và văn nghệ kết thúc vào tối ngày 24, Don
Bosco không còn sức để nói bài kết thúc như thường lệ. Ngài chỉ định
cha Rua nói thay ngài, và nhân danh ngài cám ơn tất cả những ai đã
tổ chức buổi 'văn nghệ' và mọi người đã tặng quà. Người viết ký sự
của tờ Tập san Salêdiêng nói rằng cha Rua đã nói một 'bài thật cảm
động'. Cảm xúc thực sự có giữa cử tọa, họ đều biết rõ rằng một dịp
như thế sẽ chẳng bao giờ xảy ra nữa. Các cựu học sinh tổ chức một
bữa tiệc tiếp theo buổi cử hành đó. Don Bosco lần này không thể
hiện diện. Cha Rua thay thế ngài và nói nhân danh ngài. Ngài khích
lệ họ luôn ghi nhớ và mang theo với họ trong cuộc đời mình hình
ảnh, lời khuyên và những ước muốn của vị ân nhân vĩ đại của họ.

18 Pages 171-180

▲torna in alto

18.1 Page 171

▲torna in alto
Cuộc Đời Don Bosco Tới Kết Tận | 171
Những người lắng nghe đều sung sướng đến ngạc nhiên vì tìm thấy
nơi cha Rua tình cha mà họ đã nghiệm được rất rõ nơi Don Bosco.221
Năm đó Don Bosco không thể đi tới Pháp như ngài đã thường làm
từ năm 1876. Thay vào đó, người Pháp đến với ngài. Hơn 900 công
nhân, trên đường tới Rôma dưới sự lãnh đạo của Léon Harmel, đã
dừng lại ở Torino. Họ hành hương [đến Rôma] để mừng ngân khánh
linh mục của Đức Lêô XIII, và họ rẽ ngang qua Torino ngày 13 tháng
Mười Hai. Những người công nhân đó hăm hở đến thăm Don Bosco,
nhưng thời gian ngắn ngủi dành cho tùy ý họ không đủ cho họ để
đi tới tận Valdocco. Vì thế, Don Bosco đi với cha Rua để gặp họ ở
công viên Valentino ở đó những người hành hương có một bữa cơm
trong một khách sạn. Don Bosco chúc lành cho họ theo mức ngài có
thể, và thích nói chuyện với họ, nhưng giọng ngài chỉ vừa đủ nghe
cho những kẻ gần nhất, vì thế ngài xin cha Rua nói thay ngài. Đây
không phải là vấn đề cho ngài khi ngài nói với họ bằng tiếng Pháp.
Ngài nói, Don Bosco chúc mừng và cám ơn những người hành
hương; ngài yêu cầu họ xin Đức Giáo Hoàng cầu nguyện cho Gia
đình Salêdiêng sẽ nhận mọi ơn lành họ cần để chu toàn sứ mệnh của
mình; ngài mời họ khi ở Rôma, thăm viếng Thánh đường Thánh Tâm,
và hứa cử hành Thánh Lễ ngày hôm sau, xin Chúa chúc lành cho toàn
thể cuộc hành hương. Sau bài nói chuyện này, các khách hành hương
lần lượt đi qua Don Bosco, ngài cho mỗi người một ảnh Mẹ Phù Hộ.
Nhiều người nhét nhanh đồng bạc vào tay ngài, song ngài trao hết
qua cha Rua.222
Ngày 24 tháng Mười Một các tín hữu nêm chật thánh đường Mẹ
Phù Hộ cho một lễ nghi ngoại thường. Hoàng tử Ba lan August
Czartoryski, đã biết Don Bosco ở Paris năm 1883, đang gần đất xa
trời và chuẩn bị gia nhập Tu hội Salêdiêng. Ngày đó ngài nhận áo
dòng từ Don Bosco, cùng với ba người lớn khác - Pháp, Anh và Ba
lan. Don Bosco tiến tới rất chậm chạp, với bốn ứng sinh. Khi hát kinh
Thánh Thần (Veni Creator), ngài mời họ, theo cách diễn đạt của lễ
221 E. Ceria, Vita, p. 130.
222 «Le pèlerinage des ouvriers français à Rome», Bulletin salésien, tháng Mười Một,
1887, p. 132-133.

18.2 Page 172

▲torna in alto
172 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nghi, cởi bỏ con người cũ, lúc đó họ cởi áo khoác và càvạt và trao
cho những người giúp lễ. Rồi ngài mời họ mặc lấy con người mới
khi trao cho từng người chiếc áo dòng. Rồi chính lúc đó cha Rua lên
bục giảng và giảng một bài thích hợp, dùng những lời Isaia cho bài
của mình: ‘Filii tui de longe venient’ [Con cái ngươi từ xa tiến lại]. Lễ
nghi kết thúc với bài hát Te Deum. Ra khỏi thánh đường, những người
lớn tuổi hơn bình luận về bài giảng của cha Rua: "Cha Rua nói bằng
lòng trí và tâm hồn của Don Bosco.”223
Don Bosco qua đời
Cùng năm 1887, từ giữa tháng 12, sức khỏe của Don Bosco suy
giảm mau lẹ, và cha Rua luôn ở gần kề, sẵn sàng trước bất kỳ điều
gì xảy ra. Vào ngày 21 kết tận hình như gần kề: ngài bị chấn động
bởi những cơn bạo bệnh; thân nhiệt ngài sốt cao; khi nỗ lực chặn
trước việc nôn mửa, những y sĩ của ngài cố gắng cách vô ích để nuôi
ngài bằng lương thực mà hệ thống cơ thể có thể tiếp nhận. Ngài thở
rất cạn. Lát sau chiều tối đó, ngài bảo một trong những người ở với
ngài rằng khoảng 4 giờ ngài nghĩ ngài sắp chết rồi. "Cha mất toàn
bộ ý thức rồi". Ngài xin lãnh các bí tích sau cùng, khi nói với cha thư
ký Viglietti: "Con hãy bảo đảm rằng con không phải là linh mục độc
nhất ở với cha. Cha cần một ai đó ở đây sẵn sàng ban bí tích xức dầu
cho cha." Viglietti trả lời: "Cha Bosco, cha Rua ở đây mọi lúc”.224 Vào
lễ vọng Giáng sinh, ước ao của ngài được đón nhận: Giám mục
Cagliero long trọng mang Của Ăn đàng (Viaticum) vào ban sáng, khi
Thánh Lễ cộng đoàn đang được cử hành. Rồi, tối đó, khoảng 11 giờ,
ngài ban phép xức dầu cho Don Bosco.
Được báo động bởi diễn biến của những biến cố, mọi ngày từ 26
đến 31 tháng Mười Hai, cha Rua gởi một bản tin chi tiết về diễn biến
223 Từ E Ceria, MB XVIII, p. 466-468. Sử biên niên nguyên gốc của Carlo Viglietti,
đề ngày 24 tháng Mười Một, chỉ ghi lại một lễ nghi trong chính phòng của Don
Bosco. Tôi tưởng tượng rằng sau lễ nghi ở nhà thờ Mẹ Phù hộ mà dường như được
ghi chú tài liệu đầy đủ, gia đình Crazrtoryski thăm các phòng của Don Bosco.
Những sử biên niên của Viglietti ở trong FdB 1222 D2 - 1227 D8.
224 C. Viglietti, sử biên niên nguyên thủy, ngày 23 tháng 12, 1887.

18.3 Page 173

▲torna in alto
Cuộc Đời Don Bosco Tới Kết Tận | 173
bệnh tình của Don Bosco cho tất cả các Giám đốc.225 Một bản tin
ngày 27 viết như sau: 'tình trạng phổi'; nói cách khác, cả tim và phổi
bị tác động. Đối với chính người ốm, ngài quen khôi hài như thể
không kể gì đến ốm yếu và đau đớn. Vào ngày 26, khi ba bác sĩ tham
khảo với nhau bên giường, ngài lặng lẽ nói cho Viglietti, như một
bệnh nhân nghi ngờ trong hài kịch của Molière: Chúng ta hãy coi kiến
thức và tài khéo của ba bác sĩ có thể khám phá ra gì nào” [Videamus quid
valeat scientia et peritia trium doctorum]. Ngày 27 đang khi bốn
Salêdiêng – kể cả cha Rua - và một bác sĩ đang chụm đầu lại với nhau
để bàn xem làm thế nào để chuyển Don Bosco từ giường này sang
giường khác, ngài nói vui cười: "Các con hãy buộc một dây quanh cổ
cha và kéo cha đi." Cuối cùng, việc chuyển đó trở thành một bi hài
kịch khi cha Rua thấy mình ở trên giường thứ hai với Don Bosco nằm
trên mình"!
Đang khi đó, những người quanh ngài ráp vào các tư tưởng thiêng
liêng ngài diễn tả vào với nhau. Trong một luân thư ngày 30 tháng
Mười Hai, cha Rua viết: "Tối hôm qua, Đức Cha Cagliero, cha Bonetti
và cha ở bên giường ngài; một phút ngắn ngủi khi ngài có thể nói
dễ dàng hơn, chúng tôi nghe ngài nói: "Cha khuyên các Salêdiêng
sùng kính Mẹ Maria Phù Hộ và năng hiệp lễ." Khi cha ghi nhận rằng
điều này có thể dùng như một Hoa thiêng cho năm mới và sẽ gởi tới
tất cả mọi nhà, ngài trả lời: "điều này cho cả đời..." Nhưng rồi ngài
đồng ý để làm nó thành Hoa thiêng. Chúng ta đừng quên lời khuyên
quí giá này của người cha được yêu mến thiết tha. Chúng ta hãy giữ
lấy nó, khuyến khích các người trẻ giữ lấy nó, và từ bây giờ trở đi
chúng ta hãy dùng nó như một phương thế để cầu cho ngài được ơn
bình phục.”
Tình trạng sức khỏe của Don Bosco dường như cải thiện chút xíu;
ngày 31 tháng Mười Hai, cha Rua vui sướng loan báo rằng Don
Bosco cảm thấy khỏe hơn đôi chút, và các bác sĩ nay nuôi mộng ngài
có thể bình phục. Dù sao đi nữa, vẫn có lý do phải cẩn thận hơn.
Ngày 2 tháng Giêng, cha Rua phải làm cho bài tường trình trước kia
dịu lại khi ngài tuyên bố: "Bệnh tình của người cha rất yêu dấu của
225 Những thư luân lưu này trong FdR 3980 A10-B8.

18.4 Page 174

▲torna in alto
174 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chúng ta không xấu đi, nhưng ít hy vọng cải thiện. Cái chết của ngài
trong một tương lai rất gần xem ra không thể thoát khỏi. Ngài muốn
tất cả các hội viên được mạnh khỏe cả thể xác lẫn tinh thần, tiến bộ
trong nhân đức, học hành và những bổn phận khác nhau của bậc
sống mình."
Sự thuyên giảm này kéo dài được ba tuần, khi Don Bosco bắt đầu
nói lại được, ăn được chút ít và tiếp khách đến thăm. Dù vậy, ngài
rất mệt. Ngày 6 tháng Giêng, ngài báo trước cho thư ký của mình:
"Viglietti, con phải nói cho cha Rua để ý đến cha, vì tâm trí cha đi
đâu rồi đó. Cha không thể nhớ đây là ngày hay đêm, ngày nào hay
năm nào nữa. Cha đang mất phương hướng; cha không biết bây giờ
mình đang ở đâu. Cha không thể nhận diện các người đến thăm hay
nhớ cái gì đã xảy ra, không nhớ cha có cầu nguyện không, đây là
một ngày lễ hay lễ thường. Xin tất cả các con hãy giúp cha.”226 Ngài
bắt đầu lại suy yếu từ ngày 24.227 Khoảng ngày 27, ngài trôi nổi,
lúc tỉnh lúc mê, đôi khi hôn mê. Bất cứ khi nào ngài sáng suốt, ngài
luôn chúc mừng con cái mình - Berto, Durando, Bonetti, và dĩ nhiên
cha Rua - và lập lại liên hồi: "Các con hãy nói cho thanh thiếu niên
rằng cha đợi chúng trên thiên đàng.” Tối 29/30 là tối đau khổ nhất
cho Don Bosco: ngài không thể thở hay ăn bất kỳ thứ gì. Khoảng 2
giờ sáng, ngài bắt đầu run rẩy, răng ngài lập cập với nhau và dường
như ngài nghẹt thở. Thậm chí giường ngài cũng rung lên. Được báo
động điều này, y sĩ Enria cố gắng nâng ngài lên một chút; Don Bosco
túm chặt lấy thầy và thoáng chốc Enria nghĩ rằng ngài sẽ chết trong
tay mình; đoạn Don Bosco trở nên bình thản và với giọng nói nhỏ
nhẹ ngài kêu cầu Mẹ Maria Phù Hộ các Giáo Hữu, và thêm: "Nguyện
ý Chúa được nên trọn trong mọi sự!" Đến sáng, họ có thể thấy ngài
liệt một cánh tay. Ngài xoay sở để nói vài lời cho những người gần
nhất - Rua, Cagliero, Viglietti,... có lẽ sáng đó, ngài thì thầm vào tai
người môn đệ vĩ đại: "hãy làm cho con được yêu mến." Cha Rua
quyết định cho cả Salêdiêng lẫn thanh thiếu niên được phép đến và
226 C. Viglietti, Sử biên niên nguyên thủy của ngày đó. Xem E. Ceria, MB XVIII, p.
511.
227 Về cái chết của Don Bosco, xem MB XVIII, p. 529-543.

18.5 Page 175

▲torna in alto
Cuộc Đời Don Bosco Tới Kết Tận | 175
hôn tay Don Bosco đang hấp hối. Chẳng bao lâu một hàng dài thiếu
niên im lặng tiến lên cầu thang dẫn tới phòng của Don Bosco; ngài
nằm đó bất động, với một cánh tay treo lên và một thánh giá trên
ngực. Nhiều em chạm đến ngài bằng ảnh tượng, thánh giá, tràng
hạt và ảnh thánh, mà sẽ được coi như một di tích.
Sau bữa cơm ảm đạm với cộng thể Salêdiêng, những bề trên chính
- Cagliero, Rua, Bonetti, Belmonte, Sala - trở lại bên giường của Don
Bosco, căn phòng ấy gần với nhà cơm. Họ quì gối trên sàn lát gạch
quanh giường đau khổ của người cha thân yêu và cầu nguyện, không
bảo đảm họ sẽ tranh thủ được chợp mắt chút nào hay không. Cuối
cùng họ quyết định qua đêm ngồi đợi ở phòng bên cạnh từ đó họ
có thể đến ngay khi được báo động. Khoảng lúc 1:30, ngài thở rất
mệt nhọc. Enria báo động cho các bề trên. Cha Rua và Giám mục
Cagliero đọc lời phó dâng sau cùng. Còn những người khác sụt sùi
cầu nguyện trong nước mắt. Cuối cùng, hơi thở dốc hạ dần, và cùng
với nó, ngài đã ngừng thở và mọi người quanh đó thật buồn thảm.
Rồi chính cha Rua, với một ý tưởng hoàn toàn hợp với tinh thần của
Don Bosco, mượn cánh tay của ngài, lên tiếng ban phép lành từ Don
Bosco cho con cái mình khắp thế giới. Ngài đến bên giường rồi nói
như sau: "Don Bosco, chúng con đều tụ họp nơi đây, rất nhiều chúng
con là con cái của ngài từ những ngày sơ khai nhất, linh mục và sư
huynh; chúng con xin cha ban phép lành. Xin chúc lành cho chúng
con, và tất cả những ai đang rải rắc khắp thế giới và trong những
vùng truyền giáo. Khi cha không còn có thể nâng tay phải lên được
nữa, thì con xin cầm tay cha đọc lên những lời phép lành ấy; cha
chắc chắn sẽ chúc lành cho tất cả các Salêdiêng và hết thảy giới trẻ."
Rất dịu dàng, Don Rua nâng cánh tay của người cha và đọc những
lời chúc lành trên tất cả hội viên; tất cả đều cúi đầu và khóc thật xúc
động. Hai giờ nữa trôi qua. Với một dấu hiệu từ Enria, các bề trên
lại tụ họp quanh giường và đọc kinh cầu cho người hấp hối kinh
"Proficiscere". Don Bosco thở hơi cuối cùng vào lúc 4:45 phút buổi
sáng ngày 31 tháng Giêng 1888.
Đám tang và chôn cất Don Bosco
Cha Rua soạn ngay một thư luân lưu dài, đầy cảm xúc, đề ngày

18.6 Page 176

▲torna in alto
176 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
31 tháng Giêng để thông tin Don Bosco chết "cho các Salêdiêng, Con
Đức Mẹ Phù Hộ, và các Cộng Tác viên Salêdiêng". Ngài bảo đảm với
họ: "Nay với trách nhiệm đại diện ngài, cha sẽ nỗ lực hết sức để đáp
lại những kỳ vọng chung của anh chị em. Cha chắc chắn rằng với
công việc và lời khuyên của các hội viên, Tu hội Thánh Phanxicô Salê,
được tay Chúa giữ gìn, Đức Mẹ Phù Hộ che chở và đức ái của những
Cộng Tác viên rất xứng đáng trợ giúp, sẽ tiếp tục công cuộc được
Đấng Sáng lập kỳ diệu đảm trách và được thương tiếc, cách riêng vì
sự hưng thịnh của giới trẻ nghèo và bị bỏ rơi và cho việc truyền
giáo.”228 Trong vài hàng này, chúng ta rõ ràng thấy chương trình
tương lai của một Bề Trên Cả hoàn toàn trung thành với Don Bosco.
Ngày 1 tháng Hai xác của Don Bosco, mặc phẩm phục linh mục,
được đặt trong một chiếc ghế trong nhà thờ Thánh Phanxicô Salê, ở
đó các thiếu niên của Nguyện xá và nhiều tín hữu đến kính viếng
ngài. Các Salêdiêng canh thức suốt đêm. Cha Rua quỳ cầu nguyện
bên thi thể ngài rất lâu. Sáng ngày, xác ngài được đặt trong chiếc
quan tài ba mặt. Lễ an táng được cử hành trong Thánh đường Mẹ
Phù Hộ suốt sáng mồng 2 tháng Hai; đám tang gồm các Salêdiêng
và thanh thiếu niên Nguyện xá nối đuôi nhau khắp các đường phố
trước một đám dân chúng rất đông. Tám Salêdiêng linh mục khiêng
quan tài. Đằng sau đó, giữa cha Durando và Sala, cha Rua cúi đầu
bước đi, ngập chìm trong u sầu. Đoàn người không dừng ở nghĩa
trang nhưng quay về Thánh đường Mẹ Phù Hộ.
Suốt vài ngày các bề trên Salêdiêng khổ sầu với câu hỏi xem phải
chôn táng Don Bosco ở đâu. Họ ưa chuộng đặt thân xác ngài trong
phần mộ của Thánh đường Mẹ Phù Hộ, nhưng giới chức dân sự
không cho phép. Cuối cùng, sau nhiều cuộc thương thảo, cả ở Torino
lẫn Rôma, ta được phép chôn ngài ở ngoài thành phố Torino trong
nhà Salêdiêng tại Valsalice. Trường học này trước kia dành cho trẻ
em nhà giàu mới đây đã được chuyển hóa: từ đầu niên học vào tháng
Mười, nó đã trở thành một trung tâm học vụ huấn luyện các tư giáo
Salêdiêng trẻ. Những tư giáo này tạo thành sự canh gác danh dự. Vì
thế, như để không gợi lên bất kỳ phản ứng nào từ những người
228 Bản bổ sung nguyên thủy được in cho Bollettino salesiano, February 1888, 3 p.

18.7 Page 177

▲torna in alto
Cuộc Đời Don Bosco Tới Kết Tận | 177
chống giáo sĩ, xác Don Bosco được di chuyển bí mật. Cha Rua khích
lệ các tư giáo đi viếng mộ thường xuyên và dành giờ cầu nguyện
trước đó. Mỗi tháng một lần, nhiều bao có thể, ngài thường đi từ
Nguyện xá đến Valsalice và sốt sắng cầu nguyện.229
229 Về vấn đề chôn cất Don Bosco và sự chọn lựa Valsalice, see MB XVIII, p. 533-
567.

18.8 Page 178

▲torna in alto
178 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
14
Cha Rua làm BỀ TRÊN CẢ
Kế vị Don Bosco230
Trong lá thư luân lưu ngày 31 tháng Giêng, cha Rua đã viết khi
quy chiếu đến Don Bosco: "Nay với trách nhiệm đại diện ngài, cha
sẽ cố gắng hết sức để đáp ứng những kỳ vọng của anh em." Tại sao
ngài không nói là 'thay thế' Don Bosco? Chính giữa những người
Salêdiêng, âm điệu ấy bị lãng quên, tới mức độ rằng ta hoàn toàn
chấp nhận đã rồi là cha Rua kế vị Don Bosco. Nhưng ở đây chính cha
Rua lại chỉ coi mình không gì khác hơn là người đại diện của ngài.
Ngài không biết đến bất kỳ sắc lệnh chính thức nào chỉ định ngài là
vị Tổng đại diện với quyền kế vị. Don Bosco đã không bao giờ quy
chiếu, bằng miệng hay văn bản, tới bất kỳ một sắc lệnh như thế. Chỉ
có những lá thư từ Tổng Giám mục Alimonda trước hiệu quả đó thôi.
Dù sao chăng nữa, trong suy nghĩ của mình, một sự sắp xếp như thế
không hề loại bỏ tính khả thể là một cuộc bầu phiếu thông thường
bởi một Tổng Tu Nghị; vì thế ngài hỏi Đức Tổng Giám mục Alimonda
về điều ấy. Dù Đức Tổng Giám mục hoàn toàn chắc chắn về kết quả
đó, ngài khuyên cha Rua tiếp xúc với Rôma. Vậy, ngày 8 tháng Hai,
ngài viết cho Đức Lêô XIII miêu tả tình trạng như ngài nhìn thấy:
"Trọng kính Đức Thánh Cha, biết mình yếu đuối và không có khả
năng, con thấy mình buộc phải khiêm nhường xin Đức Thánh Cha
cho con suy nghĩ khôn ngoan về vấn đề này, và cho người ký tên
dưới đây miễn khỏi trách nhiệm khó khăn của Bề Trên Cả. Tuy nhiên,
con bảo đảm với Đức Thánh Cha rằng, với ơn Chúa giúp, con sẽ tiếp
230 Ở đây tôi thích ứng những trang mà Don Ceria dành cho vấn đề này trong
năm 1949 trong Vita del Servo di Dio, p. 136-139, khởi từ những ghi chú thu thập
về thư luân lưu được Hồng y Cagliero và Tu Nghị Bề trên ký ngày 7 tháng Ba,
1888. Những điều này được tìm thấy trong Lettere circolari di Fr Rua, p. 6-16.

18.9 Page 179

▲torna in alto
Cha Rua Làm Bề Trên Cả | 179
tục hết lòng đóng góp phần khiêm tốn của mình vì thiện ích của Tu
hội chúng con, bất kể xảy ra điều gì."231 Đang khi đó, các thành viên
của Tu nghị Bề trên lại nhìn khác. Ngày hôm sau, các ngài cùng gởi
một lá thư cho Hồng Y Parocchi, bảo trợ của Tu hội, đưa ra những lý
lẽ mạnh mẽ để xác quyết cha Rua trong vai trò Bề Trên Cả. Họ bảo
đảm với ngài rằng toàn Tu hội không chỉ khiêm tốn vâng phục mà
thôi: họ thấy đó là một lý do cho niềm vui lớn lao, chân thành. Vì
vậy, họ xin ngài cho Đức Thánh Cha biết điều này.232
Lá thư này giúp dẹp yên những đồn đoán từ những người ở Rôma;
họ tiên đoán toàn sự nghiệp của Don Bosco không thể tránh khỏi sụp
đổ. Một số vị trong giáo triều nghĩ rằng các người Salêdiêng không
có người có khả năng để cứu Tu hội: giải đáp độc nhất sẽ là giải thể
nó và sát nhập các thành viên vào một Tu hội có những mục đích
tương tự. Những quan tâm này đã đến tai Đức Lêô XIII; chúng đủ
mạnh để thậm chí ngài xét đến bước triệt để như thế. Đức Lêô XIII
không biết cha Rua mấy, chỉ gặp ngài một lần vào tháng Năm, năm
1887. Dáng vẻ khiêm tốn và chân thật của ngài che dấu những phẩm
tính tri thức cần thiết nơi một người kế vị Don Bosco. Đúng là do
Chúa Quan phòng. Giám mục Emilian Manacorda, Giám mục
Fossano, rất ấn tượng bởi Don Bosco và công cuộc của ngài, lúc đó
đang ở Rôma. Ngài hoàn toàn quen thuộc với giáo triều Rôma, vì
chính ở đó mà ngài bắt đầu sự nghiệp. Ngay khi nghe phong phanh
nguy hiểm trên, ngài nhảy vào để xua tan những hoài nghi và sợ hãi
đó, bảo đảm với các ngài rằng giữa những người Salêdiêng không
thiếu những người có khả năng. Các ngài có thể hoàn toàn tin tưởng
vào tương lai của Tu hội ấy. Lá thư từ Tu nghị Bề trên tới vào giữa
những điều này; nó được đọc với sự quan tâm, càng hơn nữa vì Giám
mục Gioan Cagliero ký đầu tiên. Hồng y Parocchi không mất giờ khi
nói chuyện với Đức Giáo Hoàng. Trở về từ cuộc triều yết đó, ngài viết
ngay cho Cagliero, báo cho ngài tin vui: "Sung sướng vì Đức Thánh
Cha đã chuẩn nhận lời khẩn xin chính đáng được Đức Giám mục và
các hội viên xứng đáng của ngài trình bày, tôi không thể chần chừ
231Thư của cha Rua trong FdR 3912 B1-4.
232L.C., p. 11-13.

18.10 Page 180

▲torna in alto
180 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chuyển đạt cho Đức Cha tin vui này. Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô!"
Ngay lập tức vị Hồng y gởi cho ngài sắc lệnh chỉ định cha Rua làm
Bề Trên Cả 12 năm, bắt đầu từ 11 tháng Hai 1888. Sắc lệnh chỉ có
một chút dè dặt: thủ tục này chỉ có giá trị cho lần này thôi, và không
thể tạo thành một tiền lệ.233 Khi văn kiện này phơi ra ánh sáng, như
chính cha Rua có thể xác quyết, rằng đã có một sắc lệnh trước, đề
ngày 27 tháng Mười Một 1884, chỉ định ngài là Tổng Đại diện. Điều
gì xảy ra ở đó? Vẫn còn là một mầu nhiệm.
Triều yết Đức Lêô XIII
Tháng Hai, tuần thứ hai, cha Rua lại xuất hiện ở Rôma. Như một
cựu học sinh của trường các sư huynh Lasan, ngài ở đó vì việc phong
chân phước thánh Gioan Tẩy Giả de la Salle, và có dịp để thăm viếng
Đức Lêô XIII. Ngài quan tâm hàng đầu là khởi sự vụ việc xin phong
thánh Don Bosco. Danh tiếng về sự thánh thiện đã theo Don Bosco
lúc sinh tiền, đã trở thành một vấn đề của việc dân chúng ca ngợi khi
ngài đau yếu và sau khi chết. Trong khoảng 24 giờ của việc chôn
táng ngài tại Valsalice, cha Rua, đã hết lòng tin vào sự thánh thiện
của ngài, bắt đầu làm việc. Ngài triệu tập Tu Nghị Bề trên để khảo
sát những triển vọng cổ xúy vụ việc ấy trong một tương lai gần. Rồi,
tại Rôma, giữa những thành viên của giáo triều ngài gặp, là vị cổ
xúy đức tin, Giám mục Caprara, người có thể nói cho ngài cách thức
tiến hành không chút chậm trễ với vụ việc của Don Bosco. Ngài học
biết rằng ngài phải bắt đầu bằng cách thâu họp tất cả tài liệu sẵn
sàng minh chứng những phép lạ và đặc ân đạt được nhờ Don Bosco
chuyển cầu. Ngài giao việc này cho cha Bonetti.234 Ngày 28 tháng
Hai vào một phiên họp của Tu Nghị Bề trên, cha Bonetti được yêu
cầu soạn thảo một khổ thích hợp để ghi tất cả những sự kiện và nhân
đức thích đáng của Don Bosco, và để khởi sự việc tra vấn những
chứng nhân trực tiếp.235
Đức Giáo Hoàng tiếp đón cha Rua trong một cuộc triều yết riêng
sáng ngày 21 tháng Hai; một trình thuật dài về cuộc đối thoại ấy
233 Tài liệu được Hồng y M. Parocchi ký nhận, trong L.C., p. 14-15.
234 Thư Rua-Bonetti, 20 tháng Hai năm 1888, FdR 3859 E5-7.
235 FdR 4240 D8.

19 Pages 181-190

▲torna in alto

19.1 Page 181

▲torna in alto
Cha Rua Làm Bề Trên Cả | 181
được gởi tới tất cả các Salêdiêng ngày 19 tháng Ba cùng với một thư
luân lưu. Điểm lớn đầu tiên mà Đức Giáo Hoàng đề cập là cần phải
điều hòa sự bành trướng của Tu hội, để tránh lặp lại kinh nghiệm
buồn thảm của một số tu hội khác vốn thiết lập những trung tâm với
hai ba nhân sự và sau đó chịu khổ là phải rút lui. Theo sau một loạt
những bài học từ Đức Giáo Hoàng là phải đào luyện tu đức cho tập
sinh. Cha Rua phải cảnh giác, quan tâm để bảo đảm rằng chỉ giữ lại
những người có nhân đức đã được tôi luyện mà thôi. Vì vậy ngài phải
có những tập viện với một chế độ nghiêm nhặt. "Salêdiêng các con
đang nhấn mạnh loại tập viện nào?" "Và nếu như thế, nó kéo dài
bao lâu?" Đức Giáo hoàng, vốn đã phải biết rõ những 'phóng
khoáng' mà Don Bosco đã lấy trong lãnh vực này. Cha Rua trả lời:
"Vâng, thưa Đức Thánh Cha, đối với các ứng sinh cho tư cách linh
mục tập viện của chúng con kéo dài một năm, và cho ứng sinh sư
huynh, chúng con dành hai năm."
Đức Giáo Hoàng trả lời: "Tốt rồi. Nhưng con hãy khuyên những
người đang đảm trách tập viện phải bảo đảm rằng các tập sinh kinh
qua một sự thay đổi triệt để. Họ gia nhập [tập viện] bị vấy bẩn với
những cặn bã của đời sống trước kia; vì thế, họ cần được thanh tẩy
khỏi tất cả thứ đó và được canh tân trong những đường lối quên
mình, vâng phục, khiêm nhường, đơn giản và những nhân đức khác
cần thiết cho đời tu sĩ. Vì thế, tại tập viện, mối quan tâm chính, thậm
chí cha muốn nói mối quan tâm duy nhất, phải là sự hoàn thiện cá
nhân của mỗi người. Nếu họ không tỏ ra cải thiện chút nào, con
đừng ngần ngại sa thải họ.”236 Mười năm trước, Tổng Giám mục
Gastaldi đã có thể dùng cùng một ngôn ngữ đó về việc đào luyện
thiêng liêng của những người Salêdiêng. Không giống như vị tiền
nhiệm nhân lành, Đức Giáo Hoàng này không muốn cho phép cha
Rua uốn cong bất kỳ các quy luật nào; ngài lấy một lập trường khác
về việc đào luyện những ascritti [tập sinh] như ta biết. Một tập viện
không phải là một trường cao đẳng hay trung tâm trẻ, nhưng là một
thể chế có một căn tính loại biệt. Đức Lêô XIII nhấn mạnh một ai đó
muốn sống như một tu sĩ cần phải có những nhân đức thụ động. Cha
236 L. C., p. 20-24.

19.2 Page 182

▲torna in alto
182 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Rua là một người trật tự và kỷ luật, và không muốn điều gì hơn là
áp dụng những bài học đến từ một thẩm quyền cao hơn. Dưới sự
lãnh đạo của ngài đầy ngập những tập viện Salêdiêng được tổ chức
tốt; vì lẽ đó, con số của ascritti được tìm thấy trong các trường, vốn
nhận được một đào luyện chắp vá từ những Giám đốc thường được
chuẩn bị tồi, đã giảm thiểu.
Ta sẽ thấy rằng những lời khuyên này của Đức Giáo Hoàng - nếu
thực sự chúng đúng là thế như cha Rua thuật lại - phù hợp trong một
mức độ nào đó với điều vị Tân Bề Trên Cả phải nói trong lá thư luân
lưu gởi cho các giám đốc ngày 8 tháng Hai. Ngài cũng xin các
Salêdiêng thực thi sự tiết kiệm nhưng vì những lý do tài chánh. Ngài
thấy trước gánh nặng tài chánh có thể có mà Tu hội có thể phải gánh
do luật tư hữu mà ra. Kín múc từ những hướng dẫn được Don Bosco
để lại, ngài cũng cảnh giác các giám đốc: "Công việc xây cất phải
đình lại; không nhà mới nào được mở (hàm ý rằng không một sáng
kiến mới nào sẽ thẳng tiến trong những nhà hiện có mà sẽ đòi hỏi
nhân sự thêm hay chi phí lớn lao); không được gánh chịu một khoản
nợ mới nào; tuy nhiên phải quan tâm bù đắp tất cả những thuế bất
động sản, loại bỏ thái độ tự do [kinh doanh], và hoàn chỉnh những
đòi hỏi nhân sự trong những nhà hiện có". Ngài kết thúc khô khan:
"Hãy tuyệt đối làm cho những điều này thành quy luật cho tất cả các
Salêdiêng".237
Lá thư đầu tiên của ngài như Bề Trên Cả đề ngày 19 tháng Ba, lễ
Thánh Giuse. Dễ hiểu, nó không phản ánh bất kỳ những quan tâm
nào. Hai tư tưởng hàng đầu trong tâm trí ngài vào lúc khởi đầu sứ
mệnh của ngài: cổ xúy vụ việc của Don Bosco và trung thành với
gương sáng của ngài. Ngài viết rằng khi ngài ở Rôma, Hồng y
Parocchi đã khích lệ ngài, mạnh mẽ nhấn mạnh: "Tôi khuyến khích
cha cổ xúy vụ việc của Don Bosco". Như một người quen thuộc với
những thủ tục cho tiến trình phong thánh, cha Rua khích lệ các hội
viên viết xuống bất kỳ cái gì quan trọng mà họ biết về cuộc đời ngài,
những nhân đức bản lề, đối thần và luân lý, và những ân điển siêu
237 L.C., p. 5.

19.3 Page 183

▲torna in alto
Cha Rua Làm Bề Trên Cả | 183
nhiên: chữa bệnh, tiên tri, thị kiến và những gì tương tự.
Những đệ trình được gởi cho Gioan Bonetti trong khả năng của
ngài là vị Tổng Linh hướng; công việc của ngài là gom chúng lại như
một cơ bản để giới thiệu vụ việc. Cha Rua báo trước cho các chứng
nhân rằng cuối cùng họ có thể được yêu cầu tuyên thệ về xác quyết
của mình. Vì thế họ phải quan tâm đến sự chính xác hoàn toàn. Mãi
đến ngày 2 tháng Sáu năm 1890 cha Rua mới công bố sắc lệnh chỉ
định cha Gioan Bonetti là Tổng Thỉnh viên cho vụ việc.238
Cha Rua thâm tín rằng những người Salêdiêng phải thấy mình
được chúc phúc vì được là con cái của một người cha như Don Bosco.
Họ phải hăm hở nâng đỡ và khi thích hợp, phải phát triển hơn mãi
những công cuộc ngài đã khởi sự, trung thành đi theo những phương
pháp và giáo huấn của ngài, và ngay cả trong cách họ nói và hành
động "để bắt chước mẫu mực mà Chúa tốt lành đã ban cho họ nơi
ngài". Cha Rua long trọng tuyên bố: "Các con cái dấu yêu của cha,
chương trình mà cha sẽ theo đuổi bao lâu cha giữ chức vụ này sẽ là
như thế. Mục đích và quan tâm của mỗi người Salêdiêng cũng phải
là thế.”239 Ngài sẽ xếp những thay đổi mà Rôma áp lực trên ngài vốn
thách đố sự trung thành tuyệt đối của ngài với truyền thống của Don
Bosco được kể vào giữa những thử thách lớn lao của cuộc đời ngài.
Gia Đình Salêdiêng: Gia sản của Don Bosco
Như Bề Trên Cả, cha Rua thừa hưởng từ Don Bosco một cây có
nhiều cành, để canh tác và vun xới: nói tắt, một gia đình tôn giáo
chân chính, gồm Tu hội Thánh Phanxicô Salê, được biết là các
Salêdiêng, Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, và Hiệp hội
đạo đức Cộng Tác viên Salêdiêng.
Thống kê của Tu hội Salêdiêng vào thời gian đó tỏ cho thấy rằng
có tất cả 56 nhà, và 768 người tuyên khấn trọn (có 301 linh mục),
95 người tuyên khấn tạm, 276 ascritti (tập sinh) và 281 đệ tử (thỉnh
sinh, postulant). Ngoài Nguyện xá ở Valdocco và ba nhà đào luyện
ở Piedmont, 52 nhà khác được chia thành sáu nhóm tỉnh, được đặt
238 Tài liệu trong MB XIX, p. 398.
239 L.C., p. 18-19.

19.4 Page 184

▲torna in alto
184 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tên theo địa lý của chúng: Piedmont, Liguria, Rôma, Pháp,
Achentina, Uruguay/Braxin. Những nhà ở Tây Ban Nha, Anh và Áo
vẫn gắn với Tỉnh dòng Rôma.
Don Bosco đã để lại cho con cái tu sĩ của mình một chúc thư thiêng
liêng đáng ta nhắc lại ở đây; càng hơn thế nữa, vì chính cha Rua đầu
tiên và trên hết là người phải ghi nhớ nó.
Các con thân mến trong Chúa Giêsu Kitô,
Trước khi từ giã cõi trần để về nơi vĩnh cửu, cha phải chu toàn
một vài bổn phận đối với các con, hầu làm trọn ước vọng mãnh
liệt của lòng cha. Trước hết, với tấm lòng yêu mến nồng nhiệt
nhất, cha cám ơn các con đã tùng phục cha, cám ơn các con đã
dày công lao nhọc để xây dựng và làm phát triển Tu hội chúng
ta.
Cha để các con ở lại trần gian, nhưng chỉ một thời gian ngắn
thôi, cha trông cậy lòng nhân từ vô hạn lượng Chúa sẽ cho
chúng ta hết thảy một ngày kia được đoàn tụ trên nơi vĩnh
phúc. Ở đấy cha đợi các con. Cha xin các con chớ than khóc khi
cha chết. Cái chết là một món nợ ai cũng phải trả, nhưng rồi
chúng ta sẽ được ân thưởng bội hậu vì những lao nhọc chúng
ta đã chịu vì tình yêu Chúa Giêsu nhân lành, vị Thầy của chúng
ta. Thay vì than khóc, các con hãy quyết tâm vững vàng và hăng
hái trung thành với ơn gọi cho tới cùng. Các con hãy tỉnh thức
canh chừng, đừng để lòng say đắm thế gian, quyến luyến cha
mẹ hay ham muốn cuộc sống an nhàn làm lung lạc và dẫn đưa
các con tới chỗ tục hóa những lời khấn thánh thiện và như vậy
là phản bội đời thánh hiến chúng ta đã cam kết với Chúa. Chớ
gì đừng ai trong chúng con đòi lại những gì mình đã dâng cho
Chúa. Các con đã yêu mến cha trong quá khứ, hãy tiếp tục yêu
mến cha trong tương lai bằng việc tuân giữ cặn kẽ Hiến Luật
của chúng ta.
Bề trên đầu tiên của các con chết đi. Nhưng Bề trên đích thực
của chúng ta là Chúa Giêsu Kitô sẽ không chết. Ngài sẽ mãi mãi
là Thày, là Hướng đạo, là gương mẫu của chúng ta; nhưng các

19.5 Page 185

▲torna in alto
Cha Rua Làm Bề Trên Cả | 185
con hãy nhớ rằng, tới giờ của Ngài, chính Ngài cũng sẽ là Thẩm
phán xét xử và ân thưởng chúng ta, nếu chúng ta trung thành
phục vụ Ngài. Bề trên của chúng con chết đi, nhưng sẽ có một
Bề trên khác được chọn để lo lắng cho các con và cho phần rỗi
đời đời của các con. Hãy biết nghe theo Ngài, yêu mến, vâng
phục ngài; hãy cầu nguyện cho ngài như các con đã từng cầu
nguyện cho cha. Vĩnh biệt các con dấu yêu, vĩnh biệt các con.
Cha đợi các con ở trên trời. Ở đó chúng ta sẽ ca ngợi Chúa, ca
ngợi Đức Maria là Hiền mẫu và là Đấng nâng đỡ Tu hội chúng
ta; ở đó chúng ta sẽ tán dương muôn đời Tu hội của chúng ta,
vì nhờ tuân giữ Hiến Luật của Tu hội, chúng ta có phương thế
hữu hiệu và vững chắc để được cứu rỗi.240
Theo Don Bosco ước muốn, Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ được tháp
nhập hoàn toàn với Tu hội Thánh Phanxicô Salê. Do Hiến Luật của
họ, Bề Trên Cả của Salêdiêng là Bề Trên Tổng Quyền của họ và theo
một mức nào đó, Hiến Luật của họ được dựa trên Hiến Luật của
những người Salêdiêng. Công việc tông đồ cho thanh thiếu nữ của
họ phản ánh điều mà các người Salêdiêng làm cho thanh thiếu niên.
Suốt 10 năm họ đã làm việc ở Nam Mỹ. Vào thời gian đó, họ có 390
nữ tu tuyên khấn và 100 tập sinh, với cả thảy 49 nhà: 35 nhà ở Ý,
4 nhà ở Pháp, 1 nhà ở Tây Ban Nha, 6 nhà ở Achentina, 3 ở Uruguay.
Bốn trong những nhà này - Torino, Trecastagni ở Sicily, Almagro ở
Buenos Aires (Achentina), và Villa Colon ở Montevideo (Uruguay) - là
những nhà Tỉnh. Nhà Trung ương (nhà Mẹ) ở Nizza Monferrato và
nhà ở Almagro có một tập viện.
Hiệp hội đạo đức Cộng Tác viên Salêdiêng được Don Bosco thiết
lập năm 1874 và được Đức Giáo Hoàng Piô IX nhìn nhận năm 1876.
Don Bosco đã bị những vị thẩm quyền ở Rôma ngăn cản việc xen
nhập vào trong Tu hội mình những phần tử giáo dân vốn sống ngoài
cộng thể và tuân giữ Hiến Luật theo những hoàn cảnh của họ. Đây
là cách thức ngài đã vạch ra nó ở một trong những chương gây tranh
cãi nhất. Vì thế ngài soạn một quy luật biệt loại cho họ. Trong tâm
trí ngài họ giống như một loại dòng ba vốn nhắm đến sự thánh thiện
240 Memorie from 1841..., F. Motto biên soạn, 1985, p. 30-32.

19.6 Page 186

▲torna in alto
186 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
của cá nhân họ, không phải qua cầu nguyện cho bằng qua đức ái
thực tiễn đối với giới trẻ. Tự nhiên, các Cộng Tác viên trợ giúp ngài
rất nhiều trong công cuộc của ngài; điều này dẫn tới sự hàm hồ suốt
nhiều năm, cầm bằng các Cộng Tác viên như những ân nhân. Ngay
cả Don Bosco đóng góp vào điều này khi ngài kể vào giữa các Cộng
Tác viên tất cả những ai đặt mua báo Bollettino Salesiano dài hạn.241
Vị biên tập thực sự là Gioan Bonetti; chính ngài rõ ràng cũng hiểu
lầm theo những lời ngỏ, khi ngài mở đầu nói cho "các Công Tác viên
tốt lành của tôi".242
Ta phải nhấn mạnh rằng theo Don Bosco nhìn, Hiệp hội đạo đức
ngài thành lập cốt yếu là Hiệp hội vươn tới những người khác. Theo
bản quy luật 1876: "mục đích chính của Cộng Tác viên Salêdiêng là
tìm kiếm thiện ích của chính mình qua một lối sống vốn làm chúng
ta bao có thể giống lối sống của một cộng đoàn". Ý của Don Bosco
thật rõ ràng. Ngài thường nói ở nơi khác: "Nhiều người Kitô hữu tốt
lành, muốn tìm kiếm sự hoàn thiện và đạt được sự cứu rỗi, sẵn lòng
bỏ thế gian lại đằng sau để tránh đi những nguy hiểm của việc sa
ngã khỏi ân sủng, tìm thấy sự bình an và tiêu hao đời mình trong cô
tịch và yêu mến Chúa Giêsu Kitô. Nhưng không phải tất cả được gọi
tới bậc sống đó. Nhiều người bị ngăn trở vì tuổi tác, vì các hoàn cảnh
hay vì sức khỏe, và nhiều người khác chỉ là không được gọi tới lối
sống đó. Để đáp ứng ước muốn như thế, chúng ta cống hiến Hiệp
hội đạo đức Thánh Phanxicô Salê".243 Trung thành với khái niệm
nguyên thủy của chương de externis [về những 'hội viên' ở ngoài]
trong Hiến Luật sơ khởi, Don Bosco làm các Cộng Tác viên thành "tu
sĩ trong thế gian". Tuy nhiên, những khác biệt rõ ràng này vượt quá
những phân biệt quanh cha Rua khi ngài đảm nhận quyền lãnh đạo
trong Gia đình Salêdiêng. Như chúng ta sẽ thấy, chúng sẽ lại nổi lên
241 FdR 3993 B7-C4.
242 Sau khi sao chép lại nó mà không bình luận năm 1937 trong Memorie
biografiche XVIII, p. 621-623, như đã được tìm thấy giữa những giấy tờ của Don
Bosco sau khi ngài chết, Don Ceria sẽ thừa nhận 20 năm sau trong một ghi chú
trong Epistolario IV, p. 393, rằng tin giả mạo này là công trình của Gioan Bonetti,
chủ biên Bollettino.
243 Cooperatori salesiani..., Albenga, 1876, § III.

19.7 Page 187

▲torna in alto
Cha Rua Làm Bề Trên Cả | 187
tại Đại hội Cộng Tác viên tại Boulogne.
Vào thời đó, Cộng Tác viên lên tới hàng ngàn ở Ý và Pháp. Nhiều
tư giáo cũng gia nhập, cùng với những giáo dân từ khắp mọi tầng
lớp xã hội: quý phái, trung lưu, lao động, buôn bán, dân quê. Hiệp
hội mở cho cả nam lẫn nữ. Cha Ceria miêu tả Cộng Tác viên như cánh
tay nối dài [longa manus] của Tu hội giữa xã hội. Cha Rua thường xin
các Cộng Tác viên giúp đỡ khi cố gắng tổ chức họ cách tốt đẹp;
nhưng trong tầm nhìn của ngài, họ không cấu thành gì khác hơn
một đạo quân những ân nhân sốt sắng, và phải hai thế hệ khác mới
lấy lại khái niệm nguyên thủy của Don Bosco về hội dòng ba
Salêdiêng.
Đối với việc quy tụ đông đảo dân chúng như thế, nhưng phần lớn
đối với các Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, cha Rua
đúng là một người cha chân chính, yêu thương theo cách mà Don
Bosco đã tỏ bày. Cuối cùng, liệu Don Bosco đã không thì thầm vào
tai ngài trên giường chết: "Con hãy làm cho mình được yêu mến"
sao? Ngài đã khôn ngoan dõi bước chân của vị thầy thiêng liêng, mà
hình ảnh Don Bosco luôn che bóng ngài suốt những năm tháng trong
chức vụ - chỉ là một thách đố giữa nhiều thách đố khác. Ngài cấm
người ta chạm đến bất kỳ cái gì trong căn phòng mà Don Bosco qua
đời: đồ đạc phải để yên như trước. Ngài sắp đặt văn phòng của mình
trong một căn phòng nhỏ gần bên Don Bosco tiếp đón các quan
khách suốt phần sau của đời ngài. Ngài chỉ cho phép một thay đổi ở
đó mà thôi: một chiếc giường [tấm ván] được mang vào mà một sư
huynh đã làm thành một cái giường khiêm tốn để cho ngài nghỉ qua
đêm.244
244 E. Ceria, Vita, p. 148.

19.8 Page 188

▲torna in alto
188 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
15
Những Năm Tập Sự
(1888 – 1892)
Theo chân Don Bosco
Don Bosco tiếp tục sống ở Torino, trong lòng trí, vì thế những lời
của Hồng y Gaetano Alimonda dường như đúng từng chữ khi ngài
đọc bài điếu văn cho Don Bosco ở Thánh đường Mẹ Phù Hộ ngày 1
tháng Ba năm 1888, đúng 30 ngày sau khi ngài chết. Đức Hồng y
dõng dạc: "Thiên Chúa không ban cho chúng ta một tâm hồn chỉ để
khóc. Ngài ban cho chúng ta một tấm lòng, một tâm trí, một trí
tưởng mà nhờ đó làm chúng ta vơi đi u sầu với dầu xoa dịu. Ngài
ban cho chúng ta một sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh để một lần nữa
giữ chặt trong tư tưởng, trí tưởng và tâm tình chúng ta hình ảnh của
những người mà không còn ở với chúng ta nữa: sức mạnh để làm
cho những người đó lại sống động và như thể đang ở trước mắt
chúng ta. Và như thế tôi muốn thấy người bạn, vị ân nhân và người
Cha tôi biết; tôi muốn nhìn thấy và nói chuyện với Don Bosco. [...]
Tôi không biết tại sao nhưng khi giật lấy ngài xa khỏi chúng ta, khi
giấu ngài khỏi mắt chúng ta, cái chết đã tắm ngài trong ánh sáng
huy hoàng. Nay tôi sẽ nhìn lên ngài với sự kính trọng lớn lao hơn
bao giờ hết, nhưng luôn với cùng một tình yêu chân thành."245 Nếu
có người cảm thấy Don Bosco gần gũi hiện diện chói ngời, hơn tất
cả những người khác, thì đó là chính cha Rua, vốn luôn cầu xin ngài
đừng bao giờ bỏ rơi mình.
Cha Rua tìm cách để là một Don Bosco khác. Suốt vài tháng ngài
thường chủ tọa các cuộc họp của Tu Nghị Bề trên trong chính phòng
mà Don Bosco đã chết. Tinh thần hướng dẫn của ngài luôn ở giữa
245 G. Alimonda, Jean Bosco et son siècle, được dịch từ tiếng Ý, Nice, Imprimerie
salésienne du Patronage St Pierre, 1888, p. 5-6.

19.9 Page 189

▲torna in alto
Những Năm Tập Sự | 189
họ, vì đấng kế vị của ngài muốn thế. Uy quyền của Don Bosco hiện
diện vô hình phải hướng dẫn những chọn lựa họ thực hiện tại đó.
Chắc chắn có khác biệt rõ nét về tính khí nơi vị lãnh đạo mới. Dân
chúng đến gần cha Rua khắc khổ, gầy gò một cách ít thoải mái hơn
họ đã làm với Don Bosco luôn niềm nở. Dù sao, lời khuyên của vị
thầy, lập lại trên giường hấp hối, "Hãy làm cho mình được yêu mến"
luôn ở trong tâm trí ngài, và tạo nên những hiệu quả tốt. Dân chúng
không thất vọng vì ngài: cha Rua không bao giờ là một người mất
tự chủ vì sự nóng giận chính đáng hay lên giọng trong những bộc
phát không đúng lúc. Ngài có thể ổn định những khác biệt - và có
nhiều - với sự bình thản đến nỗi chưa hề xúc phạm những người bất
đồng với ngài.
Mỗi năm những ngày 23 và 24 tháng Sáu, lễ Thánh Gioan Tẩy
giả, thường gợi nhắc cách riêng cho các cựu học sinh những lễ truyền
thống tôn vinh người cha và thầy của họ. Người ta quyết định tiếp
tục truyền thống này như một cử hành chung cùng chúc mừng cha
Micae Rua. Một cách dễ hiểu điều này không hề nghi vấn trong năm
1888, năm than khóc; nhưng 1889 là một câu chuyện khác. Ngày
22 tháng Sáu, trong khi vui tươi chuẩn bị ngày lễ, nhà nguyện tại
Valsalice có chứa quan tài của Don Bosco, và người ta ước định có
2000 người quy tụ. Đây là một nhà nguyện có ý nghĩa rất nhiều với
cha Rua: ngài cử hành thánh lễ đầu tiên ở đó vào lúc 5 giờ sáng hôm
sau. Các cựu học sinh của "Nguyện xá Salêdiêng" có một cuốn sách
nhỏ hấp dẫn được in "để kỷ niệm cha Gioan Bosco đáng kính và cha
Micae Rua mến yêu của chúng ta, ngày 24 tháng Sáu năm 1889."246
Cuộc cử hành tuyệt vời xảy ra tại Nguyện xá Valdocco suốt hai ngày:
ngày 23 trình bày những bài nói chuyện, còn ngày 24 dành cho văn
nghệ gồm những trước tác văn chương và âm nhạc. Những ghi nhớ
quan trọng của những ngày lễ này được tìm thấy trong những nhắc
nhớ sau: một sưu tập ảnh được các cựu học sinh in ấn;247 một bó hoa
thiêng gồm "hiệp lễ và viếng Thánh Thể từ các học sinh tại La Spezia
246 Torino, Tipografia Salesiana, 1889, 24 p., FdR 2766 A7-B6.
247 FdR 2766 D9-10.

19.10 Page 190

▲torna in alto
190 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
dành cho cha Rua mến yêu, năm 1888-89;248 một sưu tập ảnh 16
trang dành cho "cha Micae Rua, từ những con cái của ngài tại
Alassio", với những chữ ký của thầy cô, học sinh và các Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu;249 cuối cùng, và cần quan tâm đặc biệt, một
tờ in khổ lớn tựa đề "niềm kính mến và tri ân con thảo dành cho cha
Micae Rua ngày 23 tháng Sáu năm 1889, ngày lễ hội hằng năm tôn
kính cha Gioan Bosco, với bài hát 12 câu được soạn thảo cho dịp này
và được J.B.L..., nghĩa là Gioan Tẩy giả Lemoyne, ký; ngài quen sáng
tác một bài thơ vào những dịp đặc biệt. Cha Rua khắc khổ, vốn luôn
còn được đặt trung thành với gương sáng của Don Bosco, rất cảm
động bởi một vài câu.250
Hãy lau khô giọt lệ,
Đừng than khóc nữa.
Với hạc cầm dư dương hãy tấu lên cho mọi người
những điệu hát năm xưa.
Hãy lại hát vang lên
Những nốt nhạc vui say tình mến.
Don Bosco vẫn sống mà,
Ngài không chết nữa.
Vui lên nào bạn trẻ nhé.
Những cánh thiên môn chốn xa vời vợi
Nay rộng mở thênh thang.
Trong ngôi nhà thân thương đây
Ngài tiếp tục sống trong vị lãnh đạo chúng ta
Thiên Chúa duy nhất đã ban cho bạn,
Đã sớt chia với bạn
Điều thiện hảo nhất của chính ngài.
Và rồi hãy dâng lên ngài vị lãnh đạo chúng ta
Nay là cha chúng ta,
Tâm hồn chúng ta rạo rực ca lên:
248 FdR 2758 B8-C4.
249 FdR 2758 C5-D8.
250 FdR 2758 B6-7.

20 Pages 191-200

▲torna in alto

20.1 Page 191

▲torna in alto
Vì quanh đây chúng ta vẫn có
Tinh thần và cõi lòng
Don Bosco yêu dấu.
Những Năm Tập Sự | 191
Nụ cười ngài
Thắp sáng khuôn mặt bạn
Lời ngài sao dịu dàng
Thoát ra nơi miệng bạn
Chạm sâu tới tâm hồn.
Cùng khóe nhìn của ngài,
Thắp sáng ngọn lửa hăng nồng
Trong chốn sâu thẳm tâm hồn tôi...
Truyền thống đó tiếp tục: ngày 23 và 24 tháng Sáu vẫn còn là
một ngày lễ chung tôn dương Don Bosco và cha Rua. Dẫu không hề
bị mất kiểm soát bởi những lời tán dương, cha Rua có đủ lý do để
tin rằng mình theo đúng đường, đường của cha và vị thày của mình.
Gánh nặng nợ nần
Sau khi Don Bosco chết, tiền bạc biếu tặng xuống dốc trầm trọng.
Nhân dịp tĩnh tâm mùa hè năm 1888, cha Rua cắt nghĩa cho các
giám đốc rằng những biếu tặng như thế rớt xuống khoảng 50 phần
trăm. Don Bosco có bí quyết để mở hầu bao; đấng kế vị ngài phải
hết sức cố gắng để thực hiện như ngài đã làm cả trong lãnh vực này
cũng như trong tất cả những lãnh vực khác. Cha Ceria nêu rõ khoảng
600.000 lire về những khoản nợ ở trung tâm Salêdiêng tại Torino -
một số tiền khổng lồ đối với một Tu hội. Kinh tế phải là việc thiết
yếu quan trọng. Như chúng ta biết, trong lá thư luân lưu đầu tiên
sau ngày Don Bosco chết, cha Rua đã chỉ thị các giám đốc phải ngưng
lại mọi việc xây cất, không mở một nhà mới nào, không mắc vào
một món nợ mới nào, phải quan tâm "bù đắp tất cả những thuế bất
động sản, để chấm dứt bất kỳ thái độ tự do kinh doanh nào, và bố
trí những yêu cầu cá nhân trong những nhà hiện có."251 Ngày 10
tháng Ba năm 1888, một lá thư luân lưu từ cha Rua được in và gởi
251 Thư luân lưu ngày 8 tháng 2, 1888, L.C., p. 3-5.

20.2 Page 192

▲torna in alto
192 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tới các Cộng Tác viên và ân nhân, xin giúp đỡ để đáp ứng nhu cầu
của hàng triệu người kém may mắn khắp thế giới.252
Tại trung tâm Tu hội phải trả những món nợ chất chồng vì việc
xây dựng Thánh Tâm [Sacro Cuore] ở Rôma. Người trong tình trạng
khó khăn, cha Dalmazzo, đã bị buộc phải ngưng toàn công việc nhà
lưu xá mà Don Bosco rất mong muốn vì thiếu nguồn tài chánh. Hơn
nữa có những cuộc xuất phát truyền giáo ngày 11 tháng Ba, rồi 30
tháng Mười, và những việc chuẩn bị đang tiến hành cho cuộc xuất
phát lớn lao ngày 7 tháng Giêng năm 1889, vốn sẽ huy động 30
Salêdiêng và 20 Con Đức Mẹ Phù Hộ. Những cuộc mạo hiểm này
đòi phí tổn khổng lồ.
Để tài trợ cho lưu xá ở Rôma, "Công cuộc đạo đức của Thánh Tâm"
[Pia Opera del Sacro Cuore] được thành lập. Hơn nữa, cha Rua học
nghệ thuật đi xin. Chúng ta thấy điều này trong tháng Giêng năm
1889, ở cuối lá thư đầu tiên, ngài gởi đi một 'hoa thiêng'. Như Don
Bosco đã tường trình về những trách nhiệm mới đây và những dự
phóng tương lai, và sau một đoạn dài về "bác ái" như "một phương
thế hữu hiệu để nâng đỡ chúng", ngài cống hiến cho các Cộng Tác
viên ba đề nghị cụ thể: "1. Mỗi ngày, mỗi tuần hay mỗi tháng, để ra
một cái gì nâng đỡ công cuộc chúng ta... 2. Thỉnh thoảng, làm một
hy sinh hay tiết kiệm nào đó cho mục đích này: chẳng hạn, anh chị
em có thể không du lịch, bớt giải trí, không mua áo quần mới nào
đó, hay ăn tối đơn giản hơn, v.v. 3. Đối với bất kỳ ai muốn từ bỏ
một số tài sản nào đó của mình cho một công cuộc bác ái, cha cho
lời khuyên này: hãy làm điều đó khi anh chị em vẫn còn sống; nó có
nghĩa rằng anh chị em sẽ cho ít hơn, nhưng anh chị em sẽ chắc chắn
nhìn thấy rằng những ước muốn của mình đã được thực hiện..."253
Tới cuối năm 1891, cha Rua bị sốc, khi hoàn toàn bất ngờ, văn
phòng tài chính của Torino cho ngài biết rằng với danh nghĩa chủ
nhân của những nhà ở Ý thuộc về Tu hội Salêdiêng và Con Đức Mẹ
Phù Hộ cá nhân ngài nhận được một yêu cầu đóng thuế là 322.500
252 FdR 3993 B5-6.
253 «Lettre de l'abbé Michel Rua aux coopérateurs salésiens», Bulletin salésien, tháng
Giêng, 1889, p.7-9.

20.3 Page 193

▲torna in alto
Những Năm Tập Sự | 193
lire. Đây chỉ là khởi đầu của một cuộc tranh luận dai dẳng. Với sự trợ
giúp của luật sư Charles Bianchetti, ngài khiếu nại lên chính quyền
thành phố đó. Một loạt những phán quyết theo sau, trước tiên từ tòa
án Torino, rồi tòa phúc thẩm, và cuối cùng tòa phúc thẩm tối cao,
tất tất đều từ trong Torino. Nhưng như Don Bosco trong loại việc
này, ngài không bị đánh bại và nại tới tòa án tối cao ở Rôma. Đồng
thời, không xao nhãng làm mọi sự có thể được theo kiểu con người,
ngài phó thác toàn vụ việc cho các hội viên cầu nguyện. Thư ký riêng
của ngài, Angelo Lago, liên hệ với người đứng đầu chính phủ, Gioan
Gioliti (1842-1928). Vì thế cha Rua cho ngài một bản tường trình đầy
đủ, cập nhật về vấn đề đó cho vị thứ trưởng. Gioliti quy chiếu nó tới
tòa án tối cao để họ cho ý kiến. Họ cho phép vị đại diện của họ, vốn
ra lệnh cho văn phòng tài chánh ngừng tấn công cha Rua. Ít lâu sau,
vị chủ tịch ở Torino cố mời cha Rua đến thăm ông và chính ông thông
tin cho ngài về kết quả chung cục của cuộc tranh luận. Bề Trên Cả,
không bao giờ có tiền dự phòng, được an ủi rất nhiều ở chuyện
này.254
Vấn đề các môn học của Giáo hội
Các môn triết học và thần học của Giáo hội chắc chắn không là ưu
tiên cao đối với Don Bosco, người đã có những kỷ niệm không hay
về những gì ngài đã phải chịu tại chủng viện ở Chieri. Khi quy chiếu
tới Rosmini, những lý luận suy lý thường khiến ngài ngủ, ngài nói
cho ta như vậy. Thực sự, ngài chỉ quan tâm đến thực hành mục vụ bí
tích sám hối, học Kinh thánh và lịch sử Giáo hội; những đề tài ấy lại
bị xao nhãng trong các chủng viện thời đó. Như vậy, trình độ kiến
thức triết học và thần học giữa những người Salêdiêng bị bỏ ngỏ cho
phê bình. Don Bosco phải cầu nguyện nhiều trước khi thêm một
chương về học tập vào Hiến Luật của mình. Với luật trừ là cha
Piscetta, vốn chuyên về thần học luân lý, những học giả quanh cha
Rua - Francesia, Celestine Durando, Gioan Cagliero, Lemoyne và, dĩ
nhiên, Barberis - sành sõi trong nghệ thuật và văn chương, nhưng
chắc chắn không phải là triết gia hay thần học gia. Người uy tín nhất
254 Chứng từ của Melchior Marocco, Positio super virtutibus, 1947, p. 513-514;
được lấy từng lời từ E. Ceria, Vita, p. 211.

20.4 Page 194

▲torna in alto
194 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
trong những môn học này dường như là Phanxicô Cerruti, mà sau
này được chỉ định làm cố vấn lo về học vụ.
Đức Giáo hoàng Lêô XIII biết đến tình trạng không thích đáng này.
Ngay sau khi Don Bosco chết, ngài nói cho Đức ông Manacorda rằng
ngài ước muốn thấy sự hồi sinh tri thức trong Tu hội Salêdiêng qua
việc huấn luyện những người trong các khoa học suy lý. Biên bản
của Tu Nghị Bề trên ngày 21 tháng Tám năm 1888 cho thấy rằng
một vài hội viên được đề xuất đi học tại đại học Gregorian ở Rôma.
Cha Rua không chút trì hoãn ghi danh cho hai phó tế, Giacôbê
Giuganino và Angelo Festa, cho niên khóa sắp tới. Mỗi người được
dành một phòng ở lưu xá tại Sacro Cuore. Ngày 29 tháng Giêng, cha
Rua gởi cho các giám đốc một thư luân lưu ngắn song gãy gọn bàn
riêng đến học thần học trong những nhà tương ứng của họ.255
Vấn đề học tập những môn của Giáo hội sẽ thống trị Tổng Tu Nghị
tại Valsalice vào tháng Chín năm 1889. Để hiểu bối cảnh những thảo
luận đó, biết về tình trạng lúc đó, vốn sẽ được sửa chữa đúng lúc,
quả là quan trọng. Lúc đó trong Tu hội Salêdiêng có những học viện
triết học. Nơi đây, các tư giáo tham dự các khóa học do những thầy
giáo có bằng cấp đảm nhận. Tuy nhiên, khi xong những khóa học
như thế, các tư giáo tiếp tục học thần học ngay; vì thiếu vắng những
học viện cho môn học này, việc đào luyện của họ lệ thuộc vào sự sẵn
có may rủi của những nguồn thích đáng trong các nhà họ được gởi
tới. Một ít người ưu tiên được gởi tới đại học Gregorian; số khác tham
dự những khóa học ở một chủng viện địa phận. Bất cứ ở đâu có thể
quy tụ lại một số hội viên nào đó từ những nhà chung quanh, chẳng
hạn như Nguyện xá Torino, Valsalice, Marseilles hay Buenos Aires,
các lớp học được tổ chức cho họ với những giáo sư đến từ trong Tu
hội hay từ bên ngoài. Trong trường hợp những nhà bị cô lập, vốn
ngày càng trở nên nhiều hơn, việc dạy học được khoán cho những
linh mục có sẵn đấy tại địa phương. Quy luật buộc rằng, dù bất kỳ
tình trạng nào, các tư giáo phải có hai hoặc ba kỳ thi một năm (lần
thứ ba trong biến cố của những khóa học được thực hiện trong những
ngày nghỉ); những người khảo thí được Tổng Cố vấn học vụ hay Giám
255 L.C., p. 30-31.

20.5 Page 195

▲torna in alto
Những Năm Tập Sự | 195
tỉnh liên hệ chỉ định. Như một ghi chú cuối cùng, chúng ta phải nhận
xét rằng những môn thần học, được đặt nền, không phải trên quá
nhiều các bài giảng giải (lectures) nhận được, cho bằng trên một thủ
bản thần học, những nội dung của nó phải được ghi nhớ (thuộc
lòng).
Khóa thứ nhất của Tổng Tu Nghị được triệu tập ngày 3 tháng Chín
năm 1889 nghiên cứu vấn đề sau: "Việc học thần học và triết học.
Có phải là lúc thay đổi sách giáo khoa không? Cái gì sẽ thay thế
chúng? Ta có thể đưa vào những cải thiện nào cho việc học thần học,
triết học và chú giải Kinh Thánh?" Mục tiêu từ ban đầu là thiết lập
những kinh viện thần học chân chính, trong khi đó phải cải thiện
hiện trạng. Nó lệ thuộc rất nhiều vào việc chọn các thủ bản. Ủy ban
được thiết lập dưới sự chủ tọa của Phanxicô Cerruti thảo luận cuốn
Compendium theologiae của Gioan Perrone mà họ xét là hoàn toàn
khó khăn, rồi thủ bản thần học luân lý do Del Vecchio mà họ nhanh
chóng ổn định. Đối với sách của Perrone, họ thấy không thể đạt được
một thỏa thuận về cuốn sách thay thế mà họ đều thấy là cần. Vấn đề
được chuyển tới Tu Nghị Bề trên, nhưng không đạt được giải pháp
nào mãi tới 24 tháng Mười sau đó khi người ta đề nghị thử nghiệm
ba tác giả trong suốt năm học: Sala tại Nguyện xá, Hurter tại Valsalica
và Schoupe tại Marseilles. Cuối cùng cuốn Medulla Theologiae
Dogmaticae [yếu tính của thần học tín lý] của Hugo Hurter (1832-1914)
đã thắng. Cuốn Medulla là một phiên bản giản lược cuốn Theologiae
dogmaticae compendium (3 vol., Innsbruck, 176-1878), nghĩa là một
tập san thần học tín lý được mau chóng thừa nhận trong các chủng
viện bởi vì tài liệu tham khảo rộng khắp, sự rõ ràng và sự nối kết
nhạy bén của nó với tác vụ mục vụ.
Các sinh viên Salêdiêng có khả năng trung bình, vốn thường phải
tự mình đương đầu với những đề tài ít hấp dẫn đối với họ, có thể dễ
sử dụng cuốn Medulla, bộ sách một tập. Một dấu về mối quan tâm
được cảm nhận trong lãnh vực này là một thư luân lưu gởi cho các
Giám tỉnh từ vị Phó Tổng bề trên là cha Belmonte, đề ngày 28 tháng
Giêng năm 1891; lá thư chứa đựng lời yêu cầu từ cha Rua về danh
sách xác đáng gồm những nhà mà không có khóa học thần học

20.6 Page 196

▲torna in alto
196 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nào.256 Vào cuối năm 1891, trong một loạt "những chuẩn mực cho
Giám tỉnh", chúng ta lại thấy cha Rua tuyên bố rằng "trong một vài
trường, các khóa học thần học và phụng vụ" bị "xao nhãng nghiêm
trọng". Ngài bảo họ: "Hãy bảo đảm phải luôn cung cấp những khóa
học như thế, và phải dành cho chúng tầm quan trọng đáng được."257
Thực thế, trong phần đa các trường hợp, các tư giáo Salêdiêng trẻ
đang nốc những bài học qua công việc khó nhọc, với ít lợi ích cho
chính mình, và với những hệ quả tồi tệ. Điều này nổ ra trong một
thư luân lưu từ cha Rua gởi các Giám đốc về việc học thần học. Ngài
nói, tại các kỳ khảo thí, các sinh viên cho thấy "một sự hiểu biết
không thích đáng" về những đề tài được nghiên cứu, và như vậy
không thể trả lời "rõ ràng và gọn ghẽ."258 Việc huấn luyện các sinh
viên thần học sẽ là một quan tâm thường xuyên đối với cha Rua;
ngài mong đợi vị cố vấn về học vụ, cha Phanxicô Cerruti, trợ giúp
hữu hiệu, như chúng ta xem thấy từ bộ sưu tập những lá thư luân
lưu của ngài và những chương trình dạy học, trải ra từ năm 1885
đến 1917, được Jose Manuel Prellezo xuất bản. (Rome, LAS, 2006).
Học chữ (học văn chương)
Thế giới Salêdiêng, nam hãy nữ, chính yếu gồm có các giáo viên
đứng lớp. Trong một thư luân lưu gởi các Salêdiêng về việc học chữ
đề ngày 27 tháng Mười Hai năm 1889, cha Rua nhất quán dùng
Don Bosco là điểm quy chiếu của mình. Những khác biệt khá nghiêm
trọng đã nảy sinh giữa nhân viên Salêdiêng dạy học ở Ý về hệ thống
giáo dục và những cổ điển Latinh. Cha Rua gợi nhớ Don Bosco khôn
ngoan can dự vào cuộc tranh luận nổ ra 40 năm trước giữa viện phụ
Gaume và Hồng y Dupanloup. Đó là cuộc tranh cãi được khuấy lên
do Lu-y Veillot sau khi phát hành cuốn sách Le Ver rongeur ou le
paganisme dans l’éducation (1852) (The Canker or paganism in education
- sự thối nát hay chủ nghĩa ngoại giáo trong giáo dục) của viện phụ mà
ngài nói là đang đầu độc tâm trí giới trẻ qua tiếng Latinh và các bản
văn Hy lạp cổ điển. Ngay cả Đức Giáo hoàng Piô IX đã cảm thấy
256 FdR 4064 B10-C1.
257 See L.C., p. 70.
258 Thư luân lưu ngày 29 tháng Giêng, 1889, L. C., p. 30.

20.7 Page 197

▲torna in alto
Những Năm Tập Sự | 197
buộc phải xen vào. Don Bosco khuyến khích các Salêdiêng ca ngợi
những phẩm chất không thể chối bỏ được của họ hơn là xem thường
các tác giả Latinh Kitô hữu như thánh Giêrôm; vì các tác phẩm cổ
điển phải được học hỏi, ngài đã thiết lập việc biên soạn một tuyển
tập những tác giả đời, được sàng lọc đúng mức tất cả những gì có
thể xúc phạm. Cha Rua chỉ dạy, nếu chúng ta trung thành với Don
Bosco, chúng ta hãy hiệp nhất áp dụng những nguyên tắc của ngài.
Những tác giả cổ điển ngoại giáo thì cần thiết để dạy chúng ta sự
bóng bảy của tiếng Latinh, nhưng các tác giả Kitô hữu Latinh cũng
cần thiết bởi vì họ là những phương thế chuyển giao chân lý. Thày
giáo phải học để rất kính trọng giữ gìn những bút tích của các Giáo
phụ.
Cũng có lý luận về tiếng Ý: một số người muốn bám chặt vào văn
phong cổ điển, đang khi những người khác muốn trở nên quen thuộc
và diễn đạt chính mình bằng ngôn ngữ của những tác giả tân thời.
Ở đây cha Rua lại quy chiếu đến Don Bosco, người đã học những tác
phẩm cổ điển tiếng Ý với sự sâu xa nào đó, và thậm chí trong tuổi
già, ngài vẫn có thể đọc những đoạn dài từ Dante. Nhưng không
phải mọi sự trong văn chương cổ điển đều thích hợp với người trẻ.
Vì thế, ngài đưa ra một Biblioteca dei classici italiani, được tuyển lựa
thích đáng và như vậy được sàng lọc. Bất kỳ ai đặt toàn vẹn những
tác phẩm này vào tay giới trẻ chắc chắn đi ngược lại những ước muốn
của Don Bosco.
Ngài thật buồn khi thấy rằng một số nhà đã giới thiệu những tác
giả tân thời, nổi tiếng vì họ thù hằn tôn giáo cũng như khinh thị
những quy luật đạo đức thông thường nhất. Hội nghị Bề trên 21
tháng Chín năm 1888 xem việc đưa những tác phẩm của Carducci và
Leopardi vào tập viện là tệ hại.259 Cha Rua thốt lên: "Don Bosco hẳn
sẽ buồn biết mấy khi nghe biết những chuyện như thế!" Để giới hạn
tất cả văn chương không đáng ao ước, vào đầu niên học, ngài đòi
hỏi mỗi thiếu niên phải liệt kê những sách em mang theo với mình.
Tư tưởng chung cục của Bề Trên Cả là lưu ý chống lại việc bắt bẻ
công cộng. Không thày giáo nào được phép công khai chỉ trích một
259 Verbali del Capitolo Superiore, FdR 4240 E7.

20.8 Page 198

▲torna in alto
198 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đồng nghiệp vì phương pháp dạy học hay đề tài bàn thảo. Họ phải
nói với người đó diện đối diện hay xin một người bạn tốt nói cho
người đó một lời. Sau cùng, cha Rua nói: "Hãy để đức ái và ân sủng
của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta ngự trị trong tâm hồn chúng ta
mọi lúc."260
Mười năm sau, ngày 6 tháng Giêng năm 1890, ngài gởi một thư
luân lưu tương tự, được in ấn, lần này cho con Đức Mẹ Phù Hộ,
"những người con dấu yêu trong Đức Giêsu Kitô". Ngài muốn bảo vệ
họ khỏi những nguy hiểm nghiêm trọng mà, theo ngài, đe dọa các
Nữ tu và các học sinh của họ, cả nội trú lẫn học sinh ban ngày. Ngài
thâm tín rằng cơn bão lụt của những tờ báo chẳng ra gì và thậm chí
tệ hơn nữa các tiểu thuyết đã tạo nên những bệnh dịch tệ hại nhất
của xã hội tân tiến. Những ấn phẩm nguy hại này đã lan truyền xa
rộng, trong thành phố lẫn làng mạc và thậm chí chính giữa những
vùng quê, các hiệu sách, quầy bán và trạm xe lửa. Ngài lại quy chiếu
đến Don Bosco khi ngài đã đề xướng cách thức xử lý tai họa loại này.
Như người ta đã quen với văn chương nước Ý, ngài hoàn toàn biết
về cạm bẫy của nó; vì lẽ đó ngài đã sàng lọc những biên soạn được
xuất bản trong "thư viện của những sách văn chương cổ điển Ý cho
người trẻ sử dụng". Ngài thực tiễn khuyên bảo là trong lớp học, thày
giáo đừng bao giờ trích dẫn từ một cuốn sách đáng chê trách, hay
thậm chí tệ hơn nữa, khen ngợi cuốn sách đó; ở đâu cần thiết, tốt
hơn nên nêu bật giáo thuyết lành mạnh cũng như chặn trước bất kỳ
nguy hại nào. Nói chung, người ta nên cung cấp thuốc giải cho
những ấn phẩm mang tính xúc phạm bằng cách khuyên nhủ đọc
sách tốt, chẳng hạn như Catholic Readings. Lá thư dài của ngài tiếp
tục khuyên bảo thày cô và giáo lý viên tương tự với điều ngài dành
cho các Salêdiêng, đặc biệt bàn đến điều sau đây: Anh chị em đừng
bao giờ đối xử thô bạo với trẻ em, đừng bao giờ hạ nhục chúng, hãy
quan tâm cách riêng tới những em nghèo nhất, và cuối cùng, bất kỳ
cái gì xảy ra, tránh phán đoán lẫn nhau vội vàng. Lá thư của ngài
đầy bốn trang được trình bày tốt đẹp.261 Ngay từ đầu, cha Rua đang
260 «Studi letterarii», 27 tháng 12, 1889, L. C. p. 35-44.
261 Torino, Tipografia salesiana, FdR 3987 D3-5.

20.9 Page 199

▲torna in alto
Những Năm Tập Sự | 199
nhập thể một loại huấn quyền mang tính tri thức vào trách vụ của
ngài như Bề Trên Cả của hai Tu hội.
Hướng tới một sự lãnh đạo khôn ngoan
Các Giám tỉnh và giám đốc tạo nên một liên hệ bất khả thế giữa
Bề Trên Cả và hội viên. Từ thời Tổng Tu Nghị đầu tiên năm 1889,
cha Rua cống hiến cho họ nhiều lời khuyên, được thư ký ghi lại đầy
đủ bao có thể. Trong sự đơn giản rõ ràng chúng minh họa chính tư
tưởng của ngài về sự điều hành Tu hội tốt đẹp.
Ngài nói cho họ: "Các giám đốc là một thứ đèn báo hiệu cho
cộng thể mình: constitui te in lumen gentium [Ta đã đặt ngươi làm ánh
sáng cho muôn dân]. Các hội viên tuân giữ mọi sự từ Giám đốc của
mình, cho tới tận chi tiết nhỏ nhất - cách thức ngài nói với họ, ngài
đối xử với họ hay giải trí với họ thế nào... tôi biết từ kinh nghiệm
của mình. Ngài phải nhớ đến họ và bảo đảm rằng họ cũng chấp
nhận cần phải làm chứng tốt đẹp cho người khác trong mọi việc họ
làm. Họ phải cử hành Thánh Lễ và cầu nguyện kinh nhật tụng cách
đạo đức, chăm chú và sốt sắng [pie, attente ac devote]; nói tắt, họ hãy
nên gương mẫu đối với việc đạo đức. Tôi nhắc nhớ anh em lời khuyên
thứ nhất trong những lời khuyên tín cẩn Don Bosco đã để lại cho các
giám đốc: Niente ti turbi [Đừng để điều gì làm con xao xuyến]. Đó là
một nguyên tắc của Thánh nữ Têrêsa và Thánh Phanxicô Salê. Bằng
cách đó chúng ta có thể có một tâm trí thanh thản khi phán đoán và
quyết định liên quan đến cộng thể và bất kỳ cái gì khác nằm trong
trách nhiệm của chúng ta. Anh em hãy luôn điềm đạm: nó thật cần
thiết và rất nhiều điều tốt từ đó mà ra. Nó khởi hứng sự tín nhiệm,
và chiếm được lòng các hội viên. Giám đốc phải dẫn đường nhờ tinh
thần làm việc của họ. Tôi biết họ đã làm nhiều điều tốt, và tôi chỉ có
thể cám ơn Chúa về điều đó. Deo Gratias. Đồng thời họ phải cẩn trọng
đừng muốn làm mọi sự. Phải hơn, họ phải chia sớt công việc với
những người khác. Đó là bí quyết của thành công. Trong một xưởng
thợ, nếu vị trưởng xưởng tự mình làm, họ sẽ làm việc với hai bàn tay
của mình thôi; nếu họ chia sẻ công việc, họ sẽ làm việc với bàn tay
của tất cả mọi người. Nếu giám đốc đảm nhận một công việc bên
ngoài nhà vốn ngăn cản ngài chu toàn bổn phận ngài có trong nhà,

20.10 Page 200

▲torna in alto
200 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngài phải bỏ ngay. Ngài sẽ liệu sao các sách vở của vị Phó Bề trên
phải ngăn nắp, lưu ý về cách thức Giám linh thực hiện công việc, và
kiểm soát các xưởng thợ vận hành. Khi không bị công việc thúc ép,
ngài có thể hướng dẫn những người khác tốt đẹp hơn. Don Bosco
luôn muốn như thế đó, nhất là ở nơi có những tư giáo trẻ đến từ việc
học triết của họ; đoạn ngài có thể đáp ứng tốt đẹp những nhu cầu
của cộng thể mình.262
Trong hình ảnh Giám đốc này, ai lại không thể thấy hình ảnh của
cha Bề Trên Cả Rua muốn ở giữa Tu Nghị Bề trên của mình? Ngài
nổi bật bằng gương sáng làm việc và tinh thần cầu nguyện, việc đó
không ai có thể chối cãi được. Cha Rua là một đèn hiệu thiêng liêng
cho những người giúp đỡ thân cận của ngài, và ngài cho thấy sự
phân định khi phân nhiệm cho những người khác.
Sau khi cha Bonetti qua đời năm 1891 và cha Phaolô Albera được
chỉ định năm 1892, Tu Nghị Bề trên mặc lấy một dạng bền vững
hơn. Năm 1893, các thành viên của nó gồm: Đaminh Belmonte, Phó
Bề trên (Prefect); Phaolô Albera, Giám linh, Antôn Sala, Quản trị viên
(Quản lý); Phanxicô Cerruti, cố vấn học vụ; Giuse Lazzaro, cố vấn lo
các trường kỹ thuật; Celestine Durando, Cố vấn (thực sự, vị cố vấn
này không có hồ sơ (portfolio) là Giám tỉnh của một Tỉnh dòng độc
đáo [sui generis] được biết đến như [Tỉnh dòng] "các Thánh Nam Nữ"
gồm các nhà rải rắc khắp Thụy sĩ, Tây Ban Nha, Anh, Ba lan, và cuối
cùng Châu phi và Á châu); cuối cùng, Gioan Tẩy giả Lemoyne, thư
ký. Được thu nhận vào hội nghị riêng là Giulio Barberis, Giám tập,
Caesar Cagliero, Tổng Đại diện ở Rôma, và Gioan Marenco, Tổng đại
diện cho Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Bề Trên Cả xin mỗi thành viên của hội đồng thông tri cho mình
công việc của họ, nhưng ngài cẩn trọng không xâm phạm vào lãnh
vực trách nhiệm của họ, như ta có thể nhìn thấy trong những liên hệ
của ngài với cha Cerruti, cha Durando và cha Barberis. Nơi đây ngài
cho thấy mình là một môn đệ trung thành của Don Bosco; Don Bosco
muốn có ở đầu Tu hội của mình không phải là một vị đại diện được
262 FdR 3973 B10-11.

21 Pages 201-210

▲torna in alto

21.1 Page 201

▲torna in alto
Những Năm Tập Sự | 201
vây quanh bởi một "hội đồng" (council) bộ trưởng, nhưng là một "Tu
Nghị Bề trên", nghĩa là, một cơ quan tập thể mà vị đại diện chỉ là
một primus inter pares [người đầu tiên giữa những người anh em (bằng
nhau)], mặc dù quan điểm này của cha Rua hiếm được ta nói đến.
Về điều này một thí dụ xảy ra từ 25 tháng Năm năm 1888, khi Tu
Nghị Bề trên bàn thảo đề nghị của cha Alberione là chuyển giao nhà
máy in cho các Salêdiêng vốn đã can dự vào việc in Osservatore
Cattolico. Cha Rua có khuynh hướng chấp nhận; Cagliero chống lại
điều ấy: ngài nhắc nhớ họ rằng Don Bosco không có liên quan đến
việc in một tờ báo. Hội đồng thuận theo khóe nhìn của Cagliero. Nếu
Tu hội bành trướng và vững vàng dưới thời cha Rua, như Bề Trên Cả,
thì nó mắc nợ không nhỏ đối với khuynh hướng cá nhân và sự khôn
ngoan trong hình thức lãnh đạo tập thể của ngài.
Ngài nắm quyền với bàn tay chắc chắn. Chúng ta thấy điều này
trong những tháng đầu tiên trong chức vụ ấy khi ngài đưa ra "những
nguyên tắc" cho Giám tỉnh và Giám đốc về 'việc dùng sổ sách những
đặc ân' (8 tháng Sáu năm 1888),263 và về 'sổ sách quản trị' (29 tháng
Mười Một năm 1888);264 cũng vậy khi ngài đòi các Giám tỉnh, được
phát hành qua vị Phó Tổng Bề trên Belmonte, phải hàng năm thăm
viếng mỗi nhà vào khoảng tháng Mười Hai/Giêng, để minh định rõ
điều gì từng hội viên sở hữu, và xin mỗi Salêdiêng đến tuổi thành
niên phải soạn thảo một chúc thư và di chúc, và phải gởi một bản về
Torino.265 Những quy luật này, hẳn được sưu tập với sự trợ giúp của
Tu Nghị Bề trên của ngài, được Bề Trên Cả ký nhận và cho phép thích
đáng.
263 Sự can thiệp được sao chép lại trong Annali II, p. 40-41.
264 L. C.,. p. 25-29.
265 Thư luân lưu Belmonte cho các Giám tỉnh ngày 23 tháng Mười Một, 1889. FdR
4064 B2.

21.2 Page 202

▲torna in alto
202 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
16
Đời Sống Thường Nhật
Của Bề Trên Cả tại Valdocco
Cha Rua, cha Giải tội266
Như một quy luật cha Rua khởi sự một ngày với nguyện ngắm
cộng thể, lúc 5g30 vào mùa đông và 5 giờ vào mùa hè; sau đó ngài
thường ngồi giải tội trong phòng thánh trước kia. Có những vị giải
tội khác trong nhà thờ, nhưng theo cha Ceria, hầu hết các hội viên
và đa số những trẻ học nghề và học sinh tham dự một trong hai
Thánh Lễ tiếp sau, đều đến với ngài. Giải tội tiếp tục mãi đến 8 giờ
khi chính ngài cử hành Thánh Lễ.
Trong tiến trình phong thánh một số hối nhân trước kia của ngài
nói về kinh nghiệm của họ. Ngài thật tế nhị khi tra hỏi; ngài khuyên
nhủ ngắn gọn. Ngài thường quy chiếu đến vị thánh của ngày đó hay
cử hành phụng vụ. Ngài thường gợi nhắc lời khuyên đã nói lần trước;
bằng cách này, tạo nên sự liên tục. Người ta đưa ra hai chứng từ về
sự linh hướng của ngài tại tiến trình địa phận. Một trong những
chứng từ này đến từ cha Rigoli, cha xứ Somma Lombardo: "Tôi
thường xưng tội với ngài. Tôi tín nhiệm ngài hoàn toàn, như nhiều
người bạn của tôi đã làm. Khi nghĩ về sự linh hướng ngài ban, qua
chính kinh nghiệm của tôi bây giờ, tôi có thể nói rằng nó thật sự
được soi sáng và đến từ một linh mục hoàn toàn hiến mình cho Thiên
266 Để miêu tả đời sống thường nhật của Bề Trên Cả ở Valdocco, tôi theo rất sát
chương của cha Ceria về “daily and periodic occupations” (Vita del Servo di Dio, p.
198-206). Nhà sử học đáng tin này nói như một nhân chứng được thông tin rõ
ràng, và tôi tin là đáng tin khi ông làm những nhận xét. Không may, bản văn của
ngài và vì vậy cũng của chúng ta, nói chung lại thiếu những quy chiếu chính xác
mà trong một vài trường hợp thì rất đáng tiếc.

21.3 Page 203

▲torna in alto
Đời Sống Thường Nhật của Bề Trên Cả tại Valdocco | 203
Chúa."267 Chứng từ khác do giáo sư Phêrô Gribaudi mang lại: "Ngài
khởi hứng sự tín nhiệm lớn lao; quá mạnh mẽ đến nỗi, mặc dù vẻ
nghiêm nhặt, bạn vẫn có thể xưng tội với ngài với một lòng trí thanh
thản. Một lần kia, khi tôi cảm thấy cần phải xưng tội chung, tôi đến
với ngài và được an ủi rất sâu xa khi ra về."268 Tại tiến trình Tông
Tòa, hội viên Salêdiêng Melchior Marocco cung khai như sau: "Ngài
là vị linh hướng của tôi suốt 10 năm, và tôi luôn thấy ngài nhân hậu
đáng khen, biết phân định, khôn ngoan và thánh thiện." Đối với cha
Rua, tác vụ giải tội có tầm quan trọng cao nhất; khi dấn mình vào
đó, ngài không cho phép xảy ra bất kỳ sự gián đoạn nào. Một ngày
kia, khi ngài đang giải tội, một ai đó đến bảo ngài rằng một người
thanh lịch muốn thăm ngài, ngài trả lời thẳng rằng bất chấp ai muốn
thăm ngài, ngài không bao giờ được gọi xa khỏi tòa giải tội.
Còn đối với chính mình, vào một ngày trong tuần, sau khi nghe
cha Gioan Tẩy giả Francesia xưng tội, ngài thường thay đổi chỗ, quỳ
xuống và xưng tội ngay tại chỗ, mọi người đang đợi đến phiên mình
đều có thể nhìn thấy. Trong những cuộc du hành, khi ngày xưng tội
đến, ngài thường xin một Salêdiêng ban ơn xá giải. Người này kẻ nọ
thường thường khá nhút nhát và cố gắng né tránh, nhưng cha Rua,
rất nghiêm trang và kiên quyết, thường bảo người đó là không cần
phải khách sáo.
Tiếp khách
Một khi giải tội xong và đã cử hành Thánh Lễ, ngài thường rút về
học hành và sẵn sàng tiếp đón quan khách mãi cho đến trưa, niềm
nở với bất kỳ ai muốn nói chuyện với ngài. Có thể là một người lỗi
lạc nào đó, đôi khi là một Salêdiêng hay một nữ tu, một cặp đã kết
hôn, thông thường là một ân nhân, nhưng cũng thường xuyên là
một người bình dân, nghèo hèn. Có người tìm lời khuyên, kẻ khác
cần an ủi, người khác nữa cần trợ giúp. Sự thông cảm của ngài với
những đau khổ của người khác được phản ánh trên khuôn mặt của
267 Positio 1935, Summarium super dubio, p. 134.
268 Positio 1935, Summarium super dubio, p. 257.

21.4 Page 204

▲torna in alto
204 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngài. Ngài có thể kiên nhẫn lắng nghe những câu chuyện không dứt
của họ, khi biết rằng ngài đang cho phép những người đau buồn tìm
thấy sự thoải mái nào đó khi họ chia sẻ những âu lo. Ngài có thể rõ
ràng cảm động vì sự bất hạnh của những người khác. Các thư ký của
ngài đã thấy nhiều người đến với vẻ trầm ngâm, lo âu và buồn bã,
song lại đi ra với niềm vui đọng trong ánh mắt của họ. Những cuộc
ra vào này tiếp diễn không ngừng mãi cho tới ba giờ. Đức tin sống
động và lòng mến hăng nồng của cha Rua khiến những lời ngài nói
có sức mạnh làm thay đổi tâm hồn. Cha Ceria đọc một chứng từ của
một Salêdiêng linh mục vốn bối rối và thường cần một lời nâng đỡ;
ngài viết: "ngòi bút của tôi không thể diễn tả đúng, như tôi từng
mong muốn, sự chú ý tế nhị tôi nhận được từ vị đầy tớ Chúa thánh
thiện và trung thành, để thốt lên tình yêu tinh tế và bén nhạy nào
đã tràn đầy trái tim của ngài khi ngài vươn tới những người bé nhỏ
nhất trong con cái mình." Ta nghe thấy một linh hồn nào đó tốt lành,
và chân thật đã thốt lên: "Nếu nói chuyện với các thánh mà tốt lành
như thế, thì đối diện với Thiên Chúa sẽ ngọt ngào biết bao."
Những lá thư của ngài
Cha Rua viết rộng khắp. Những tập tài liệu trong công hàm
Salêdiêng ở Rôma, vốn chỉ chứa đựng một phần nhỏ những thư từ
giao thiệp của ngài, chẳng hạn liệt kê, từ tháng Giêng đến tháng
Mười Hai năm 1889, tổng cộng là 42 lá thư được ngài ký gởi cho
Caesar Cagliero, vị Tổng Đại diện của ngài ở Rôma. Thư tín của ngài,
mà cho đến nay vẫn không được đối chiếu và học hỏi thích đáng,
bộc lộ một khía cạnh đặc trưng về hệ thống cai quản của ngài. Như
Bề Trên Cả, ngài giữ thói quen của mình là gìn giữ những liên hệ cá
nhân với các hội viên của mình không phân biệt. Bao lâu Tu hội chỉ
mới có khoảng vài chục hội viên, thì còn dễ giữ những liên hệ như
thế. Tuy nhiên, khi bắt đầu có tới cả ngàn người, thì tiếp xúc cá nhân
quả nan giải hơn nhiều. Khi Don Bosco chết, mới có hơn kém chín
trăm người (900). Dù sao, như Bề Trên Cả, cha Rua cố gắng giữ giao
tiếp cá nhân khi con số lên tới 1000, và thậm chí tới 2000 nữa. Không
bằng lòng ở việc giao tiếp với Tu hội qua các thư luân lưu, dù với
một mối quan tâm hiền phụ đến tất cả mọi người, ngài yêu thích

21.5 Page 205

▲torna in alto
Đời Sống Thường Nhật của Bề Trên Cả tại Valdocco | 205
vun trồng cùng một sự mật thiết với từng người, ngay cả những
người mà ngài không thực sự biết, qua những thông tin cá nhân trực
tiếp hay gián tiếp. Tất cả đều nghiệm rằng họ thoải mái viết cho
ngài, và chắc chắn rằng ngài không quên trả lời. Họ thường viết cho
ngài về những nhu cầu của mình, thật sự hay tưởng tượng; họ thường
trút những âu lo của mình; kẻ khác lại có một yêu cầu. Nếu có một
ai dường như muốn bị bỏ quên, cha Rua phá tan băng giá bằng cách
mời họ cho ngài biết họ có những thông tin nào.
Một sự giao tiếp cá nhân phong phú như thế, thêm vào những
vấn đề nhiệm vụ, muốn nói rằng mọi ngày rất rất nhiều thư từ đến
trên bàn của ngài. Dù mắt kém, ngài đọc chúng cẩn thận và hoặc
được trả lời cách cá nhân hoặc có một câu trả lời được gởi đi theo
từng trường hợp đòi hỏi. Tất cả điều này đòi thời gian và sự sẵn sàng.
Để đáp ứng điều này, giữa ba giờ và năm giờ rưỡi ban chiều, ngài
thường đi tới nhà một ân nhân. Nơi đây, ngài sẽ không bị quấy rầy,
và có thể giải quyết những công việc khẩn cấp nhất. Những người
cho ngài chỗ ở cũng rất hạnh phúc khi dành cho ngài một phòng tùy
ý sử dụng; tại đây ngài có thể yên tĩnh viết lách. Hai tiếng đồng hồ
này thường không đủ; ngài phải tiếp tục trao đổi thư tín vào ban
đêm.
Bạn chẳng cần phải đọc nhiều lá thư ngài viết để nhận ra văn
phong không tô bóng của ngài. Thực thế, số phần trăm đáng kể của
chúng là công việc của các thư ký; không chút nào hơn ngài, họ
không có ý làm cho chúng thành những kiệt tác văn chương. Nghiên
cứu nghiêm chỉnh về các lá thư ấy phải nhớ điều này. Đang khi trong
những lá thư của ngài, bạn không thấy bất kỳ điều gì hơn là một văn
phong gọn ghẽ từ những năm ngài hành xử như một Phó Tổng Bề
trên và đàng khác, bạn cũng không kỳ vọng bất kỳ công trình nghệ
thuật về thư tín. Cha Ceria đúng khi nói rằng bạn sẽ vô vọng tìm
kiếm những kiểu dát ngọc của trí tưởng hay những ý tưởng hay trình
bày độc đáo. Những lá thư cá nhân được viết nhanh gọn, và vì tiết
kiệm, thường được viết trên những mảnh giấy nhỏ. Tuy nhiên, người
ta thiên về việc xác nhận ý kiến của nhà viết tiểu sử ngài; vị này ca

21.6 Page 206

▲torna in alto
206 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngợi sự bình thản và tử tế, sự đơn giản và không phô trương rộng
mở tâm hồn, sự nồng ấm và thẳng thắn tuôn vào các lá thư. Chúng
gợi lên suy tư và lay động những người nhận thư. Cha Ceria đúng
khi nói rằng đây là "ngôn ngữ của trái tim."
Tôi thoải mái lồng vào đây một bản dịch của hai lá thư được ký
nhận mà tôi thấy thật ý nghĩa; một lá thư viết vào những năm đầu
tiên của ngài như là Bề Trên Cả, lá thư khác viết vào những thời gian
cuối. Lá thư đầu đề ngày 5 tháng Sáu năm 1892, trả lời cho cha Lu-
y Cartier (1860-1945), Giám đốc cộng thể ở Nice. Một chút khôi hài
đây đó - có lẽ không cố ý - về việc "làm phép" những ảnh đeo do
Don Bosco, bốn năm sau khi ngài chết, trao ban cho nó một chút
nhấp nháy.
Cha Cartier rất thân mến,
Cha xin trả lời lá thư con viết ngày 24 tháng Năm. 1. Cha gởi
cho con 12 ảnh đeo được Cha Thánh làm phép như con yêu
cầu. Đây là những ảnh duy nhất cha còn lại. Con hãy gởi chúng
cho người phụ nữ đã xin những ảnh được Don Bosco làm phép,
và nói cho bà ấy rằng chúng đã được đặt trên giường của ngài.
2. Cha không có thể đọc bài viết về Nguyện xá Thánh Giuse,
nhưng cha hy vọng mọi sự tiến hành tốt đẹp. 3. Còn đối với
việc [làm tuyên úy] cho dòng Thăm Viếng, con có thể thử
nghiệm cha Canepa [Giám linh tại Patronage St. Pierre]. Ai mà
biết một việc thuyên chuyển có thể tốt cho ngài hay không? 4.
Cha hy vọng rằng ngày lễ Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu của con
tiến triển tốt đẹp. Cha chúc con mọi phúc lành, đang khi cha
vẫn là người cha thân ái của con trong Đức Giêsu và Mẹ Maria,
Linh mục Micae Rua.269
Thí dụ thứ hai là lá thư đề ngày 7 tháng Ba năm 1907, trả lời lại
một lá thư từ Antôn Aime (1861-1921), Giám tỉnh của Bogota ở
Colombia, và là một nhà truyền giáo can đảm như bạn có thể tìm
thấy.
269 FdR 3879 C11.

21.7 Page 207

▲torna in alto
Đời Sống Thường Nhật của Bề Trên Cả tại Valdocco | 207
Cha Aime rất thân mến,
Những tin vui con gởi cho cha về hội viên thân yêu của chúng
ta được chữa lành thật an ủi. Ước gì Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu
hoàn tất việc tốt lành đó bằng cách cho ngài khỏe mạnh lại
hoàn toàn, nếu điều đó tốt đẹp cho phần linh hồn của ngài và
thiện ích của tha nhân - trong lá thư của con đề ngày 27 tháng
Giêng con ghi nhận một vài bài viết được xuất bản trong
Bollettino tháng Mười Một và Mười Hai là không thích đáng. Ta
cảm nhận rằng điều này là đúng, căn cứ vào nội dung của
những bài viết này đến hầu như riêng biệt từ thông tin được
phát hành trong nước của con, và có lẽ theo lệnh hay với sự
đồng ý của chính quyền. Thấy rằng con nay đã viết cho cha về
nó, chúng ta không cần nói hơn nữa làm chi - con xin cha 3
linh mục. Nhưng ở đâu chúng ta có thể tìm ra họ? Từ những
chỗ khác nhau còn xin nhiều người hơn nữa. Nhưng cho mọi
người, chúng ta phải có cùng câu trả lời: chúng ta không thể
sai cử họ; chúng ta không có - Hãy can đảm và cố gắng nhóm
lên ngọn lửa bằng chính củi của con. Đồng thời, cắt bớt sự can
dự của con cho hợp với những nguồn lực của con. Trong lúc
này cha không quên giữ con trong kinh nguyện của cha. Thân
yêu của con trong Đức Giêsu và Mẹ Maria, Micae Rua, linh
mục.270
Trong mọi trường hợp, cha Rua cho thấy ngài quan tâm đến sự
hưng thịnh thiêng liêng của người nhận thư ngài viết. Nếu một ngày
lễ nào tới gần, ngài không quên nhắc nhớ đến. Ngài tỏ ra nhạy cảm
đặc biệt đối với những người trao đổi thư từ về những ngày lễ quan
thầy hay sinh nhật của họ. Một tư giáo ở Ecuador xin 12 cuốn cẩm
nang để dạy hát; cha Rua liền gởi ngay. Cha Trione, viết từ trường
cao đẳng tại Randazzo, ở Sicily, có một yêu cầu cho ngày lễ sắp tới
của Giám đốc Phêrô Guidazio (1841-1902): bản văn của bài thánh
thi đi kèm với nhạc đã được viết! Cha Rua lập tức xin một ai đó viết
270 FdR 3836 B4-5.

21.8 Page 208

▲torna in alto
208 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
những câu và gởi đến đúng lúc cho ngày lễ đó.271 Ở đó có một số
phẩm chất đặc biệt của sự chăm sóc hiền phụ. Micae Borghino (1855-
1929), một giám đốc trẻ ở Uruguay, giảng cho hội viên mình về cách
thức dịu dàng và tử tế của Thánh Phanxicô Salê và Thánh Gioan
Bosco, nhưng một cách có cơ sở, chính ngài lại mang tiếng về việc
đối xử rất khác biệt. Một ngày kia, ngài nhận được một gói nhỏ từ
Torino: địa chỉ hiển nhiên là chữ viết tay của cha Rua. Ngài mở ra và
tìm thấy một lọ mật ong nhỏ với một ghi chú ngắn gọn như sau:
"Gởi cha Borghino; con hãy dùng một thìa mật ong mỗi sáng. Cha
Rua". Cha Borghino đã trở thành một bề trên mạnh dạn, và xét
chung, một Salêdiêng tốt lành.
Những trả lời của cha Rua cho các hội viên tỏ lộ một bình diện
hiểu biết sâu xa đối với từng người. Một người có tính tình nóng nảy
quá trớn được một người cha xót thương một cách dịu dàng giúp
nhìn ra cách sống sai lầm của mình. Như cha Ceria chỉ ra, ngài đôi
khi phải giao tiếp với những người kỳ quái thường viết những trang
vô nghĩa, thâm tín rằng họ đang giải thích những chân lý Tin Mừng.
Nhiều kẻ đã nhìn rồi ném chúng vào sọt rác. Cha Rua không như thế.
Đối với ngài, đây là một trường hợp bệnh tật cần được điều trị đúng
thực. Một người ốm có thể bị coi là một khó chịu, nhưng người bác
sĩ lại chú ý tới người đó suốt. Cha Ceria nói, sau cái chết của cha Rua,
ta tìm thấy 115 lá thư từ một linh mục Salêdiêng bị bệnh tâm thần
vốn viết những nhận xét vô tận, tầm thường, như thể chúng thuộc
về những vấn đề vô cùng quan trọng. Cha Rua gởi một câu trả lời
rất cẩn thận cho từng vấn đề một. 56 câu trả lời vẫn còn giữ; 59 câu
trả lời khác được cho đi như tặng phẩm dành cho những người muốn
có một cái gì đó được viết bằng tay của con người thánh thiện ấy.
Chúng có thể kết thúc trong tay của bất kỳ ai; nhưng, như nhà viết
tiểu sử ngài ghi lại, sự thật thà, hiền dịu, và ly thoát trong những nội
dung của chúng chặn trước bất kỳ nghi ngờ nào của tình trạng tâm
trí người nhận thư gởi đến.
Có sự chính xác trong các câu ngài trả lời. Ngài ghi ngày giờ chính
271 Suốt thời gian cha Rua như Bề Trên Cả, cha Phêrô Guidazio (1841-1902) làm
giám đốc tại Randazzo từ 1889 cho đến khi chết năm 1902.

21.9 Page 209

▲torna in alto
Đời Sống Thường Nhật của Bề Trên Cả tại Valdocco | 209
xác vào thư trả lời, rồi đi xuống từng chi tiết, cho thấy rằng ngài
hoàn toàn hiểu nội dung. Nói tắt, các lá thư của ngài, dù đơn giản
và không màu mè, là một chứng từ về sự tốt lành hiền phụ và linh
đạo chân chính của ngài, được hàm ẩn hơn là minh nhiên. Cha Ceria
kết luận: "đối với bất kỳ ai biết ngài, chúng bộc lộ những phẩm tính
và nhân đức vốn là của ngài."
Những cử hành hàng năm
Tại chính nhà ngài ở Torino, cha Rua có vị trí cao cả trong tất cả
những cử hành khác nhau suốt năm. Từ năm 1868 trở đi, như vị Phó
Bề trên của Nguyện xá, rồi Phó Bề Trên Cả, mỗi ngày 24 tháng Năm
bên cạnh Don Bosco, ngài tham gia vào những buổi cử hành tôn vinh
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Nay như Bề Trên Cả, ngài phải chủ sự.
Như ta biết, từ năm 1889 trở đi, vào ngày 23 và 24 tháng Sáu,
Valdocco tôn vinh cả Don Bosco lẫn cha Rua. Bao lâu còn có thể, ngài
chủ sự việc phát thưởng Nguyện xá vào lễ Mẹ Lên Trời. Ngài không
bỏ mất việc ngỏ lời cho các học sinh trong nhà thờ trước khi chúng
bắt đầu những ngày lễ. Ngài nỗ lực hết sức giao tiếp với người trẻ
trong nhà đó, và khi không có trách nhiệm trực tiếp đối với chúng,
ngài dùng tối đa mọi dịp để người ta thấy ngài ở với chúng cả trong
nhà thờ lẫn bên ngoài. Chúng đều biết rằng chúng có thể đến gần
ngài thường xuyên như chúng muốn. Ngài hạnh phúc để ở quanh
chúng suốt giờ giải trí sau cơm tối, và như một quy luật, sẽ nói cho
cho các học sinh thuộc những lớp lớn hơn mỗi tuần một lần.
Ngài có những áp lực ngoại lệ phải đối diện từ giữa tháng Tám
đến đầu tháng Mười: đây là thời gian dành cho những cuộc tĩnh tâm
cho Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ. Đối với các nữ tu, xuất hiện
ngắn ngủi và tối đa, chủ sự ở buổi kết thúc tuần phòng là đủ rồi. Đối
với Salêdiêng đó là một vấn đề khác: tại mỗi buổi Tĩnh tâm, ngài
phải ở đó suốt. Ngài phải hoàn toàn sẵn sàng cho những người tĩnh
tâm, luôn luôn có một con số khá lớn đến Valsalice và Borgo San
Martino. Một khi ngài đã cử hành Thánh Lễ - luôn luôn dành cho
ngài trong những ngày đó - ngài quen giải tội suốt vài giờ, trước và
sau cơm tối. Điều này đè nặng trên ngài; đôi lúc ngài xỉu đang khi

21.10 Page 210

▲torna in alto
210 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
giải tội, nhưng ngay khi tỉnh lại ngài đi thẳng đến tòa giải tội. Suốt
cả ngày, ngài quen tiếp nhận bất kỳ ai muốn nói chuyện với ngài.
Phần đa các hội viên không muốn kết thúc tuần phòng mà không
gặp ngài cách cá nhân; vì thế, bất kỳ lúc nào thường luôn có một vài
người đợi bên ngoài phòng của ngài. Ngài thường tham gia những
cuộc giải trí gọi là "điều độ" sau cơm trưa, trò chuyện với những kẻ
chung quanh ngài, và mọi tối, sau kinh tối, ngài luôn cho huấn từ
tối, một cuộc nói chuyện ngắn song thú vị. Cuối cùng, khi kết thúc
tuần phòng, ngài luôn giảng, đưa ra một vài lời khuyên. Thời kỳ hai
tháng này vắt kiệt năng lực thể lý của ngài; nhưng khi một ai đó
nhận xét về điều này, ngài trả lời: "Đây là mùa gặt của cha". Như cha
Ceria thường nói, nhưng mùa gặt tiếp diễn suốt cả mùa.
Nhà viết tiểu sử ngài kết thúc chương của mình bằng vài nhận xét
tổng quát về vấn đề tế nhị là sự chỉ định các Giám tỉnh và các giám
đốc. Khi cha Rua phải chỉ định một giám đốc hay Giám tỉnh, hay một
thành viên mới của Thượng Hội đồng, ngài không chọn người ngài
thích, nhưng chọn một hội viên tuân giữ và trung thành với Hiến
Luật và những truyền thống Salêdiêng. Rồi ngài cầu nguyện và tham
khảo cá nhân với từng thành viên của hội đồng ngài. Chung chung,
kết quả minh chứng là thích đáng. Có phải chúng ta hoàn toàn chứng
thực cái nhìn của Giulio Barberis, được cống hiến tại tiến trình phong
thánh, khi ngài tuyên bố: "Tôi không nhớ bất kỳ lời phàn nàn nghiêm
trọng nào trong lãnh vực này; trái lại, chúng ta phải ca ngợi sự kiện
mọi người sẵn lòng chấp nhận những quyết định của ngài"272?
Không chút nào. Tôi nói điều này từ chính hiểu biết của tôi về những
hệ quả gây buồn phiền trong việc chỉ định ở Pháp của cha Phêrô
Perrot và cha Giuse Bologna, từ năm 1904; chúng ta sẽ bàn đến điều
đó sau. Dù sao đi nữa, khi xem xét cẩn thận, chúng ta thấy rằng
trong mọi trường hợp khó khăn, Bề Trên Cả làm hết sức để giảm nhẹ
những vấn đề nảy sinh từ những quyết định được thực hiện khi tham
khảo với Tu Nghị Bề trên của mình.
Tóm lại, tại nhà Valdocco, với những người chung quanh, với
nhiều người lạ đến thăm ngài, và với người trẻ trong trường, cha Rua
272 Positio 1935; Summarium super dubio, p. 377.

22 Pages 211-220

▲torna in alto

22.1 Page 211

▲torna in alto
Đời Sống Thường Nhật của Bề Trên Cả tại Valdocco | 211
nghiêm khắc và thánh thiện luôn là người cha tử tế nhất, hoàn toàn
quên mình, là mọi sự cho mọi người, như vị thầy Don Bosco, nếu
còn sống, đã từng muốn thấy ngài như thế.

22.2 Page 212

▲torna in alto
212 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
17
KHÁM PHÁ
Thế Giới Salêdiêng
Ở ÂU CHÂU
Nước Ý
Năm 1888 là năm than khóc theo sau cái chết của Don Bosco; hầu
như suốt năm đó, cha Rua ở lại Torino. Tuy nhiên, năm sau, ngài từ
từ bắt đầu thăm viếng tất cả các nhà Salêdiêng ở Âu châu, tự nhiên
khởi đầu với nước Ý.273
Nhờ cha Ceria giúp, chúng ta sẽ phân loại những lần thăm viếng
tại Ý, được thực hiện trong một ít năm đầu tiên ngài nắm giữ chức
vụ, khi cố gắng nêu ra những nét nổi bật nhất. Khởi sự năm 1889 và
đi tới năm 1890, ngài tiếp xúc với những nhà phía bắc. Chúng ta
thấy ngài trước hết vào mùa hè năm 1889 từ 31 tháng Năm đến 5
tháng Sáu, giảng tĩnh tâm cho các Salêdiêng tại Nizza Monferrato,
rồi tại Sampierdarena gần Genoa bên bờ biển Liguria, và cuối cùng
ở trường cao đẳng quan trọng tại Alassio. Chính ở đây, vào cuối cuộc
thăm viếng, người ta dâng cho ngài một album, được tất cả học sinh
và thầy giáo ký nhận. Cuốn album đó mở ra với một lời ngỏ rất cảm
động dành cho một người có mối quan tâm chính là bước theo
đường lối của vị thầy Don Bosco của mình. Nó nói lên: "Cha dấu yêu,
nhờ cha đến thăm, chúng con hưởng được ba ngày hạnh phúc. Nhờ
cha hiện diện của cha và những lời cha nói, chúng con trải nghiệm
niềm vui thuần khiết và nhiệt tình thiêng liêng. Chúng con mạnh dạn
nói rằng chúng con đã có giữa chúng con không phải người kế vị
273 Những cuộc hành trình của Cha Rua từ 1889 đến 1892, xem chương trình nghị
sự của Lazzero, FdR 3001 A11 đến 3002 A7, trích ở đây; và E. Ceria, Vita del Servo
di Dio, trang 163-222.

22.3 Page 213

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 213
Don Bosco, nhưng chính Don Bosco. Chúng con tri ơn cha tận đáy
lòng."274 Ngày 25 tháng Sáu, cha Rua ở tại Borgo San Martino dự lễ
thánh Lu-y Gonzaga. Đang khi ngài ở đó, các nữ tu Salêdiêng thuộc
một nhà gần đấy đã xin ngài đến và ban phép lành cho một nữ tu
trong bệnh xá của họ vốn đã bị các bác sĩ chê rồi. Cha Rua chỉ xin họ
hiệp với ngài cầu nguyện ba kinh Kính mừng bên giường chị để xin
được bình phục; rồi khi ban "huấn từ tối", ngài xin các học sinh cũng
cầu nguyện trước khi đi ngủ. Trong lúc đó, nữ tu ấy thiếp ngủ hoàn
toàn. Ngày hôm sau, bác sĩ không khám phá ra gì cả trong tình trạng
của nữ tu ấy ngoài sự yếu mệt. Tin này khiến cha Rua hân hoan vì
quyền năng của Đức Maria chuyển cầu. Các nữ tu quen gọi là "phép
lạ của cha Rua" đối với nữ tu đang nói tới, chị Philomena Bozzo. 25
năm sau, nữ tu đó chết ngày 22 tháng Năm, năm 1914, khi đã là
hiệu trưởng trường học tại Samas, ở Syria.275
Ngày 13 tháng Bảy chúng ta thấy cha Rua tại Faenza, ở Emilia,
một tỉnh khá nhỏ, nhưng là một nơi ở đó những người chống giáo
sĩ đang gây ra nhiều khó khăn cho những người Salêdiêng tại một
trường học địa phương. Ngài đến làm phép nhà nguyện của trường
và ngài hết lòng ca ngợi các Cộng Tác viên đã nâng đỡ cho cộng thể.
Chuyến viếng thăm của ngài trở thành buổi cử hành kéo dài ba ngày.
Vào tối hôm kết thúc, sau huấn từ giã biệt, ngài mất cả tiếng đồng
hồ để dứt khỏi đám đông, ai ai cũng muốn gặp ngài. Một số muốn
được ban phép lành hay một lời khuyên, những người khác chỉ muốn
nghe ngài, hôn tay hoặc chạm vào áo ngài. Cha Lazzero viết cho cha
Cagliero: "Tóm lại, họ không làm gì hơn họ đã làm cho cha dấu yêu
Don Bosco của chúng ta."276 Cha Rua tiếp tục thăm viếng các nhà ở
Florence và Lucca, và trở lại Torino đúng giờ để tham dự những cuộc
tĩnh tâm cho các Salêdiêng và nữ tu, cũng như họp Tu Nghị Bề trên
tại Valsalice từ mồng 2 đến 7 tháng Chín.
Tháng Giêng năm 1890 ngài đến tận Rôma; tại đó đang kéo lê
việc xây cất nhà lưu xá tại Sacro Cuore. Ngài ở đó khoảng ngày 13;
274 Theo E. Ceria, op. cit., trang 164.
275 Theo E. Ceria, op. cit., trang 165.
276 Trích trong E. Ceria, op. cit., trang 167.

22.4 Page 214

▲torna in alto
214 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngài mong được Đức Lêô XIII cho triều yết riêng.277 Việc này xảy ra
ngày 22 khi Đức Giáo Hoàng tiếp ngài cùng với Caesar Cagliero và
cha Lazzaro. Chúng ta có thể tưởng ngài vui sướng khi nghe Đức Giáo
Hoàng nói: "Thiên Chúa chúc lành công cuộc được Don Bosco thánh
thiện đảm trách lúc sinh tiền; nay Thiên Chúa sẽ còn tiếp tục che chở
nó khi ngài qua đời." Ngài tỏ ra quan tâm đến công cuộc Salêdiêng
tại các nước truyền giáo, cách riêng Colombia; rồi ngài ban phép
lành cho những dự phóng sắp tới ở Phi châu và Á châu, những lục
địa [chúng ta] chưa đặt chân tới. Cha Rua viết trong thư luân lưu
ngày mồng 1 tháng Hai: "Tâm trí chúng ta an bình nếu chúng ta
được yêu cầu gởi các vị truyền giáo đến những miền này, bởi vì sứ
mệnh này đã đến từ vị đại diện Chúa Giêsu Kitô, và vì thế, từ chính
Thiên Chúa." Khi họ nói về giáo xứ Sacro Cuore, Đức Giáo Hoàng thốt
lên: "Hãy can đảm. Con hãy tiếp tục công cuộc. Chúng ta đã thấy
rằng bất kỳ khi nào chúng ta tiến tới bất chấp những vấn đề của thời
đại chúng ta, dân chúng không chậm trễ đáp ứng và chính là vì phúc
lợi của họ." Cha Rua trở lại Torino ngày 25; trên đường về, ngài thăm
viếng công cuộc tại La Spezia. Nơi đây, ngài huấn đức cho các Cộng
Tác viên rất tốt đẹp trong nhà thờ San Siro tại Genoa. Như ngày 28
tháng Giêng một tờ báo thuật lại: "Với tình yêu của người cha và sự
cảm thông của một người anh em, ngài khuyên phải chăm sóc và
che chở những trẻ em bị loại ra khỏi xã hội."278
Tháng Tư/tháng Năm, năm 1891, cha Rua hoàn tất đi thăm một
vòng công cuộc Salêdiêng ở Bắc Ý, trước hết bằng việc viếng thăm
những trung tâm nói tiếng Ý của Trent (thời đó một phần
Áo/Hungary) và Mendrisio (liên bang Thụy sĩ vùng Tessin) [Sau một
chút ngập ngừng nào đó, Don Bosco đã đồng ý đảm trách việc điều
hành trường thị xã tại Mendrisio]. Tại Trent, các Salêdiêng đảm trách
một viện mồ côi gắn liền với một cơ sở địa phương mà trong quy
chế của nó, có một khoản là cấm tiếp nhận những trẻ mồ côi ngoài
thành phố ấy. Trong bài huấn đức cho các Cộng Tác viên, cha Rua
277 Các bản tường thuật cuộc triều yết này trong thư luân lưu Cha Rua gởi đến các
Giám đốc Salêdiêng, ngày 1 tháng 2, 1890, FdR 3978 D3-6, và Con Đức Mẹ Phù
Hộ ngày 2 tháng 2, 1890, FdR 3987 D6-7.
278 Trích trong E. Ceria, Vita, trang 171.

22.5 Page 215

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 215
nói cho họ rằng chỉ trước đây một ít thôi, các Salêdiêng tìm thấy một
thiếu niên 11 tuổi chết lạnh và đã mang em đi ngay. Em bé nghèo
đó từ Trent mà đến. Em đã bị ông anh lớn tuổi hơn bỏ rơi và đã ăn
xin tại cửa một khách sạn. Chúa mới biết em đã kết thúc ở đâu nếu
những bàn tay an bình của Salêdiêng không cứu em. Thính giả rất
cảm động vì câu chuyện này. Cảm động đến nỗi kẻ đã từng mãnh
liệt bảo vệ khoản luật gây tranh cãi đó cảm thấy hối hận, và đã hủy
khoản luật đó.279 Tại Mendrisio, cha Rua rất ấn tượng trước tiêu
chuẩn cao của Nguyện xá Chúa nhật, và cách thức điều hành nó thật
tuyệt vời. Ngày 12 tháng Năm tiếp sau, ngài thông tin cho Tu Nghị
Bề trên rằng tại Mendrisio, "Tất cả những vị có thẩm quyền công
cộng và chính trị gia nghĩ tốt về các Salêdiêng chính yếu bởi vì
Nguyện xá Chúa nhật này".280 Suốt thời kỳ đảm nhận chức vụ, cha
Rua là một tông đồ của Nguyện xá ngày lễ khắp thế giới Salêdiêng.
Đối với ngài, Nguyện xá là cách thức được ưa chuộng với giới trẻ,
nhiều hơn các trường học.
Tháng Tư năm 1891, sau khi ở lại Torino một chút, ngài lại lên
đường, lần này tới Venice; tại đây, ngài rất mãn nguyện. Ngài có thể
tham dự một Thánh Lễ long trọng hoàn toàn hát Bình ca do các học
sinh trường tại Manfredini de Este. Một kinh nghiệm như thế chắc
chắn làm ngài rất vui thích. Trong một thư luân lưu, ngày 1 tháng
Mười Một trước kia, ngài gợi nhắc Don Bosco ưa chuộng ca hát, và
sự kiện là ngài đã mời Giám mục Cagliero nghĩ ra một chương trình
dạy ca hát. Như ngài viết trong thư luân lưu, ngài biết rằng "trong
nhiều quốc gia Công giáo, ngày nay, người ta chăm chỉ học hát bình
ca, và trong các trường cao đẳng danh tiếng, tách khỏi âm nhạc khác,
giới trẻ được huấn luyện hát bình ca."281 Thấy điều này là đúng ở
trường tại Este khiến ngài hạnh phúc.
Từ đó đi xuống tới Emilia Romagna, hướng tới Bologna, Imola và
Faenza, từ đây ngài lại lấy đường hướng bắc tới Parma. Nhờ những
nỗ lực của thiên tài cha Charles Baratta (1861-1910), đặc biệt ở
279 Theo E. Ceria, Vita, trang 173-174.
280 Biên bản của Hội đồng, 12 tháng Năm, 1891.
281 Thư luân lưu, 1 tháng Mười Một, 1890; L. C., trang 50-51.

22.6 Page 216

▲torna in alto
216 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Parma, ngài sung sướng thấy nhiều tiến bộ tại những trung tâm
Salêdiêng khác nhau, vì tại vùng đất này, một phong trào giáo dân
trơ trẽn chống giáo sĩ đang dâng cao.
Không phải mãi tới tháng Giêng, tháng Hai và tháng Ba năm 1892
mà cha Rua mới thăm viếng những trung tâm Salêdiêng ở Nam Ý.282
Giữa tháng Giêng, cùng với cha Francesia, ngài đã ở Rôma, nơi đó
Đức Lêô XIII nhân ái ban cho ngài một cuộc triều yết và xin ngài
thông tin về "các Salêdiêng dấu yêu".283 Cha Rua tường trình rằng
trong con mắt của Đức Thánh Cha, "Don Bosco có một địa vị cao
trước Thiên Chúa, Giáo hội và dân chúng khắp nơi". Điều ấy thúc cha
Rua thốt lên: "Hạnh phúc biết bao vì thuộc về một trường phái có vị
thầy rất thánh thiện và tài giỏi thiêng liêng!"284 Từ Rôma, ngài đi
hướng nam tới Naples, dùng một chiếc thuyền tới Palermo, ở Sicily;
tại đó ngài gặp một số Cộng Tác viên, và rồi di chuyển tiếp tới
Marsala. Một lúc nào đó, đã tiến hành những thương thuyết để người
Salêdiêng đảm trách một cô nhi viện tại đây: Cha Rua có thể hoàn
tất những thỏa thuận. Tại Catania, ngài mãn nguyện thấy Nguyện
xá hằng ngày của Salêdiêng rất được quý trọng. Ngài thấy nó được
tham gia tốt đẹp và đầy sức sống. Đám đông giới trẻ chạy đến ngài
như đến một người bạn cũ; ngài có thể thấy chúng rất trìu mến vị
giám đốc trẻ của Nguyện xá, cha Phanxicô Piccolo (1861-1930).
Trường học tại Randazzo, cơ sở đầu tiên của Salêdiêng ở Sicily, đã
qua một thời gian khủng hoảng từ năm 1885 đến năm 1889, sau
khi vị Giám đốc và thành lập, cha Phanxicô Guidazio, được chuyển
đi. Nhưng nay cha Guidazio trở lại, trường đó lấy lại sức sống trước
kia. Cha Rua không bỏ qua Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Trái
lại, ngài thăm các trung tâm của họ ở Catania, Bronte, Trecastagni,
Mascali và Ali Marina. Với nơi chốn được nhắc đến cuối cùng, ngài
được tiếp đón nồng nhiệt. Ngay khi biết cha Rua sắp tới, các trẻ
Nguyện xá chạy tới nhà ga hân hoan tiếp đón ngài. Đoạn chúng hộ
282 E. Ceria, Vita, trang 212-216; «Don Rua en Sicile», Bulletin salésien, tháng Tư,
1892, trang 51- 53.
283 Theo bản báo cáo của Cha Rua cho Tu Nghị Bề trên, ngày 9 tháng Ba tiếp theo
284 Thư từ, Cha Rua gửi tới Costamagna, Marsala, ngày 2 tháng 2, 1892. FdR 3891
D5-8.

22.7 Page 217

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 217
tống và chung vui với ngài suốt đoạn đường về lại Nguyện xá mà
Salesian Bulletin gọi là một "cuộc hòa nhạc và kể chuyện". Một lần
nữa trở lại Calabria ở đất liền, ngài ngang qua Taranto và Bari và tới
Macerata để thăm viếng một trường học Salêdiêng vừa mới mở.
Trong một tự truyện không được xuất bản, cha Francesia viết về
trường này: "Nhà này chỉ mới mở được một thời gian ngắn nhưng
đầy đầy học sinh, thợ tập nghề và trẻ Nguyện xá; nó như một thứ
"tàu Noe" của người Salêdiêng; chỉ nhờ tình yêu con tàu ấy được giữ
cho nổi."285 Cha Rua hành hương cầu nguyện tới Loreto; tại đây ngài
thăm viếng "ngôi nhà thánh thiện" của Đức Maria; rồi từ đó thẳng tới
Venice, với những trạm dừng ngắn tại Ancona và Rimini, lại đi vào
Piedmont tại Novara. Ở đây, Giám mục địa phương đã xây dựng một
Nguyện xá tuyệt diệu cho những người Salêdiêng, được nhắm là một
đà nhún để Salêdiêng hiện diện nổi tiếng và thành công. Cuối cùng
khi cha Rua liên lạc ở Torino ngày 8 tháng Ba, thì không ai trông
mong ngài, vì không có bất kỳ ghi chú nào trước về việc ngài đến.
Tuy nhiên, đối với ngài, hoàn thành một chuyến viếng thăm đầy đủ
các công cuộc Salêdiêng khắp bán đảo Ý và hòn đảo lệ thuộc của nó
quả là một niềm vui to tát.
Cha Rua ở miền Nam nước Pháp
Đang khi đó, giữa tháng Hai và tháng Năm, năm 1890, cha Rua
đã hoàn thành những chuyến tham quan đưa ngài tới Pháp, Tây Ban
Nha, Anh và Bỉ.286 Trong những quốc gia này, người ta có lẽ đã biết
ngài chút nào đó, khi ký ức về Don Bosco vẫn còn rất sống động.
Ngày 27 tháng Giêng năm đó ngài trở lại Torino, sau cuộc hành trình
đưa ngài xa tới tận Rôma. Ngày 4 tháng Hai, ngài lại di chuyển nữa,
lần này tới Pháp qua San Pier d'Arena.287
Nhà đầu tiên ở Pháp hưởng lợi từ sự hiện diện của cha Rua cách
tự nhiên là nhà tại Nice, được Don Bosco thành lập 15 năm trước,
285 Theo E. Ceria, Vita, trang 215.
286 Bài trình bày thú vị, E. Ceria, Vita, trang 179-197.
287 Theo chương trình nghị sự của Cha Lazzero, làm thư ký, bản sao đánh máy, FdR
3001 E5-6.

22.8 Page 218

▲torna in alto
218 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đánh dấu công cuộc Salêdiêng phát triển vượt qua nước Ý.288 Tước
hiệu quan thầy "Thánh Phêrô" không được đánh lừa chúng ta: Nice
không có một 'vị quan thầy' Salêdiêng theo cách dùng thông thường
của từ ngữ đó. Như Nguyện xá Torino, trường nội trú của nó được
xây thành hai phần, một cho học sinh, một cho những em tập nghề.
Cách cha Rua dùng thời giờ trong cuộc thăm viếng này được chứng
thực bằng tài liệu trong ký sự nhà. Điều này sẽ bỏ được nhiều lập lại
khi miêu tả những hiện tình tương tự.
Vào 8 giờ tối thứ bảy mồng 8 tháng Hai, một buổi tối lạnh giá;
bóng đêm đã phủ xuống lâu rồi. Cổng vào và sân của Patronage
Saint-Pierre được thắp sáng và được trang hoàng với cờ quạt trong
sự mong đợi. Cha Rua xuất hiện, nhạc cùng những lời chào mừng nổ
vang vui tươi chào đón đấng kế vị Don Bosco. Don Rua muôn năm,
Don Rua muôn năm! Chúng tôi có thể thâu thập những hàng mở đầu
của bài chào đón được một trong những thiếu niên đọc lên, (được
cha Cartier viết); nó phải vang dội trọn vẹn với những cảm nhận của
cha Rua. Là một Don Bosco khác trong mọi khía cạnh, liệu rốt cục đó
không phải là mục đích của ngài sao? Nó bắt đầu: "Cha dấu yêu,
hôm nay cha đến với chúng con; khi lại tìm thấy nơi cha linh hồn,
tinh thần và trái tim của người mà chúng con đã mất, hay đúng hơn
khi lại tìm thấy nơi cha mọi sự của ngài, mắt chúng con bừng sáng;
nơi sâu thẳm, chúng con cảm nhận rằng cha chúng ta, vị thày chúng
ta, không chết bao lâu chúng con có thể nói: liệu rằng trái tim chúng
ta đã chẳng cháy lên với tình yêu khi tai chúng con nghe được tiếng
của ngài sao?" Rất cảm động vì điều này, cha Rua trả lời bằng những
hạn từ này: "Ký ức về Don Bosco gợi lên nỗi buồn sâu lắng nơi cha;
đồng thời, thật đúng, nó gợi cha nhớ lại tất cả những gì người cha
đáng kính chúng ta đã làm; và đó chính là tất cả những gì chúng ta
muốn làm. Don Bosco nay trên thiên đàng; trong nhiều dịp, chúng
ta đã cảm nhận phúc lộc của ngài trợ giúp. Ngài khuyến khích các
con yêu mến cha đúng như các con đã yêu mến ngài; vâng phục cha
như các con đã làm cho ngài. Nếu các con theo lời khuyên của ngài,
288 Cha Rua ở Nice, xem bài tường thuật dài trong Bulletin salésien, tháng 2, 1890,
trang 25-29 và tháng Tư, 1890, trang 44-45

22.9 Page 219

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 219
các con sẽ làm cho trách vụ của cha nhẹ nhàng và dễ dàng: và như
các con biết, điều đó hệ tại làm bất kỳ điều gì là vì thiện ích cho các
linh hồn."
Ngày hôm sau, Chúa nhật 9 tháng Hai, cộng thể cử hành lễ Thánh
Phanxicô Salê. Từ 6:30 sáng cha Rua ngồi tòa giải tội, các hội viên,
rồi các thanh thiếu niên vây kín, vì mọi người nghĩ xưng tội với cha
Rua quả là một phúc lành cho họ. Ngài chỉ rời tòa giải tội để cử hành
thánh lễ cộng thể lúc 7:30. Các Cộng Tác viên được mời dự buổi
huấn đức thường xuyên sau kinh chiều tại nhà thờ Đức Mẹ vào lúc
3:00, và ở đó cha Rua ngỏ lời với họ trước sự hiện diện của Giám
mục thành phố Nice. Trong 'bài giảng đức ái' như nó được miêu tả
trong một tờ báo tôn giáo hàng tuần, ngài xin cộng đoàn nâng đỡ
những hội bảo trợ Chúa nhật, những cô nhi viện, và những cơ sở
giáo dục, và cuối cùng việc truyền giáo. Hơn cả Don Bosco, cha Rua
không hổ thẹn ngỏ lời xin, vì tất cả những dự phóng này đòi hỏi
nguồn lực rất lớn lao và chính nhờ các Cộng Tác viên quảng đại
chúng mới có thể tồn tại được.289 Thứ hai mồng 10 tháng Hai, hai
nhóm vốn thường nâng đỡ nhà ở Nice được mời tới nghe cha Rua
nói chuyện: họ là "Ủy ban cổ võ những xưởng thợ của Hội bảo trợ"
và "Những Phu nhân mạnh thường quân". Hầu như cả hai nhóm đều
tham dự đầy đủ. Cha Rua ký thác cho họ tất cả công cuộc họ đã làm
cho nhà đó, nhưng ngài cảm thấy buộc phải diễn đạt dài một chút
sự tiếc nuối của mình rằng, cùng với sự bảo trợ cho thanh thiếu niên,
cả nội trú lẫn ngoại trú, thì không có sự bảo trợ tương tự cho các trẻ
nữ được các Nữ tu Salêdiêng chăm sóc. Ngài nói với họ "Don Bosco
vui mừng vì tất cả những điều tốt anh chị em làm để giúp các người
thợ trẻ. Nhưng các trẻ em cần được giúp đỡ vẫn còn nhiều lắm". Chỉ
với điều kiện là những nhu cầu của chúng được đáp ứng mà công
cuộc Salêdiêng ở Nice mới có thể được coi là đầy đủ dưới con mắt
của Don Bosco.290 Tuần lễ ấy ngài bận rộn thăm viếng các Cộng Tác
viên, giới Công giáo, những tiếp tân, những lời khuyên cho các hội
viên, và những buổi giải tội lâu giờ. Thứ hai ngày 17 tháng Hai, ngày
289 Theo Bulletin salésien, trích bài báo, trang 26.
290 Những bài nói chuyện trong Bulletin salésien, trích bài báo trang 27-28.

22.10 Page 220

▲torna in alto
220 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cuối đầy ắp những việc đó của cha Rua đã kết thúc tốt đẹp cuộc thăm
viếng đáng nhớ này với những trò chơi và trình diễn sân khấu. Ngày
kế tiếp là ngày ba béo (trước lễ Tro), vốn sẽ giải thích tại sao trong
bài huấn từ tối giã biệt cho các thanh thiếu niên, một người cha khá
đẫm lệ khuyên nhủ rằng ai nấy phải "dâng lời nguyện và hiệp lễ cho
các linh hồn trong luyện ngục, hầu trong một ngày vốn bị tục hóa
do nhiều người hành xử bất xứng, những việc đó mang đến niềm
vui và sung sướng cho các linh hồn những người công chính vẫn bị
giam cầm trong luyện ngục."291
Thứ ba ngày 18, đang khi các thiếu niên ở Nice dọn mình chết
lành và chuẩn bị mừng ngày lễ hội (Ba béo, carnival), thì cha Rua đi
tới nhà ở La Navarre, không xa Nice mấy; từ đó ngài thăm viếng
Toulon rất nhanh và huấn đức khoảng một tiếng đồng hồ trong nhà
thờ chính Sainte Marie, cũng như thăm một ít Cộng Tác viên.292 Ngày
19, có buổi quây quần tiếp đón trong đó "những hội lành" và các
thiếu niên từ những lớp khác nhau đọc những bài nói tôn vinh ngài.
Thứ bảy ngày 22 tháng Hai, đến phiên các em có buổi Dọn mình
Chết lành. Cha Rua sẵn sàng giải tội; trích lời Thánh Don Bosco, ngài
nói: "đó là khoa sư phạm tốt nhất". Theo ký sự thuật lại thì đúng 10
giờ, được phép Đức Giám mục, ngài tiến hành rửa tội cho hai trẻ mồ
côi theo Tin Lành được giám đốc Phêrô Perrot ở Toulon cứu. Sau giờ
ăn trưa không lâu, ngài quay hướng về Nice, đi tới Cannes nơi Don
Bosco đã làm quen được nhiều bạn hữu. Tại đây, vào chiều Chúa
Nhật, ngài có thể giảng một "bài giảng đức ái" ở nhà thờ Notre Dame
du Bon Voyage, nói về Don Bosco, về công việc tông đồ và các Cộng
Tác viên của thánh nhân. Lời ngài kêu gọi mau chóng nhận được sự
đáp trả rất quảng đại (2000 francs theo như Cha Lazzero ước tính).
Ngài ở Cannes năm ngày, thăm các ân nhân và các cộng thể tu sĩ.
Thứ tư ngày 26, ngài tiếp tục đi đến St Cyr sur Mer để thăm trại mồ
côi Thánh Isidore do các nữ tu Salêdiêng điều hành, nơi đây ngài
291 Bulletin salésien, trích bài báo, trang 45.
292 Cha Rua ở la Navarre, Toulon, Cannes and Marseilles, Bulletin salésien, tháng
Tư, 1890, trang 45-51.

23 Pages 221-230

▲torna in alto

23.1 Page 221

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 221
được cha tuyên úy Antôn Variara293 tiếp đón. Ngày 27, ngài huấn
đức cho các Cộng Tác viên địa phương, ăn tối với Bá tước Villeneuve
cùng với giáo sĩ địa phương, và dành buổi chiều cho các Nữ tu.
Ngày 28 tháng Hai, nhà nguyện Saint-Leon ở Marseilles nhận
được một bức điện lúc một giờ chiều, thông báo Cha Rua sẽ đến vào
đúng tối hôm đó. Thực ra ngài sẽ dành cả tuần ở đó, bằng khoảng
thời gian như ngài đã ở Saint-Pierre Patronage tại Nice, vì đây là nhà
Tỉnh, có cha Giám tỉnh Phaolô Albera. Không phải Saint-Léon muốn
chiếm ngài cho riêng mình. Ngài sẽ dành hai ngày (có sự khác biệt
về ngày tháng giữa Bulletin và ký sự của Cha Lazzaro) - thứ tư ngày 5
và Chủ Nhật ngày 9 tháng Ba - ở nhà tập, được gọi là La Providence,
ở vùng ngoại ô Sainte-Marguerite của Marseilles. Ở đó, ngài thấy có
ba mươi tập sinh Salêdiêng người Pháp, các em đã mừng ngài đến
bằng một “buổi văn nghệ” tốt đẹp, sau đó ngài thẩm vấn tất cả
những người đã xin khấn hoặc xin mặc áo dòng. Ngài cũng tỏ ra
thích thú với nông trại và vùng thôn quê liền kề.294 Ngày 7 và ngày
8 cũng dành để thăm viếng: đến cha xứ Aubagne, và đến Bá tước
Villeneuve ở Roquefort – cả hai người này đều rất gắn bó với Don
Bosco. Ngay tại Saint-Léon, cha Rua đã tiếp khách, giải tội cho các
hội viên và các thiếu niên, nói chuyện với những người đỡ đầu cả
nam lẫn nữ, và tặng cho các em hai bài huấn từ tối rất dài, một là để
khuyến khích các em đến với các bí tích, còn lại là lòng sùng kính
Thánh Giuse. Đặc biệt quan trọng là bài huấn đức quý giá ngài dành
cho các Cộng Tác viên ngày 6 tháng Ba, trong đó ngài ca ngợi công
việc của các Nguyện xá Chúa Nhật (hoặc patronages). Ngài nói với
họ: “Ảnh hưởng của chúng thật rất an ủi. Ở một thành thị nơi người
Salêdiêng mới đây mở một Nguyện xá, khu vực họ lập nhà đã từng
có rất nhiều tai tiếng. Không một người tự trọng nào có thể đi qua
nơi này mà không bị các thanh thiếu niên ném đá và bùn. Sáu tháng
sau, nó đã thay đổi không thể nhận ra. Chính tôi đã thấy những
thanh thiếu niên này không những học được sự tôn trọng, mà giờ
293 Biên niên sử của Bulletin salésien không thuật lại chuyến đi của Cha Fr Rua đến
St. Cyr. Thông tin ngắn gọn trong chương trình nghị sự của thư ký Lazzero cho
ngày đó.
294 Theo chương trình nghị sự của Lazzero cho ngày đó.

23.2 Page 222

▲torna in alto
222 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đây còn lịch sự và kính trọng người khác.” Ngài cũng khai triển công
cuộc truyền giáo giữa những “kẻ man rợ. ”295
Cha Rua ở Tây Ban Nha
Tối thứ hai ngày 10 tháng Ba, cha Rua và cha Giulio Barberis rời
Marseilles đi Tây Ban Nha. Đối với cha Rua, đây là cuộc trở lại viếng
thăm, chỉ bốn năm sau chuyến đi đáng nhớ của ngài cùng với Don
Bosco vào năm 1886.296 Ngài sẽ đến thăm hai trung tâm Salêdiêng:
Sarrià ở Barcelona và Utrera ở vùng Seville. Vì hai nơi này rất xa
nhau, nên kéo theo những cuộc hành trình dài, tẻ nhạt bằng phương
tiện vận chuyển bình thường nhất.
Ngày 11 tháng Ba, sau suốt đêm trên tàu lửa, ngài đã đến nhà ga
ở Barcelona trong sự chào đón long trọng. Sau đó vào buổi sáng,
ngài đã có thể dâng Thánh Lễ trong nhà nguyện riêng của vị ân nhân
Doña Dorothy Chopitea, rồi ngài đến chào Đức Giám mục ngay. Đức
Cha đã tỏ ra “tử tế ngoại thường” (Barberis). Đến bốn giờ chiều cuối
cùng ngài cũng đến Sarrià, nơi ngài sẽ ở lại hơn một tuần, chính xác
là từ ngày 11 đến ngày 20. Khi đến nơi ngài được chào đón bằng
âm nhạc, lời ca tiếng hát và những lời hoan hô. Sân chơi được trang
hoàng và thắp đèn quanh mọi con đường có mái vòm và lên cả đến
tầng một. Bản thân Don Bosco chưa bao giờ được chào đón hoành
tráng như vậy ở một cơ sở vẫn còn khá mới mẻ. Giulio Barberis viết
cho Lu-y Piscetta vào ngày 15 tháng Ba: "Người dân Barcelona tỏ
lòng kính trọng sâu sắc với cha Rua, xem ngài thực sự là một Don
Bosco thứ hai."297
Ban ngày ngài dành giờ tiếp khách, và đặc biệt là kêu gọi các nhà
hảo tâm, đáng chú ý là cha Lu-y Martí-Codolar. Chuyến lưu lại ở
Barcelona của ngài đi đến đỉnh điểm thích hợp vào ngày 18 tháng
Ba khi chính thức khánh thành một khu phát triển mới ở một vùng
295 Bài nói chuyện được chỉnh sửa với tựa đề: «Conférence des Coopérateurs
salésiens», Bulletin salésien, tháng Tư, 1890, trang 49-50.
296 Thông tin về chuyến đi Tây Ban Nha này trong các thư của Cha Barberis FdR
3002 A8 & ff. và «Don Rua en Espagne», Bulletin salésien, tháng Sáu, 1890, trang
73-75.
297 FdR 3002 B9.

23.3 Page 223

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 223
ngoại ô đặc biệt nghèo. Doña Chopitea đã tài trợ một khu phức hợp
hoàn toàn mới, bao gồm một trường học và một Nguyện xá Chúa
Nhật, giao phó cho các người Salêdiêng sứ vụ giảng dạy và chăm
sóc mục vụ cho toàn bộ khu vực. Tòa nhà được Đức Giám mục làm
phép và mọi người tập trung trong một hội trường lớn để nghe bài
diễn văn chính thức, những lời tri ân trang trọng, những bài thơ và
những bài nhạc phần nhiều do công của các thanh thiếu niên ở
Sarrià. Chúng tôi biết được sự kiện này từ Correo Catalan vốn dành
toàn bộ một bài viết cho nó. Chúng tôi đọc thấy như sau: “Dưới một
tấm trướng lộng lẫy được dựng lên cho Đức Giám mục là một bức
chân dung đẹp đẽ của Don Bosco; ngồi ở hai bên Đức Giám mục chủ
tế buổi lễ là cha Rua đáng kính, Bề trên Tổng Quyền của Tu Hội
Salêdiêng, vị Tổng Đại diện của giáo phận và Chủ tịch của các Hiệp
hội Công Giáo”.298 Chuyến thăm của cha Rua kết thúc ngày 19 tại
Sarrià, khi cùng toàn thể cộng đoàn ngài tham dự cử hành lễ Thánh
Giuse, một lòng sùng thân thiết với tâm hồn ngài, và dự một tác
phẩm sân khấu được thanh thiếu niên diễn xuất.
Ngày hôm sau, hai lữ khách bắt đầu hành trình đến ngôi nhà
Salêdiêng thứ hai ở Tây Ban Nha, Utrera,299 đi qua Madrid và Seville.
Khi viết cho cha Piscetta, cha Barberis bắt đầu mô tả khá thơ mộng
về hành trình này như sau: “Trên hết, tôi phải bắt đầu kể cho cha
biết cuộc hành trình này từ Barcelona đến Utrera thật dài, rất dài,
thậm chí còn dài hơn từ Torino đến Barcelona. Tôi phải nói thêm
rằng ở Tây Ban Nha này tàu lửa đi không nhanh lắm, và có một vài
chuyến đi thẳng, do đó cuộc hành trình có vẻ còn dài hơn.300 Thực
ra Doña Chopitea đã mua vé hạng nhất cho họ, nhưng thực tế là khi
rời Barcelona lúc tám giờ sáng, họ đã đến Madrid cùng giờ này vào
sáng hôm sau, vẫn còn nửa đoạn đường mới đến đích. Cha Rua đã
không được thoải mái và suốt đêm không thể ngủ và vì vậy rất mệt
mỏi. Tuy nhiên, không hề tỏ ra nao núng, ngay khi xuống xe lửa ở
Madrid, và vì sẽ không đi đâu nữa cho đến tối, việc đầu tiên họ nghĩ
298 Theo bài báo trích trong Bulletin salésien, tháng Sáu, 1890, trang 73-74.
299 Tr. lưu ý: chúng tôi được thông báo thực ra Utera là hoạt động Salêdiêng đầu
tiên ở Tây Ban Nha (1881). Sarrià-Barcelona là thứ hai.
300 FdR 3002 B12-C1.

23.4 Page 224

▲torna in alto
224 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đến là cử hành Thánh Lễ. Lần này cha Rua dâng Lễ trong nhà nguyện
riêng của vị ân nhân giàu có, trong khi cha Barberis tìm thấy một
nhà thờ nhỏ gần đó. Trong ngày họ thực hiện một số thăm viếng
quan trọng: trước hết là thăm Đức Hồng Y Seville, lúc ấy đang có
mặt ở Madrid, sau đó là thăm Đức Giám mục Madrid, Khâm sứ Tòa
Thánh, và cha Tổng Đại diện của giáo phận.
Chuyến đi bằng tàu lửa suốt đêm từ Madrid đến Seville sẽ mất
mười ba tiếng. Do đó họ đi ngày 21 tháng Ba, lúc 6 giờ 30 tối, và
đến Seville lúc 7 giờ 30 sáng. Dầu thiếu tiện nghi, cha Rua đã cố
gắng ngủ một chút. Khi đã đến Seville, một lần nữa mối quan tâm
đầu tiên của họ là Thánh Lễ, có lẽ được cử hành trong thánh đường,
mà cha Barberis mô tả là "một trong những kỳ quan của thế giới”.
Ngài nhận xét có mấy trăm nhân công được thuê để trùng tu. Sau
khi viếng thăm Alhambra301, và kêu gọi một vài nhà hảo tâm, họ lại
lên tàu, lần này là đến Utrera, một thị trấn nhỏ với dân số khoảng
hai mươi ngàn người. Chặng cuối cùng của cuộc hành trình này mất
"không hơn bốn mươi lăm phút,” theo như cha Barberis302 tường
thuật.
Như có thể dự đoán, họ được chào đón nồng nhiệt tại nhà ga ở
Utrera, nơi sự hiện diện của người Salêdiêng rất được hoan nghênh.
Nếu chúng ta tin một bức thư của cha Barberis viết vào ngày 25
tháng Ba, có hai mươi chiếc xe đã sẵn sàng để chở cha Rua, hai linh
mục giáo xứ địa phương, thị trưởng, 'vị pháp quan (praetor)', Hội
đồng nhà Salêdiêng, những linh mục địa phương khác, các chức sắc
khác nhau và một vài người bạn. Cha kể cho chúng ta tất cả đều
muốn "làm quen với người kế vị Don Bosco, và tôn vinh ngài là tỏ
lòng kính trọng chính Don Bosco". Họ đã có một đoàn xe hộ tống
tuyệt vời khi tiến về nhà Salêdiêng. Cha Barberis bị sự trẻ trung của
thanh thiếu niên Andalucia quyến rũ đến nỗi phải thốt lên: “Utrera!
301 Tr. lưu ý: chúng tôi được thông báo thực ra L'Alhanbra ở Granada. Sai sót này
rất có thể do Barberis đã viết “Alambra”. Đúng ra ông phải viết Alcazar hoặc La
Giralda, tháp chuông của thánh đường nơi các ngài dâng lễ.
302 FdR 3002 C5-6 et 8.

23.5 Page 225

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 225
Utrera! Không bao giờ tôi quên được.”303 Ngay khi cổng chính mở
ra, một trăm ba mươi thanh thiếu niên, tất cả xếp hàng với những
hộ trực Salêdiêng, bắt đầu la lên: 'Evviva!' Họ vỗ tay và căng mắt để
nhìn người mà họ chờ đợi háo hức được thấy, và họ hát một bài ca
chào đón ngài. Ngôi nhà này đã được mở mười năm rồi nhưng chưa
hề có một bề trên nào đến thăm; vì vậy, cha Rua hiện diện ở đây
đúng là sự khích lệ tuyệt vời cho các hội viên. Vào ngày 23, tất cả
các thanh thiếu niên muốn xưng tội với cha Rua, vì không như cha
Barberis, ngài có đủ vốn tiếng Tây Ban Nha để xoay sở.
Vào tối Chúa Nhật có một buổi văn nghệ tuyệt vời với các tác
phẩm âm nhạc và văn học ở đây. Cha Barberis, và hầu như chắc chắn
cha Rua cũng rất ấn tượng với "Công giáo Tây Ban Nha" mà ngài
nhìn thấy. Cha viết: “Người Andalusia không thể nói mà không hát
những lời ca ngợi Thánh Hermenegild của mình, Thánh Ferdinand,
Thánh Isidore, mà không hồi tưởng lại thời kỳ người Hồi giáo thống
trị và chỉ nhờ Đức Maria trợ giúp mới kết thúc được mà thôi. Một số
sáng tác khai thác những chủ đề này.”304
Tại đó nhân dịp này, cha Rua đi hành hương đến Đức Mẹ An Ủi,
Đấng bảo trợ Utrera và toàn vùng Andalusia. Ngài cũng đến thăm
thị trưởng, đến đại tư tế (Archpriest) và hai hoặc ba gia đình hảo tâm.
Ngày 24, ngài đã huấn đức cho các Cộng Tác viên. Salesian Bulletin
thuật lại: “Những lời ngài nói thật giản dị, chân thành nhưng chạm
đến trái tim mọi người”; kết quả là chú bé giúp lễ đi quyên góp đã
gặp khó khăn khi cầm chiếc dĩa đựng đầy tiền mọi người cho.305 Cuối
cùng, tối ngày 25, hai lữ khách đã sẵn sàng hành trình trở về Torino.
Họ sẽ lại thực hiện từng bước, hy vọng sẽ trở lại đó ngày 30, vào
sáng sớm Chủ Nhật Lễ Lá. Họ về nhà lòng đầy ngưỡng mộ "Công
giáo Tây Ban Nha", vì các Cộng Tác viên quảng đại và gắn bó với
Don Bosco như họ chứng kiến ở đấy.
303 FdR 3002 C6.
304 Barberis, FdR 3002 C12.
305 Barberis, FdR 3002 D2-3.

23.6 Page 226

▲torna in alto
226 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Cha Rua ở Lyons và Paris
Cha Rua dành hai tuần cầu nguyện và hồi tâm với Ban Cố vấn của
mình; mặc dù cảm thấy rất cần phải đi đến Battersea, ở Anh, nơi dự
án mới có khởi sự không chắc chắn, ngài lại quyết định trước hết
thực hiện hai chuyến viếng thăm ngắn đến Lyons và Paris,306 có cha
Lu-y Roussin, biên tập viên của Tập san Salêdiêng307 ấn bản bằng tiếng
Pháp, đồng hành. Ngài rời Torino sáng ngày 14 tháng tư và được
gia đình Quysard đón tại nhà ga ở Lyons và đưa về nhà. Ngày hôm
sau, ngài dâng Lễ với các nữ tu dòng kín Clara ở đường Sala, gần nơi
Thánh Phanxicô Salê qua đời. Chi tiết cuối cùng này mang nhiều ý
nghĩa với cha Rua, người rất quan tâm tới các thánh tích. Sau đó,
ngài bắt đầu đi thăm một vòng với áp lực thời gian cho phép, đặc
biệt tới cha Tổng Đại diện M. Belmont (vì Đức Hồng Y Tổng Giám
mục Foulon vắng mặt) và đến văn phòng của 'Tổ chức Truyền bá
Đức tin', vốn hỗ trợ việc truyền giáo Salêdiêng ở Nam Mỹ. Đức Giám
mục Cagliero, Đại diện Tông Tòa tại Patagonia, và Giám mục
Fagnano, Phủ doãn Tông Tòa tại Hoả địa [Tierra del Fuego], đều được
báo trước chuyến viếng thăm của cha Rua, cả hai đều gửi lời chào và
cầu chúc tốt đẹp tới tổ chức ấy. Tổng Thư ký khoe với cha Rua một
số đồ vật từ các nơi truyền giáo được cất giữ trong một hộp thủy
tinh. Ngày 16, ngài leo lên đồi Fourvière, nơi đang thi công xây dựng
vương cung thánh đường rộng lớn và sẽ sớm trở thành niềm tự hào
của thành phố; ngài đã cử hành Thánh Lễ trong nhà nguyện lịch sử
mà Don Bosco cũng đã ở đây năm 1883. Ấn bản ‘L'Echo de Fourvière’
đã quý mến nói về toàn bộ cách cha Rua tiếp cận: “Ngài thường
xuyên trông cậy vào Chúa Quan phòng để cung cấp bánh mì hàng
ngày cho hàng trăm ngàn trẻ em được cứu thoát khỏi đau khổ, và
cậy vào đội ngũ những nhà truyền giáo can đảm đem Tin Mừng đến
những vùng xa xôi thuộc Patagonia. Cha Rua được xếp ngang hàng
với vị tiền nhiệm của mình vì nhiệt thành, sự dịu dàng, và trên hết là
306 Các phần được tường thuật từng phút trong Bulletin salésien, tháng Sáu, 1890,
trang 76-79.
307 Sự hiện diện của Cha Roussin với Cha Rua được ghi rõ trong một lá thư của
ngài gửi Cha Durando, Luân Đôn, 21 tháng Tư, 1890; FdR 3897 A4.

23.7 Page 227

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 227
đức tin sống động có thể chuyển núi dời non.”308 Ngài rời Lyons ban
tối, lấy tàu đêm đến Paris, nơi ngài định lưu lại chỉ hai ngày, biết
rằng ngài sẽ trở lại để ở lại lâu hơn sau khi ngài trở về từ Anh quốc.
Ngài dành trọn ngày 17 tháng Tư cho trường nội trú nhỏ được
thành lập tại Paris-Ménilmontant, gần nhà nguyện vốn là cái nôi thực
sự của công cuộc này. Ngài được chào đón nồng nhiệt; ngài rất mãn
nguyện khi Thánh Lễ ngài cử hành sáng hôm đó được các thiếu niên
hát Bình ca phụ họa. Vào buổi chiều, cũng những thiếu niên đó thết
đãi ngài một buổi hòa nhạc giản dị. Mặc dù nhỏ nhưng Nguyện xá
Thánh Phêrô và Phaolô rõ ràng hoàn toàn tràn đầy sức sống. Hôm
sau ngài gần như hoàn toàn không ở nhà. Buổi sáng, ngài ở cùng
các nữ tu dòng kín Biển Đức Thánh Thể ở rue Monsieur. Đầu tiên là
Thánh Lễ, được hát chung, sau đó là "buổi trò chuyện phụ tử" với
cộng đoàn, như Louis Roussin đã mô tả nó trong Tập san Salêdiêng,
khi ngài nói về công cuộc Salêdiêng ở châu Âu và các nơi truyền giáo
ở Mỹ châu, và món nợ tri ân của người Salêdiêng với những nữ tu
này, vốn hỗ trợ họ bằng cầu nguyện và sự quảng đại. Ban chiều,
cùng cha giám đốc Ronchail, cha Rua đã được Đức Giám mục Rotelli,
Khâm sứ Tòa Thánh, tiếp đón. Như mong đợi, Đức Cha đã nồng nhiệt
nói về công cuộc tại Ménilmontant, nơi mà phạm vi hoạt động tông
đồ mở ra cho người Salêdiêng rất rộng lớn. Tiếp đến, cha Rua đã
huấn đức cho các Cộng Tác viên tại nhà thờ Assumption ở đường Saint
Honoré; theo ký sự ghi lại, nơi đây người tham dự khá thưa thớt “vì
thời tiết xấu”. Cha Rua chỉ lặp lại những gì ngài đã nói ở Nice và
Marseilles về Don Bosco, việc tông đồ của thánh nhân cho trẻ em
nghèo và bị bỏ rơi, và sự tiến triển của việc tông đồ Salêdiêng, đặc
biệt trong việc truyền giáo ở ngoại quốc. Ngài cũng mạnh mẽ nhấn
mạnh "tuyệt đối cần phải mở rộng nhà cửa tại Ménilmontant"; tại
đây có tới tám trăm đơn xin nhập học mà chỉ có thể cung cấp được
chín mươi chỗ. Do đó, các Cộng Tác viên được mời gọi rút hầu bao
và đích thân cha Rua đi dọc các hàng ghế để thu tiền quyên góp. Họ
kết thúc với giờ Chầu Thánh Thể, sau đó cha Rua đã tiến hành một
vài cuộc phỏng vấn riêng trong phòng thánh. Nhìn chung, chuyến
308 L'Echo de Fourvière, 19 tháng Tư, 1890, theo Bulletin salésien, trích bài báo, p77.

23.8 Page 228

▲torna in alto
228 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
viếng thăm này xác nhận ký ức về Don Bosco ở Paris vẫn còn rõ nét
ra sao.
Cha Rua ở Anh quốc, miền bắc nước Pháp và Bỉ
Ít lâu trước khi qua đời, Don Bosco đã đảm đương một sứ vụ Công
giáo ở Battersea, một khu dân lao động rất nghèo ở Luân Đôn.309
Khởi đầu xem ra rất khó khăn, đặc biệt là vị bề trên đầu tiên, Edward
McKiernan, đã mất ngày 30 tháng Mười Hai năm 1888. Cha Rua đã
dành sáu ngày, từ 19 đến 25 tháng Tư, cho dự án vừa chớm nở này,
mà hiện đang được cha Charles Macey dẫn dắt. Hai lữ khách tìm thấy
ở đó một nhà thờ nhỏ tồi tàn, một căn nhà dùng làm văn phòng và
nhà xứ, một trường học gồm nam lẫn nữ đang phát triển với 315
học sinh do các nữ tu điều hành, được nhà nước trợ cấp một phần
nhưng được giáo xứ quản lý tài chính, một Nguyện xá Chúa Nhật
dành cho các thiếu niên và sự khởi đầu một nhà cho trẻ mồ côi với
ba em sống trong nhà xứ.310
Giáo xứ gồm khoảng hai ngàn người Công giáo, chủ yếu là người
Ailen. Ngày 21 tháng Tư, cha Rua viết: “Nhà thờ và trường học đều
đông người tham dự; những việc tốt đang được làm cho người Công
giáo trong khu vực thật đáng kể. Thậm chí những người Tin Lành
cũng được hưởng lợi, vì có nhiều cuộc trở lại, đôi khi các đại gia đình
đông đúc, một điều hiếm thấy ở nơi khác. Ngài nhận xét rằng
“Nguyện xá Chúa Nhật đang diễn ra tốt đẹp. Đúng là các thiếu niên
tham dự không nhiều như ở Nguyện xá của cha Pavia [ở Torino],
nhưng chúng tôi hy vọng rằng từ từ rồi sẽ tốt đẹp.” Ngài cân nhắc
việc nhận Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu tham gia vào sứ vụ ở
Anh quốc: “Sứ vụ vẫn đang trong những giai đoạn đầu: nếu chúng
ta biến nó thành một dự án chung, chúng ta có thể gửi một số chị
em của chúng ta đến coi sóc một Nguyện xá Chúa Nhật cho các thiếu
nữ, các em sẽ đến đông đảo và sẽ là nguồn ơn gọi dồi dào một khi
309 Mô tả trong một ghi chú từ Francesco Dalmazzo, dịch trong Bulletin salésien,
tháng 12, 1887, trang 149-150.
310 Mô tả dài về những ngày Cha Rua ở Anh quốc, Bulletin salésien. tháng Sáu,
1890, trang 79-85.

23.9 Page 229

▲torna in alto
tia lửa được thắp lên.311
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 229
Cha Rua xem xét cẩn thận nhà cửa. Ngài hài lòng khi thấy đã xây
bức tường bao quanh mỗi sân chơi, để ngăn chặn đám thanh thiếu
niên du côn leo vào và đập vỡ cửa sổ; nhưng ngài thất vọng với mái
kẽm của nhà thờ vì không đủ che cho các tín hữu khi trời mưa. Điều
quan trọng nhất là ngài thấy ngôi trường này hoàn toàn không đủ
sức chứa; ngài thúc giục cha Macey mở rộng nó để tăng gấp đôi số
lượng học sinh.
Chuyến viếng thăm đặc biệt đầu tiên của ngài là đến Đức Giám
mục Butt, Giám mục giáo phận Southwark; ngài dẫn cha Rua đến
thăm một trường học gần đó với một ngàn học sinh, được xây dựng
do giáo phận trợ giúp. Cha Rua hiểu rõ là đối với Đức Cha, trường
Công giáo là một ưu tiên cao. Tiếp theo là các chuyến viếng thăm
khác: đầu tiên, ngài đến chào cha xứ và cha phó của giáo xứ Đức Mẹ
Núi Carmel, các vị đã hỗ trợ những người Salêdiêng đầu tiên khi họ
đến Battersea; sau đó là các Nữ tu Đức Mẹ Namur, những người coi
sóc trường học; cuối cùng là cộng đoàn Những Người giúp đỡ các
Linh hồn Thánh thiện, những người đã làm nhiều việc cho người
nghèo. Ngài quan tâm để kinh nghiệm các dịch vụ của Giáo hội với
cộng đồng Anh giáo Westminster lẫn cộng đồng những người Ý nhập
cư. Như có thể đã được chờ mong, ngài thấy bầu khí lạnh lẽo nào
đó với người Anh giáo, trong khi đó ngài thấy đồng bào Công giáo
của mình vừa đạo đức vừa tự nhiên khiến nhà thờ tràn ngập tiếng ca
hát. Theo sử biên niên, nhiều người Tin Lành đã tham dự các buổi
phụng vụ ở nhà thờ của người Ý và đến các buổi hòa nhạc mà họ tổ
chức.
Ngày 25 tháng Tư, một lần nữa cha Rua băng qua biển Măng sơ
(English Channel) để trở về lục địa; ngày hôm sau ngài viết thư cho
Cesare Cagliero từ Guînes, gần Calais, nơi Con Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu đang ở giai đoạn đầu thành lập một cô nhi viện.312 Cha
311 Cha Rua tới Cha Fr Durando, Luân Đôn, 21 tháng Tư, 1890; FdR 3897 A4-6.
312 FdR 3863 A10.

23.10 Page 230

▲torna in alto
230 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Rua làm phép nhà nguyện cộng đoàn của họ,313 sau đó vào buổi tối
cùng ngày ngài được đón chào trang trọng tại viện cô nhi Salêdiêng
ở Lille, với đèn treo, ban kèn đồng, các bài diễn văn và bài hát từ
dàn hợp xướng của trường. Sau kinh tối, Giám đốc Ange Bologne
bảo các thiếu niên rằng các em sẽ bắt đầu tĩnh tâm vào ngày hôm
sau, và rằng cha Rua sẽ dành hầu hết thời gian cho các em ở tòa giải
tội hoặc trong phòng của ngài. Ngài giảng bài khai mạc ngày 27
tháng Tư và cũng thế giảng kết thúc vào ngày 1 tháng Năm. Từ ngày
2 đến ngày 6 tháng Năm, ngài dành thời gian gặp gỡ những người
dân sự hay giáo sĩ có tiếng tăm vốn đã trở thành bạn của Don Bosco
và những người quảng bá công cuộc Salêdiêng ở Lille. Giám đốc
Bologne muốn tài trợ việc mua một nhà máy gần nhà để họ tăng
gấp đôi quy mô các tòa nhà của trại trẻ mồ côi, đặt hy vọng vào một
báo cáo dài được tường trình ngày 6 tháng Năm trong hội nghị với
các Cộng Tác viên, chủ trì bởi Giám đốc các Khoa Công giáo ở Lille.314
Cha Rua đã tỏ ra hoàn toàn nhất trí với diễn giả. Theo ý tôi, sử biên
niên, vốn thường rất ư ngọt ngào: "trong bốn mươi lăm phút, với sự
giản dị bộc trực, ngài giải thích sự tiến triển lẫn nhu cầu của công
việc tông đồ Salêdiêng. Ngài nhấn mạnh rằng trại trẻ mồ côi Don
Bosco ở Lille phải được mở rộng, và nồng nhiệt đề nghị nhiệm vụ
này cho các Cộng Tác viên chúng ta ở miền Bắc.” Cuối cùng, ngày 7
tháng Năm, cha Rua đến Bỉ với Bologne và Roussin đồng hành.
Ít tuần trước khi mất, Don Bosco đã chấp nhận một đề nghị từ Đức
Giám mục Liège, Đức Cha Victor Doutreloux, là thiết lập trong thành
phố của ngài một cơ sở tương tự như cơ sở ở Valdocco. Thực thi việc
này rơi trên cha Rua. Ngày 8 tháng Năm, ngài đã có mặt tại buổi
làm phép đặt viên đá đầu tiên cho viện mồ côi Salêdiêng Thánh
Gioan Berchmans trong khu công nghiệp Laven, và Đức Giám mục
Doutreloux nài nẵng tiếp đãi cha Rua tại nơi ngài ở. Buổi lễ được
tiến hành với tất cả sự trang trọng và được cả Khâm sứ Tòa thánh từ
Brussels lẫn chính Đức Giám mục Doutreloux chủ tọa; nó được tiến
313 Cha Rua ở Guînes, Lille và Liège, bài báo phong phú trong Bulletin salésien,
tháng Bảy, 1890, trang 89-98.
314 Ai quan tâm có thể đọc thêm trong Bulletin salésien, trích bài báo, trang 92-94.

24 Pages 231-240

▲torna in alto

24.1 Page 231

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 231
hành theo hai phần: phần giới thiệu tại nhà thờ Sainte-Véronique,
sau đó một Thánh Lễ ngoài trời chính thức làm phép khu đất xây
dựng.315 Tại nghi lễ trong nhà thờ cha Rua đóng vai trò chính. Tờ
Gazette ở Liège thuật lại: sau khi hát Veni Creator, “chúng tôi nhìn thấy
một linh mục ngoại quốc với nước da tái xám và gầy như một ẩn sĩ,
bước lên ngai của Giám mục. Điều khiến chúng tôi ấn tượng thậm
chí hơn cả hình dáng gầy gò của ngài là ánh sáng thanh thản tỏa ra
từ bên dưới mí mắt của ngài, ửng đỏ do canh thức ban đêm ... Ngài
nói đơn giản và chính xác, với tấm lòng quảng đại và dù tiếng Pháp
của ngài nghe rất dễ hiểu, thì âm giọng Ý của ngài là không thể
nhầm được.” Cha Rua chỉ đơn giản kể ngắn gọn cuộc đời Don Bosco
và thành lập Tu hội Salêdiêng, và cho họ biết những rủi ro khi chấp
nhận đặt dự án mới này ở Liège. Do đó ngài kết thúc bằng lời kêu
gọi thiết tha xin người dân Liège hỗ trợ cho ngôi nhà này mà tương
lai của nó sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào lòng từ thiện của công chúng.
Tờ Gazette tóm tắt bài nói chuyện của ngài: "phát biểu giản dị, ấm
áp và tin tưởng, với bằng chứng về đức tin mạnh mẽ của ngài, khiến
các thính giả tin rằng Don Bosco không thể tìm được ai xứng đáng
hơn hoặc được trang bị tốt hơn để thay thế ngài." Như lệ thường sau
buổi lễ sẽ có tiệc tại tư dinh giám mục và sẽ có nâng cốc chúc mừng.
Đến phiên mình, cha Rua bày tỏ lòng tri ân đặc biệt đến vị khâm sứ
với một giai thoại thú vị. Ngài kể rằng, người Salêdiêng đã có thể
lập một nhà cho những người trẻ túng thiếu ở Catania, nơi không
thiếu các Cộng Tác viên. Ngài nói: "Trong số này có một người phụ
nữ sống đối diện với tòa nhà mà các thiếu niên gọi là ‘mẹ’. Người
ấy không ai khác chính là bà cố rất đáng kính... của Đức Giám mục
Di Nava, Khâm sứ Tòa Thánh ở Brussels.”316
Từ ngày 9 đến 17 tháng Năm, cha Rua đã đi một vòng gần như
toàn bộ nước Bỉ đến thăm nhiều nhà hảo tâm, và thường là những
người bạn giàu có mà các người Salêdiêng đã kết bạn được ở nước
315 Bài mô tả tỉ mỉ về hai buổi lễ này trong một bài báo có ký tên, L. H. Legius,
Gazette de Liège, 10-11 tháng Năm, 1890, sao chép lại trong Bulletin salésien, tháng
Năm, 1890, trang 63-68.
316 Bulletin salésien, tháng Bảy, 1890, trang 97.

24.2 Page 232

▲torna in alto
232 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
này.317 Cuộc hành trình đưa ngài đến Namur, Louvain, Brussels,
Malines, Anvers, Gand, Bruges, Courtrai và Tournai, sau đó ngài trở
về Pháp.
Ngày 19 tháng Năm, cha Rua thăm viện mồ côi [học] nông nghiệp
mới được thành lập có tên là 'Le Rossignol' [Chim Sơn Ca] tại Coigneux
(Somme), được cha Gioan Tẩy giả Rivetti, ba mươi chín tuổi, coi
sóc.318 Đối với mọi người, nó giống như một Bêlem khác: một nhà
trang trại đổ nát với các bức tường gạch sống đứng ở giữa một khu
đất phá hoang rộng chín mươi mẫu. Một căn phòng hẹp ở tầng trệt
đã được biến thành nhà nguyện, trong khi những đứa trẻ mồ côi ngủ
trên gác xép, nêm như cá hộp. Họ nuôi hai con bò và hai con heo.
Cha Rua chúc lành cho các em, bày tỏ hy vọng rằng ngài sẽ sớm có
thể quay trở lại và thấy nó được cung cấp đầy đủ tất cả những thứ
mà nó vẫn còn thiếu, qua sự quảng đại của các nhà hảo tâm trong
khu vực Somme và Pas-de-Calais. Tập san đó liệt kê những thứ cần:
Đồ dùng và áo lễ, bộ trải giường, đồ nội thất, quần áo, vải, dụng cụ
và cày, xe cộ, ngựa và gia súc, thức ăn gia súc, v.v.” Vào năm 1890
viện mồ côi canh nông này không kém gì một hố đen khốn cùng.
Ngày hôm sau, cha Rua và Lu-y Roussin lên đường đi Paris, trên
đường đi ghé Amiens chào Đức Giám mục và một vài nhà hảo tâm.319
Tại Nguyện xá Thánh Phêrô và Phaolô ở Paris, họ thấy sân chơi được
trang trí cờ quạt khi đám trẻ chào đón họ theo ban kèn đồng. Ngày
21, như biên tập viên của Tập san đó viết: “Vì trách nhiệm, Đấng Kế
vị Don Bosco quan tâm mạnh mẽ đến sứ vụ Salêdiêng chúng ta, ngài
đã thực hiện một vòng thăm viếng.” Ngày 22 tháng Năm ngài dành
nhiều thời gian rảo xem các xưởng của các tu sĩ dòng Assumption ở
rue Chaancois 1er, họ đã xuất bản tờ La Croix và Pèlerin. Từ đó, ngài
ghé thăm Đức Hồng Y Tổng Giám mục François Richard, người rất
mến mộ Don Bosco, và cuối cùng trở lại Ménilmontant để gặp Đức
317 Bài tường thuật chi tiết chuyến hành trình này trong một bài báo trong Bulletin
salésien, tháng Tám, 1890, trang 105-109.
318 Cha Rua ở Rossignol, Bulletin salésien, tháng Chin, 1890, trang 117-120.
319 Bài tường thuật chi tiết về chặng cuối chuyến đi của Cha Rua trong một bài báo
trong Bulletin

24.3 Page 233

▲torna in alto
Khám Phá Thế Giới Salêdiêng ở Âu Châu | 233
Khâm Sứ, Đức Giám mục Rotelli; Đức Cha cảm ơn ngài vì đã ghé
thăm nhân dịp cha đến Paris mới đây. Các thiếu niên bắt đầu kỳ tĩnh
tâm năm được một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế giảng. Ngày 25,
Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần, cha Rua giảng bài bế mạc, đề xuất
nhiều cách khác nhau để giữ gìn hoa trái tĩnh tâm. Buổi chiều được
dành cho giải trí, được tổ chức bên dưới một cái lều lớn. Bắt đầu là
bài diễn văn rất sâu sắc của chủ tịch ủy ban bảo trợ dành cho cha
Rua, nhưng bị gián đoạn bởi "một cơn lốc thực sự" trong suốt hồi
thứ nhất của một vở kịch có tên Le Prêtre.
Ngày 26 và 27 cha Rua đi thăm từ biệt, đặc biệt với các nữ tu
dòng kín Biển Đức ở đường (rue) Monsieur, và các tu sĩ Dòng Chúa
Cứu Thế ở Đại lộ (boulevard) Ménilmontant; cùng tối đó, (đi tàu đêm
như thường lệ, để không lãng phí thời gian) ngài trở về Torino. Trên
đường đi, ngài dừng lại tùy theo thời lượng khác nhau ở Paray-le-
monial, Cluny và Laizé, (với gia đình Quysard ở Lyons), quay trở về
ngày 30 tại ga Porta Nuova ở Torino lúc tám giờ sáng.
Như vậy cha Rua kết thúc chuyến đi khám phá đầu tiên những
công cuộc Salêdiêng ở Tây Âu. Tuy nhiên, cùng lúc đó ngài đang đặt
những nét kết thúc cho một dự án vốn sẽ cho thấy Tu hội Salêdiêng
đặt chân vào Đất Thánh. Việc này sẽ bao gồm một cuộc hành trình
vượt mọi mong đợi của ngài.

24.4 Page 234

▲torna in alto
234 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Vùng Trung Đông
18
Cha Antôn Belloni ở Đất Thánh
Biên bản buổi họp Tu Nghị Bề trên ngày 25 tháng Tám năm 1890
ghi nhận “cha Rua đã đọc lớn đề nghị mang tính chất tín cẩn từ Kinh
sĩ Belloni về việc sáp nhập với hội đoàn của ngài dành cho Trẻ Em Bị
Bỏ Rơi tại Đất Thánh ở Bêlem, Betgialla [tức là Beitgemal], Nazareth,
v.v, với việc bàn giao tất cả tài sản hiện có, các cộng tác viên chính
của ngài hoàn toàn đồng ý. Belloni sẽ đến châu Âu, và trong khi
đồng thuận với đề nghị này, Hội đồng chờ ngài đến để thảo luận
đầy đủ hơn.”320 Một bước ngoặt quan trọng gồm các biến cố trong
thời gian đương nhiệm của cha Rua đang diễn ra: những người
Salêdiêng sắp đặt chân vào Trung Đông.
Kinh sĩ Antôn Belloni (1831 – 1903) không xa lạ với cha Rua.321
Là Vincent de Paul của Đất Thánh, xuất thân từ Ý, cha đã đến khu
vực này như là một nhà truyền giáo năm 1859; ngài đã sớm được
bổ nhiệm làm giáo sư Thánh Kinh và cha linh hướng tại đại chủng
viện. Cha rất phiền muộn vì tình trạng bi thảm của nhiều thanh thiếu
niên đang bị bóc lột và biến ra hư hỏng và không có chút kiến thức
tôn giáo nào. Lời đáp trả đầu tiên của cá nhân cha là nhận một cậu
bé bị cha mẹ mù bỏ rơi. Chẳng bao lâu, thêm ba thiếu niên kém may
mắn khác đến với cha. Cha dạy dỗ và tìm việc cho các em; nhưng vì
chủng viện không muốn các em đó hiện diện ở đấy nên cha thuê
một căn nhà xuống cấp gần đó; chẳng mấy chốc cha thấy đàn chiên
bé nhỏ của mình tăng số. Các nhà hảo tâm đến giúp đỡ cha, tới mức
một ngày đẹp trời cha quyết định thành lập một viện mồ côi thực sự.
320 Biên bản của Hội đồng, ngày 25 tháng Tám, 1890.
321 Về Anthony Belloni, xem tiểu sử của Giorgio Shallub, Abuliatama. Il Padre degli
orfani nel paese di Gesù, Torino, SEI, 1955.

24.5 Page 235

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 235
Địa điểm cha chọn là ở Bêlem, bên cạnh con đường dẫn đến hang
thánh. Được Đức Thượng Phụ Latinh cho phép, người chuẩn chước
cho cha khỏi chức vụ dạy học trong chủng viện, cha đã tự dựng nhà
cho mình ở đó.
Năm 1874, với 45 thanh thiếu niên quanh mình, cha nhìn về
tương lai và quyết định thành lập một Hội Dòng Giáo Phận Các Anh
Em Gia Đình Thánh Gia để hỗ trợ cha trong công việc bác ái. Ba đệ
tử đầu tiên đến từ chính những trẻ mồ côi của cha. Năm sau, trong
chuyến đi châu Âu để quảng bá công việc của mình, cha tìm được
một cộng tác viên quý giá trong con người của một linh mục người
Ý, Raphael Piperini (1842 - 1930); tiếc thay, sự nghiệp ấy đã không
đạt được kỳ vọng của con người tốt bụng này. Nếu chúng ta tin vào
một nhân chứng không rõ ràng và mãi về sau này322 thì cha Belloni
đã gặp Don Bosco ở Torino năm 1878; vào giai đoạn đó ngài đã đề
nghị bàn giao tất cả công việc của mình tại Palestine. Sau đó, cha đã
mua lại một bất động sản ở Beitgemal để thành lập một viện mồ côi
[học] nông nghiệp, mà cha giao cho một linh mục người Ý khác.
Năm 1885, cha đã tập hợp 80 thanh thiếu niên ở Bêlem và 56 ở
Beitgemal; ngoài ra ngài đã mở một trường học ban ngày ở Bêlem
được tới 150 học sinh. Năm sau, cha bắt đầu một trung tâm thứ ba
tại Cremisan, không xa Bêlem, để lo kiếm một mái nhà cho các đệ tử
Gia đình Thánh gia của cha. Cuối cùng, cha đã mua một địa điểm
trên ngọn đồi Nazareth với ý định thành lập trung tâm thứ tư. Nhìn
chung, điều này tạo thành một di sản tốt đẹp, bất chấp nó tiếp tục
lệ thuộc vào lòng từ thiện của dân chúng với tất cả những bất ổn của
nó.
Sáp nhập Gia Đình Thánh Gia với Tu hội Salêdiêng
Việc sáp nhập công cuộc của cha Belloni tại Đất Thánh với Tu hội
Salêdiêng tiến triển nhanh chóng. Từ biên bản buổi họp của Tu Nghị
Bề trên ngày 6 tháng Mười năm 1890 do cha Rua chủ trì, chúng ta
biết rằng: “Kinh sĩ Belloni, người sáng lập các nhà cho những thiếu
niên bị bỏ rơi ở Bêlem, Baitgialla [tức là Beitgemal] và Nazareth đã
322 Bài báo ẩn danh «Un'era della carità in Palestina. Abuna Antun Belloni»,
Osservatore Rômano, ngày 21 tháng Tám, 1935, đăng lại trong MB XVII, trang 896.

24.6 Page 236

▲torna in alto
236 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hiện diện trực tiếp. “Các yêu cầu được đệ trình bằng văn bản của
Kinh sĩ Belloni liên quan đến việc sáp nhập hội dòng của cha với Tu
hội chúng ta đã được kiểm tra: trong mỗi trường hợp, Hội đồng đưa
ra câu trả lời khẳng định. Cha Durando đã được ủy quyền soạn thảo
các điều khoản chính thức của một thỏa thuận sẽ được trình bày cho
[Bộ] Truyền Giáo ở Rôma.” Ba ngày sau, Kinh sĩ Belloni lại có mặt tại
cuộc họp kế tiếp, biên bản tường thuật: “Cha Durando đọc thỏa
thuận sáp nhập của hai hội dòng vốn đã được hai bên chấp thuận.”323
Đối với bản thân cha Belloni, cha đã không lãng phí thời gian. Cha
đã lập tức đến Rôma để trình bày kế hoạch của mình cho Đức Giáo
Hoàng Lê-ô XIII. Ngài đã phê chuẩn, tặng cha món quà 7.000 lire
và mời cha thu xếp vấn đề với Bộ Truyền giảng Đức tin [Propaganda
Fide]. Điều kiện duy nhất được Đức Hồng Y Bộ Trưởng Simeoni yêu
cầu là cha Belloni phải bảo đảm rằng Đức Thượng Phụ Latinh ở Đất
Thánh, Đức Tổng Giám mục Piavi, người thực sự ở Rôma ngay lúc
đó, không thấy trở ngại nào đối với thỏa thuận này. Mọi thứ diễn ra
tốt đẹp đến mức vào ngày 9 tháng Mười Một, bản thảo lại đã sẵn
sàng.
Tất cả những gì còn lại là biến nó thành hiện thực. Tại buổi họp
Hội đồng ngày 7 tháng Hai năm 1891, như biên bản ghi lại: “Cha
Rua giải thích rằng Kinh sĩ Belloni đã viết thư xin hai người Salêdiêng
nên đi cùng với vị kinh lược chính thức vào cuối tháng Năm. Hội
đồng chấp thuận và tán thành danh tánh của hai linh mục có vẻ thích
hợp cho công việc ở Palestine.”324 Đấy là cha Gioan Tẩy giả Useo và
cha Corradini. Do đó, ngày 15 tháng Sáu năm 1891, vị Kinh sĩ và ba
người Salêdiêng, Barberis, Useo và Corradini, cập bến tại Jaffa. Cuối
năm đó, ngày 8 tháng Mười, bốn tư giáo và ba Sư huynh đã đến
cùng với năm người Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Cuối cùng,
mười bảy người Salêdiêng, bao gồm cha Antôn Variara, lãnh đạo của
nhóm, sáu tư giáo và chín Sư huynh, nhập đoàn những người còn lại
ngày 29 tháng Mười Hai. Việc sáp nhập giờ đây hoàn tất.325
323 Biên bản của Hội đồng, ngày 6 và 9 tháng Mười, 1890.
324 Biên bản của Hội đồng, ngày 7 tháng 2, 1891.
325 Báo cáo trong E. Ceria, Annali II, trang 180-184.

24.7 Page 237

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 237
Tuy nhiên, cả một con đường gập ghềnh đằng trước. Một số người
giúp đỡ cha Belloni đã bỏ cha và gia nhập Tòa Thượng Phụ Latinh.
Những người khác chấp nhận tình hình mới với thái độ tồi tệ. Tin
đồn chống đối lan đi khắp nơi. Người Salêdiêng đe dọa sẽ kéo các
Nữ tu ra. Tiền bạc thiếu hụt. Tại Tòa Thượng Phụ có một số người
tranh cãi việc nhượng bất động sản cho cha Rua vì họ cho là quà
được ban tặng không phải trên cơ sở cá nhân [intuitu personae], nhưng
vì lợi ích của Tòa Thượng Phụ [intuitu Patriarchatus]. Vấn đề trở nên
gay go đến nỗi cha Rua đã phái cha Celestine Durando với tư cách
Kinh lược Ngoại thường đến Palestine với nỗ lực làm dịu tình hình.
Cha đến đó ngày 23 tháng Bảy năm 1892, và khi cha đi cùng với cha
Belloni để tự giới thiệu với vị Đức Thượng Phụ, ngài hỏi cha thẳng
thừng: "Có phải cha đến để rút người Salêdiêng về?" Cha Durando
trả lời: “Chúng con sẽ xem xét, chúng con sẽ xem xét”, nghe vậy cha
Belloni ngắt lời:“ Nếu người Salêdiêng ra đi, con cũng đi.” Nghe thấy
thế, Đức Thượng Phụ bỏ họ.
Yêu cầu duy nhất buộc cha Belloni phải làm là cha phải từ bỏ tước
vị kinh sĩ của mình, và cha đã vui vẻ thực hiện trước mặt hai vị đại
diện Đức Thượng Phụ. Từ đó trở đi, cha nhận mình hoàn toàn là
người Salêdiêng. Trong suốt những ngày nghỉ hè năm 1893, cha đã
tuyên khấn trọn đời trước mặt cha Gioan Marenco vốn đã đến giảng
tĩnh tâm năm. Cha Rua thanh toán hết các khoản nợ tồn đọng và từ
năm đó trở đi ngài đã phân bổ khoản trợ cấp hàng năm là hai mươi
ngàn franc.
Cha Rua hành hương Đất Thánh
Những người phê bình chẳng mấy chốc im tiếng trong ba cơ sở
của cha Belloni, nay ở trong tay người Salêdiêng. Để hợp nhất trí
lòng, không gì tốt hơn là một chuyến thăm của cha Rua đến Đất
Thánh. Ngài quyết định thực hiện việc này vào năm 1895.326
326 Về chuyến đi của Cha Rua ở Đất Thánh, có những lá thư dài từ Paul Albera gửi
tới Cha Domenico Belmonte, Phó Tổng Bề trên, được in ngay và gửi đến cho các
Giám đốc; có thể tìm chúng trong FdR 3003 C10 ở mục 3004 A11, trên 38 trang
giấy cỡ lớn. Báo cáo: «Don Rua en Palestine», Bulletin salésien, 1895, trang 189-
195, 137-139, trước hết bởi Bản tin cho là ít nhiều có tính hợp pháp do Marquys

24.8 Page 238

▲torna in alto
238 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Thứ bảy ngày 16 tháng Hai, cùng với cha Phaolô Albera, Tổng
Giám linh, cha Rua khởi hành từ Marseilles lên tàu Druentia của công
ty hàng hải Cyprien Fabre, đến Alexandria, Ai Cập. Hầu tước
Villeneuve-Trans, một Cộng Tác viên Salêdiêng từ Marseilles, đã đi
cùng họ. Trước đó họ có ý định thực hiện chuyến đi trên một chiếc
tàu thủy lớn thuộc hãng hàng hải Messageries, vốn sẽ được thoải mái
hơn, nhưng vì tàu không ra khơi hôm đó nên họ không còn lựa chọn
nào khác. Mấy ngày đầu thật khủng khiếp: một cơn gió đông dữ dội
tạo ra những con sóng khổng lồ khiến các du khách bị ngả nghiêng
và hai lần buộc thuyền trưởng phải thay đổi lộ trình đi vào vùng biển
êm dịu hơn cạnh bờ biển nước Ý. Chúa Nhật ngày 17, một cha Rua
nhợt nhạt như xác chết xuất hiện từ cabin của ngài với ý định dâng
Thánh Lễ như đã thông báo trước đó, nhưng ngài buộc phải đi nằm
lại cả ngày, đôi khi phải bám chặt vào đồ đạc để tránh bị văng trên
sàn nhà. Hành lý bị ném tứ tung và những thùng tròn lớn lăn, va
đập trên boong tàu. Như cha Albera kể cho chúng tôi, ngài cố hết
sức giữ bình tĩnh và đọc hoặc cầu nguyện. Cuối cùng suốt đêm giữa
thứ hai và thứ ba, cơn bão dịu xuống, và vào ngày 19 cả hai cha Rua
và cha Albera đã có thể dâng Thánh Lễ, lần lượt người này phục vụ
người kia. Cuộc hành trình trở thành một thứ tĩnh tâm cho họ khi họ
cùng nhau nguyện kinh theo giờ kinh phụng vụ, suy niệm (dùng một
bản văn đọc to theo như việc thực hành của thời kỳ đó) cũng như
đọc sách thiêng mỗi ngày.
Từ Marseilles đi đến Alexandria mất một tuần; cuối cùng, Chúa
Nhật ngày 24 tháng Hai, con tàu cũng đã cập vào đất liền. Ngày
hôm đó, hai linh mục dâng Thánh Lễ trên tàu, trò chuyện với thuyền
trưởng và thủy thủ đoàn đã thể hiện lòng tốt với các ngài, và cuối
cùng lên bờ tại Alexandria, một thành phố đẹp như tranh vẽ mà cha
Albera rất thích thú khi miêu tả cho cha Belmonte. Trước khi lên
đường đi Palestine, họ lưu lại chút xíu với các tu sĩ Dòng Tên tại
trường đại học Thánh Phanxicô Xaviê, mà theo cha Albera, nơi đây,
de Villeneuve Trans, người đi cùng họ. Chúng tôi không đưa những tham khảo
chính xác cho những lá thư của Cha Albera. Bất cứ ai nghiên cứu đều có thể dễ
dàng tìm thấy chúng.

24.9 Page 239

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 239
các linh mục “có mặt rất đông để ân cần với Bề trên đáng kính chúng
ta”. Cha Rua có cơ hội thăm viếng vị Ủy viên Tông Tòa, Đức Tổng
Giám mục Corbelli, vốn nhấn mạnh cần phải cấp thiết thành lập một
trường nghề Salêdiêng tại Alexandria. Rõ ràng Đức Cha đã thuyết
phục cha Rua, vì năm sau mong muốn của Đức Cha đã thành tựu.
Cha Rua cũng đã cố gắng gặp gỡ các Cộng Tác viên, nhưng không
mấy thành công; gần như không thể được trong một thành phố với
những con đường không tên và những căn nhà không có số.
Thứ tư ngày 27 tháng Hai, cha Rua và hai người bạn của ngài lên
tàu đi Jaffa trên một chuyến tàu bưu điện thuộc về một công ty Thổ
Nhĩ Kỳ; cha Rua tìm được một góc yên tĩnh để giao dịch thư từ.
Không có cơ hội dâng Thánh Lễ ngày 28, ngày họ đến Jaffa, nhưng
họ vui sướng tột độ khi một chiếc thuyền với những người Salêdiêng
trên đó chèo vào, đưa họ cùng hành lý theo, giúp họ tránh được mọi
rắc rối.
Tại thị trấn cha Belloni đang sốt ruột chờ đợi họ tại nơi ở của dòng
Phanxicô. Đường dây điện báo giữa Alexandria và Jaffa tạm thời bị
hư nên không thể báo cho ngài biết khi nào họ đến như cha Rua
mong muốn.
Bê-lem và Giê-ru-sa-lem
Như lời cha Albera nói, rốt cục khi đã đặt chân lên đất Palestina,
và hết sức háo hức, để biến cuộc hành trình của họ trở thành một
chuyến hành hương đích thực, những du khách của chúng ta lập tức
tìm được một nhà thờ để có thể đọc kinh Te Deum, đọc 1 Kinh Lạy
Cha và một Kinh Kính Mừng để nhận được ơn đại xá dành cho khách
hành hương khi đến Đất Thánh. Họ được cộng đoàn Phanxicô tiếp
đón nồng hậu. Sau đó ba người - cha Rua, cha Belloni và cha Albera
- lên tàu lửa đi Giê-ru-sa-lem. Tâm trí cha Rua và cha Albera hoàn
toàn ước ao viếng thăm tất cả những nơi được kể đến trong Kinh
Thánh, được công nhận hay thuộc về ngụy thư; những nơi ấy được
nên thánh thiện nhờ Chúa Giêsu, Đức Maria hoặc các Tông đồ hiện
diện. Những nơi này bao gồm ngôi nhà của Simon người thợ da từ
Jaffa, Joppe, nơi Tabitha được làm cho sống lại, Ramlah, trước đây
là Arimathea, quê hương của ông Giuse và Nicôđêmô, những người

24.10 Page 240

▲torna in alto
240 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đã mai táng Chúa Giêsu, thung lũng Sharon, được nên nổi tiếng nhờ
Samson và ba trăm con cáo với ngọn đuốc đang cháy, v.v.
Tại nhà ga ở Giê-ru-sa-lem, một nhóm người đông đúc gồm linh
mục, tư giáo và thanh thiếu niên đã có mặt để chào đón người kế vị
Don Bosco; chốc lát họ lại lên đường đến Bêlem. Những người trẻ
hộ tống các ngài, một số cưỡi ngựa hoặc lừa, số khác chỉ chạy cùng
với xe ngựa của các ngài. Trên đường họ ghé vào giếng của nhà đạo
sĩ và lăng mộ của Rachel. Cách Bêlem khoảng một dặm, một số thiếu
niên từ viện mồ côi xách đèn lồng đang chờ các ngài. Những tiếng
reo mừng vang lên, và càng lúc người càng trở nên đông đúc đến
mức con đường phía trước đã hoàn toàn bị nghẹt, và cha Rua phải
xuống xe ngựa và đi bộ. Cha Albera nói đó là cảnh tượng "hoàn toàn
rối loạn”. Cuối cùng, giữa một điệp khúc hoan hô các ngài đến nhà
nguyện, nơi các linh mục và các tư giáo đã mặc phẩm phục đang đợi
các ngài. Ban nhạc chơi một bản kèn lệnh và cha Rua được dẫn đến
bàn thờ nơi đang đặt Mình Thánh Chúa, và giữa những tia sáng nhấp
nháy và khói hương nghi ngút, mọi người cất cao Te Deum.
Cha Rua đã mệt nhoài, nhưng ngài đồng ý tiến vào hội trường để
nghe bài diễn văn chào đón và ngài đã đáp từ cách nồng hậu. Từ
đó, cả gia đình mồ côi tập trung trong một phòng ăn. Theo lời của
cha Albera, việc này đã cho các thanh thiếu niên cơ hội trong suốt
bữa ăn săm soi “gương mặt tử tế, nhân từ như người cha của vị bề
trên đáng kính của chúng ta”. Chắc chắn, cha Rua Bề Trên Cả đã bỏ
lại đằng sau phong cách nghiêm trang của vị Bề Trên với khả năng
nhận ra những vi phạm luật lệ nhỏ nhất.
Thứ sáu ngày 1 tháng Ba, cha Rua đã tham dự nguyện ngắm với
cộng đoàn và sau đó cử hành Thánh Lễ. Ngài rất vui khi thấy tại viện
mồ côi Bêlem ngày thứ sáu đầu tháng được dâng cho Thánh Tâm
Chúa Giêsu. Sau đó, ngài thăm cha Giám Hộ dòng Phanxicô, đoạn đi
đến hang đá Chúa Giáng Sinh. Tại đây lòng ngài tan nát khi thấy:
gian giữa của Vương cung Thánh đường Thánh Helena cổ đã trở
thành đất nền diễu hành cho binh lính Thổ Nhĩ Kỳ, và ca đoàn đã
được đưa vào một nhà thờ để sử dụng bởi Chính Thống Hy Lạp (được
Albera đặt tên cách thô lỗ là "ly giáo" trong bức thư gửi cho

25 Pages 241-250

▲torna in alto

25.1 Page 241

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 241
Belmonte). Trong hang động, phía trên bàn thờ, là một ngôi sao bạc
với dòng chữ: Hic de Virgine Maria Jesus Christus natus est. [Ở đây Chúa
Giêsu Kitô được Đức Trinh Nữ Maria hạ sinh]. Tại đó cha Rua nằm phủ
phục cầu nguyện một lúc, nhưng ngài thấy không có khả năng dâng
Lễ ở đó, vì bàn thờ được dành riêng cho Chính Thống giáo và người
Armenia. Cách đó một thước một máng cỏ bằng đá cẩm thạch đánh
dấu nơi “những mục đồng và Đạo sĩ thờ phượng Con Thiên Chúa” (từ
của cha Albera). Có một bàn thờ khác dành cho các linh mục Công
giáo; ngày hôm sau cha Rua đã cử hành Thánh Lễ tại đó. Trong khu
vực lân cận không thiếu những nơi nhận là có những mối liên hệ lịch
sử: hang động nơi đó Thánh Giuse đã mơ thấy phải đưa Thánh Gia
sang Ai Cập; nơi chôn xác của các Thánh Anh hài; ngôi mộ của Paula
và Eustochium, các môn đệ của Thánh Giêrôm, v.v. Lòng sùng kính
của cha Rua, người có mối quan tâm nổi bật với các thánh tích, đã
được thưởng công dư đầy do nghiệm được rất nhiều nơi thánh.
Ngày 2 tháng Ba, cha Rua đã dành nhiều giờ trò chuyện với các
anh em và các thiếu niên. Chúa nhật mùng 3, cha Rua, cha Albera
và Hầu tước Villeneuve-Trans được mời gặp gỡ Hội nghị thánh Vinh
Sơn, được tổ chức tại Bêlem thông qua sáng kiến của cha Belloni.
Như cha Albera xác nhận, họ tìm thấy cùng tinh thần đức ái, cùng
những lời cầu nguyện, cùng những mối quan tâm về việc giúp đỡ
các gia đình nghèo như trong các cuộc họp tương tự ở châu Âu. Hầu
tước ra về nhận được nhiều lời tán dương. Khi về nhà, các ngài thấy
tất cả thanh thiếu niên đều đã chuẩn bị bước lên sân khấu: họ đã tập
dượt một vở kịch được cha Lemoyne soạn có tựa đề "Patagonia". Cha
Albera viết: "Các diễn viên hầu hết là các trẻ em Ả Rập, đã nhận được
tràng pháo tay nhiệt liệt, xứng đáng. Các em đã rất nỗ lực học kịch
bản tiếng Ý, và các em diễn xuất với kỹ năng đáng ngưỡng mộ.”
Thứ hai ngày 4 đã được dành riêng để thăm viếng Giê-ru-sa-lem.
Cách thành phố một quãng ngắn, những khách hành hương đi men
theo thung lũng "Gehenna", giờ đây không hơn một hầm cầu đầy
nước ứ đọng. Cha Rua háo hức đi và phủ phục tại Mộ Thánh, nhưng
ngài cảm thấy có nghĩa vụ trước hết phải đi trình diện Đức Thượng
Phụ Latinh, Đức Tổng Giám mục Piavi, người chỉ vài năm trước đây

25.2 Page 242

▲torna in alto
242 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đã muốn loại bỏ người Salêdiêng. Albera viết: "Dù rất đau đớn, ngài
tiếp cha Rua rất tử tế. Ngài liên tục bày tỏ niềm hân hoan gặp gỡ
người Kế vị Don Bosco và nhớ lại tên các vị bề trên Salêdiêng mà
ngài đã biết.” Rời văn phòng của Đức Thượng Phụ, cha Rua đi qua
văn phòng của Đức Giám mục Phụ tá Apodia và vào chủng viện nối
liền với Tòa Thượng Phụ. Từ sân thượng, ngài lặng lẽ ngắm nhìn
khắp thành phố, nhưng các chủng sinh đến, muốn hôn tay ngài và
nghe ngài nói vài lời. Ở đây chúng ta có thể trích dẫn bức thư của
cha Albera ngày 7 tháng Ba gửi Cha Belmonte. "Cha Rua vui vẻ đồng
ý; với sự đơn sơ và nồng ấm, ngài thúc giục họ nuôi dưỡng tinh thần
học tập và cầu nguyện để làm được điều tuyệt vời trong vùng Truyền
giáo mà những người ly giáo và Tin Lành đang tích cực dấn thân, và
thậm chí cả những người thuộc Hội Tam Điểm lúc đó đang quy tụ ở
Giê-ru-sa-lem, khi mang lòng hận thù đối với Chúa Giêsu Kitô và Giáo
Hội Ngài, từ những vùng đất xa xôi của mình.” Như vậy đấy! Vào
thời điểm đó, Pháp đã cung cấp một loại bảo hộ cho người Công
giáo Đông phương; do đó, cha Rua đã đến chào Lãnh sự Pháp. Ông
ta kính trọng tiếp ngài, rồi giới thiệu gia đình ông. Ông tỏ ra rất
quan tâm đến công việc của người Salêdiêng, coi việc người
Salêdiêng hiện diện là thật may mắn cho bất kỳ quốc gia nào trên
thế giới, nhưng đặc biệt là cho Palestine. Buổi chiều được dành để
thăm viếng chính thức vị lãnh sự Ý. Nó thật rất dài.
Cuối cùng cha Rua cũng được tự do thăm viếng Mộ Thánh, đồi
Canvê, nhà thờ Thánh Helena “nơi người ta tìm thấy Thánh Giá” và
“rất nhiều nơi khác được các tín hữu hết lòng sùng kính, tất cả đều
nằm trong Vương cung Thánh đường Mộ Thánh” (lời của cha Albera).
Nhưng trời đã về chiều và đến giờ cha Rua dùng bữa tối với những
tu sĩ Phanxicô, trước đó họ đã cho ngài phòng nghỉ để ngài có thể
dâng Lễ tại Mộ Thánh lúc bốn giờ sáng. Điều đó có nghĩa là ngài sẽ
ở chung phòng với hai khách hành hương khác, nhưng với ngài điều
đó chẳng mấy quan trọng. Dù sao đi nữa, ngài không ngủ nhiều, vì
như cha Albera nói, ngài đi vào những phòng trưng bày trên lầu, và
ở đó “dán mắt nhìn vào Mộ Thánh, ngài cầu nguyện lâu giờ suốt
đêm.”

25.3 Page 243

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 243
Sáng hôm sau, "rõ ràng xúc động" cha Rua dâng Lễ, được cha
Albera và Marquys de Villeneuve phụ lễ. Sau đó cha Albera cũng
dâng lễ, trong khi cha Rua quỳ tạ ơn Thánh Lễ trên sàn đá. Sau đó
khách hành hương lên đường dõi theo chân Chúa Giêsu. Đi theo một
đoạn Via Dolorosa, họ dừng lại ở nhiều chặng khác nhau trên Chặng
Đàng Thánh Giá, ghé vào nhà thờ Các Nữ tu Sion, nơi họ chiêm ngắm
cổng vòm Ecce Homo, sau đó tiến về phía Gethsemani. Tuy nhiên, họ
không đi vào: thay vào đó, họ leo lên Núi Ô-liu. Tu viện Cát Minh
xây tại đó “tọa lạc trên nơi Chúa Giêsu dạy Kinh Lạy Cha” (Albera).
Ngoài ra còn có hang động Credo, được gọi thế “vì ở đó các Tông đồ
đã quy tụ và soạn Kinh Tin Kính trước khi mỗi người đi một ngả”
(Albera). Các tu sĩ Cát Minh cung cấp một hướng dẫn viên đi đến tận
nhà thờ Thăng Thiên, nơi họ hôn tảng đá "mà vẫn in dấu chân của
Đấng Cứu Chuộc chúng ta" (Albera). Đúng như thế! Cha Rua cũng
viếng thăm Bethphage mà từ đây Chúa Giêsu ngắm thành Giê-ru-sa-
lem và báo trước nó sẽ bị tàn phá; cũng vậy nơi Chúa Giêsu bị Giuđa
phản bội, hang động Hấp Hối, và nơi chôn cất Đức Maria "nằm trong
tay người ly giáo" như cha Albera ta thán.
Ba người có một cảm thức sùng kính liên lỉ cao độ, điều này giải
thích ý nghĩa lời cha Albera nhận xét về những cuộc viếng thăm ban
chiều của họ. Ngài viết: “Họ gặp nhiều người Anh, trong đó có vài
cha xứ, nhưng họ xử sự giống như khách du lịch hơn và không hề
biểu lộ một chút dấu hiệu của lòng đạo đức hay sùng kính. Đó là do
việc bãi bỏ các hình thức thờ phượng bên ngoài.” Điều đó thật tương
phản với ba vị khách hành hương của chúng ta, trên hết là chính cha
Rua, người giữ tinh thần cầu nguyện trong suốt những cuộc viếng
thăm của họ.
Tại Cremisan
Về lại Bêlem, ngày 6 tháng Ba cha Rua dành trọn ngày để viếng
thăm Cremisan. Mặc dù cũng khá xa và đường sá tồi tệ, ngài khăng
khăng đòi đi bộ. Ở Cremisan có mặt tất cả những ai khao khát trở
thành người Salêdiêng, tư giáo hay sư huynh. Hy vọng của cha Rua
là nơi này sẽ trở thành một vườn ươm ơn gọi thực sự. Hôm đó là
ngày họ thực hành Dọn mình Chết lành [Bona Mors] bằng chứng rằng

25.4 Page 244

▲torna in alto
244 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cách sống Salêdiêng được đâm rễ tốt đẹp trong những ngôi nhà
thuộc gia đình Thánh Gia trước kia. Việc linh thao ấy được nối tiếp
bằng một buổi dạ hội, với các mục bằng tiếng Latinh, tiếng Ý, tiếng
Pháp và tiếng Ả Rập, và sau bữa ăn tối có một tác phẩm sân khấu
bằng tiếng Ý. Cha Albera bình luận: "Bạn có lẽ đã nghĩ rằng mình
đang ở Ý". Cha Rua hỏi xem vườn nho và hầm rượu. Ngài tiếc rằng
sản phẩm của năm trước vẫn chưa được bán. Cha Albera cũng có lời
than phiền tương tự: "Tiếp thị rất khó khăn, nhưng tiền bị thiếu hụt."
Tất cả hội viên đều có buổi nói chuyện thiêng liêng với cha Rua, và
ngay cả nhóm người đời đều muốn tâm sự với ngài.
Ngày 9 tháng Ba năm anh em từ Beitgemal có mặt ở Bêlem. Họ
đã dầm mưa đi bộ tám tiếng để gặp cha Rua, tin rằng ngài sẽ có rất
ít thời gian dành cho nhà của họ.327 Ngày 10 và 11 tháng Ba được
dành cho nhiều chuyến thăm viếng khác nhau. Chúng bao gồm các
những người thuộc Dòng Thánh Gioan Thiên Chúa, họ mừng lễ Đấng
Sáng lập của họ vào ngày 10; ngày 11, có chuyến thăm quan trọng
tới Đức Thượng Phụ Parvi mà cha Rua có nhiều việc bàn với ngài liên
quan tới các nhà ở Palestine. Cha Albera, người có mặt tại cuộc họp
này, viết: “Trong tình huống này, tôi đã có thể nhận thấy Đức Thượng
Phụ quý mến Bề Trên Cả của chúng ta, và cũng như sự khôn ngoan
và sắc sảo của cha Rua.”328
Ở Beitgemal
Chuyến thăm Beitgemal được sắp xếp vào ngày 12 tháng Ba. Cha
Rua chưa kịp ngồi vào xe đi đến Giê-ru-sa-lem thì cha Albera, người
đi cùng ngài, đọc một bài báo từ tờ báo Ý, Corriere, kể về cha
Phanxicô Dalmazzo, Giám đốc Catanzaro, bị ám sát do một trong các
chủng sinh của ngài. Cha Rua đã rất sốc, và từ giữa Bêlem và Giê-ru-
sa-lem, ngài cứ xem đi xem lại bản tin khủng khiếp này, tự thuyết
phục mình rằng vết thương đó không chí mạng, mặc dù buồn thay
327 Tại điểm này trong bản tường thuật của Cha Albera một cái tên xuất hiện ngoài
dự kiến: đó là một người Salêdiêng Pháp Athanase Prun (1862-1917): chính ông
là người lập trại trẻ mồ côi ở Nazareth dâng cho Chúa Giêsu Niên Thiếu. Ông được
phong phụ phó tế ngày hôm đó.
328 Thư ngày 19 tháng Ba, FdR 3003 E6.

25.5 Page 245

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 245
thật đúng là thế. Họ đi bằng tàu lửa từ Giê-ru-sa-lem đến tận
Deyroban, từ đó đi đến trung tâm nông nghiệp ở Beitgemal. Theo
phong tục địa phương, ngựa và lừa được chuẩn bị sẵn tại nhà ga,
nhưng cha Rua thích đi bộ hơn bất kể trời nóng và đường xa.
Khi các ngài tiến vào cổng, một bài thánh ca được cất lên, sau đó
là vài bài diễn văn chào đón. Cha Rua có thể thấy những thiếu niên
rất háo hức và thậm chí các giáo viên của chúng còn háo hức hơn khi
chờ đợi ngài. Ngài rất ngưỡng mộ vườn hoa khi tiến bước vào nhà.
Đây là một loại lâu đài lớn cao chót vót trên một ngọn đồi. Những
người trẻ chen lấn quanh ngài, háo hức hóng từng lời của ngài, trong
khi một số người ngồi trên lưng ngựa làm chúng đứng thẳng hý vang
lên quanh ngài khiến bầu khí tưng bừng tăng cao. Chuyến thăm
viếng nhà ấy được bắt đầu bằng việc hát Te Deum. Sau đó cha Rua
được dẫn đi vòng quanh các khu vực khác nhau, ngài tỏ ra rất hài
lòng. Hầu như tất cả thức ăn cho bữa tối đều được trồng tại nhà, nhờ
vào lao động vất vả trên đồng ruộng, và được chuẩn bị bởi những
người Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu làm việc trong nhà bếp và
phòng giặt. Có một sự ngạc nhiên dành cho cha Rua: khi ngài nhấc
nắp ra khỏi liễn súp, một con chim bồ câu trắng bay ra như dấu của
sự chào đón! Trong những món khác, ngài được mời món thịt heo
rừng do người chăn cừu trên bất động sản giết. Bữa ăn được tiếp nối
bởi nhiều bài phát biểu và một buổi hòa nhạc bất tận của một nhạc
sĩ thuộc làng đó mà giọng nói kèn kẹt không làm vui tai người Ý lắm.
Sau đó cha Rua đã được dẫn đi xem các chuồng ngựa, và các nét đặc
trưng của nhà đó, tất cả đều làm ngài thích thú. Ngày 13 tháng Ba
là dịp lễ hội. Ngày đó bắt đầu với việc hiệp thông chung; lúc mười
giờ có Thánh Lễ hát Bình ca, sau đó là buổi làm phép hang đá Lộ
Đức ở sân chơi. Buổi chiều, tất cả hội viên gặp riêng cha Rua để trao
đổi thân tình. Nói chung việc tiếp đón dành cho cha Rua trong cộng
đoàn nông trang khiêm nhường này thật tốt đẹp.
Tại Nadaret
Ngồi trên một con lừa và vây quanh bởi các thiếu niên, cuối cùng
ngày 14 tháng Ba cha Rua cũng chào giã biệt Beitgemal; ngài thực
sự hy vọng thấy trung tâm này được phồn vinh, vì nó hiện đang trải

25.6 Page 246

▲torna in alto
246 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Điểm đến của
ngài là Nadaret; như chúng ta biết, cha Belloni đã mua một địa điểm
cho một viện mồ côi trong tương lai giống như viện ở Bêlem. Chặng
đầu tiên trong chuyến đi của cha Rua và những người đồng hành
của ngài là bằng tàu lửa từ Deyroban đến cảng Haifa, sau đó đi
thuyền đến Jaffa từ đó các ngài sẽ đến Nadaret bằng xe ngựa. Biển
lặng, và cuộc hải hành kéo dài không quá sáu giờ, được yên bình.
Tại Jaffa, những tu sĩ Cát Minh chào đón các ngài dù đã trễ và lúc
bảy giờ sáng hôm sau các ngài đã trên đường đến Nadaret.
Cuối cùng các ngài đã đến nơi và sẽ ở với các tu sĩ Phanxicô. Ngay
khi bữa sáng kết thúc, những người hành hương khởi hành kính
viếng Santa Casa, ngôi nhà của Đức Maria. Cha Rua thành kính phủ
phục trước bàn thờ ở trên có ghi dòng chữ: Verbum caro hic factum
est. [Ở đây Ngôi Lời trở thành người phàm]. Theo cha Albera mô tả lại:
“họ có thể thấy dấu vết nền móng ngôi nhà mà các Thiên thần di dời
đến Loreto, chỉ cho thấy kích thước của nó, hang động được đục đẽo
từ tảng đá mà ngôi nhà được xây bên trên và một hốc khác mà họ
nói Đức Maria dùng làm nhà bếp.”329 Cha Rua thích dành một chút
thời gian ở đó để suy niệm tường tận tại những nơi thánh vì sự hiện
diện của Chúa Giêsu và Đức Maria, nhưng họ phải leo lên ngọn đồi
để xem xét địa điểm dự định xây những tòa nhà mới và để quyết
định việc sử dụng chúng trong tương lai. Một cơ sở Tin Lành thành
lập gần đó đã thúc đẩy ngài. Trên đường đi xuống, họ ghé vào gặp
chủ sở hữu mảnh đất. Ông mời họ uống nước và cho họ chỗ ngồi,
trong khi, trước sự ngạc nhiên của họ, các thành viên trong gia đình
ông ngồi trên một tấm thảm trải trên sàn nhà.
Ngày 16 tháng Ba, cha Rua vui sướng dâng lễ lúc 5 giờ sáng trong
đền Đức Mẹ. Giống như trước, cha Albera dâng lễ sau ngài trong khi
cha Rua quỳ tạ lễ lâu giờ và sốt sắng trên sàn đá. Hai khách hành
hương của chúng ta đã cố gắng hết sức để không bỏ sót bất kỳ địa
điểm đáng nhớ nào ở Nadaret: đài phun nước của Đức Maria, nhà
nguyện nơi trước đây là xưởng của Thánh Giuse, nơi đây các ngài
đọc được những từ: Hic Jesus subditus erat illis [ở đây Đức Giêsu tuân
329 FdR 3003 E9-10.

25.7 Page 247

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 247
phục cha mẹ Người] và cả Mensa Christi, có nghĩa là "một tảng đá
khổng lồ, nơi họ nói Chúa Giêsu ăn uống với các môn đệ của mình".
Việc chúng ta có những lời giải thích khác nhau này nhờ ở cha Albera
không hề ngụ ý rằng ngài tin vào tất cả những truyền thống đạo đức
địa phương này.
Cha Rua cũng viếng thăm hội đường nơi Chúa Giêsu mở cuộn sách
và giải thích những lời: “Ngài đã sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho
người nghèo khó và chữa lành cõi lòng tan vỡ.” Ngài cũng được chỉ
cho thấy đỉnh đồi nơi người Do Thái kéo Chúa Giêsu và dọa đẩy
Người xuống. Từ đó họ có thể thấy Núi Tabor nhưng tiếc không thể
đến đó. Sau bữa ăn nhẹ với các tu sĩ Phanxicô (đang là mùa Chay)
Cha Rua và hai bạn đồng hành của ngài lên đường đi Haifa và Núi
Cát Minh bằng xe ngựa. Tại đan viện, các tu sĩ Cát Minh nồng nhiệt
chào đón họ; sau giờ kinh phụng vụ là một bữa ăn thịnh soạn đã
được dọn sẵn. Cha Rua từ chối, nhắc đến luật giữ chay, nhưng Viện
trưởng nói “do năng quyền của Đức Thượng Phụ Giê-ru-sa-lem ban,
tôi chuẩn chước cho cha”; nghe vậy, cha Rua ưng thuận.
Trở về Bêlem
Trong khi đó, những du khách đã mua vé đi thuyền để đưa họ
đến Jaffa. Nó phải đến Haifa ngày hôm sau, 17 tháng Ba, lúc ba giờ
sáng. Khoảng một giờ rưỡi, một thầy gọi hai linh mục để dâng lễ;
sau khi điểm tâm nhanh gọn, ba người lên đường đón thuyền. Tuy
nhiên, biển động mạnh và nhìn cảnh các hành khách từ Beirut lên
bờ trông bộ dạng rõ ràng là bị say sóng đã khiến cha Albera đưa ra
một quyết định mà sau này ngài sẽ chấp nhận chịu hoàn toàn trách
nhiệm bằng văn bản, và ngài có lý do để hối hận việc này. Động cơ
để ngài đưa ra quyết định này là theo ý kiến của ngài, “Bề trên Tổng
quyền của một Tu hội không nên liều lĩnh trong những điều kiện
như vậy, và rằng các hội viên sẽ có quyền chỉ trích họ nếu tai nạn
xảy ra.” Ngài tìm cách thuyết phục cha Rua với một chút khó khăn
nhưng chỉ sau khi thuyền trưởng thông báo với ngài rằng có lẽ ông
ta buộc phải đi Port-Said, việc này sẽ khiến cho Bề Trên Cả không thể
đến được Bêlem như dự tính để mừng lễ Thánh Giuse. Vé của họ đã
được hoàn tiền.

25.8 Page 248

▲torna in alto
248 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Cuối cùng, cả ba lại một lần nữa trên đường đi đến Jaffa, lần này
bằng xe ngựa bốn bánh, với người đánh xe đáng tin cậy mà hóa ra
là người Đức. Họ không biết rằng họ đang lao vào một cuộc phiêu
lưu hoàn toàn bất ngờ. Có một số kinh nghiệm thú vị trên đường đi,
như khi họ đi qua một khu ở ngăn nắp của kiều dân Do Thái; nơi
đây cha Rua viếng thăm hội đường, hoặc qua khu định cư người
Bedouins đẹp như tranh vẽ với lều và động vật của họ. Tuy nhiên,
những nơi khác thì kém dễ chịu hơn.
Mọi chuyện bắt đầu tồi tệ vào ban đêm. Sau chín giờ không thể
đi xa hơn nữa: người đánh xe không thể thấy mình đang đi đâu, và
có nguy cơ bị người Bedouins tấn công như cha Albera sẽ giải thích
sau. Người đánh xe dừng lại tại một ngôi làng có những túp lều thô
sơ bằng bùn. Trưởng làng rất vui khi chào đón họ, nhưng các du
khách không muốn ăn tối với những khán giả vây quanh hoặc ngủ
trong một túp lều với thảm sàn làm giường. Họ cảm ơn ông ta nhưng
từ chối lời mời. Họ dùng bữa gồm các loại - một quả trứng, một ít
cá mòi và một ít rượu - nhưng họ ngủ trong xe ngựa trong khi người
đánh xe nằm ngủ trên đất. Một người Thổ sẽ trông chừng. Thật
không may một cơn gió lạnh thổi vào mặt trước trống không của xe
ngựa. Khoảng hai giờ sáng ngày 18 tháng Ba, chân họ đau do không
khí ẩm ướt và vị trí chật chội, các du khách cảm thấy họ đã lãnh đủ.
Cha Rua đã cố gắng che chắn bản thân khỏi bị lạnh bằng cách trùm
chiếc áo choàng lên đầu, nhưng chân ngài cứng đờ. Ngài đã vài lần
cố gắng thuyết phục người đánh xe tiếp tục lên đường, nhưng ông
ta giả vờ không hiểu. Cuối cùng, khoảng ba giờ, những con ngựa
được đóng yên cương và ra đi. Cha Albera viết cho cha Belmonte:
“Tôi có thể bảo đảm với cha rằng làm dấu Thánh Giá mỗi khi người
đánh xe khởi hành không chỉ xem ra thích hợp mà thôi, nhưng tự
đáy lòng còn để phó thác bản thân cho Thiên thần Hộ Thủ nữa.”
Chẳng bao lâu chúng tôi nhận ra tại sao trên địa hình không bằng
phẳng này, người đánh xe đã rất miễn cưỡng phải khởi hành trước
bình minh. Họ nín thở mỗi khi họ băng qua một con mương, và khi
chiếc xe ngựa nghiêng sang một bên họ sợ nó sẽ bị lật. Việc này gần
như đã xảy ra khi một trong những bánh xe đột nhiên đụng phải
một cành cây nằm khuất trên đường, và chỉ có phản ứng mau lẹ của

25.9 Page 249

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 249
người đánh xe mới tránh bị đổ sập khi ông ta trượt tới ngay mép ghế
để làm đối trọng với chiếc xe ngựa. Khi họ đến gần một cây cầu
không được che chắn phía trên một thác nước, họ kinh hãi. Cha Rua
van xin người đánh xe xuống xe và dắt dây cương dẫn những con
ngựa băng qua, nhưng không hề biến sắc, ông ta ghì cương ngựa lại
với nhau, quất roi thúc chúng về phía trước chạy gần nhau, trong khi
hành khách nín thở và kêu cầu Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu khi họ
lén liếc nhìn vực thẳm bên dưới, nơi dòng nước chảy xiết đổ xuống
ầm ầm. Đây dường như là khoảnh khắc thích hợp để nhắc lại những
gì cha Albera viết trong bức thư gửi cha Belmonte: “Cha Rua đã
không để cho những dịp này trôi qua mà không nói với những người
bạn đồng hành của mình: Những sự thoái lui này so với những vất
vả của những nhà truyền giáo của chúng ta có đáng là gì! Ngài nói
với họ rằng Chúa đã mang họ đến đó để cho họ có một ý niệm nào
đó về những nguy hiểm mà họ phải đối mặt trên hành trình của họ.”
Bề Trên Cả luôn chú ý đến những nhà truyền giáo của mình trong
những khu rừng Amazon và xích đạo.
Cuối cùng, trời lại sáng. Hai linh mục đã đọc kinh sáng; giờ họ
đọc thần vụ. Khoảng 9 giờ, phá tan sự im lặng thông thường của
mình, người đánh xe chỉ ra ở đằng xa tháp chuông nhà thờ ở Jaffa.
Đến mười giờ, họ ở trong khu hành hương của thị trấn.
Cuộc hành trình trở về Bêlem đạt tiêu chuẩn hơn: tàu lửa từ Jaffa
đến Giê-ru-sa-lem; nghỉ ngắn tại Deyroban nơi các ngài được các hội
viên, các nữ tu và giới trẻ chào đón tới Beitgemal (ta tự hỏi ai đã nói
với họ ...); tại Giê-ru-sa-lem bạn hữu thân quen của cha Rua đem xe
đến chở ngài tới viện mồ côi ở Bêlem. Lúc đó là sáu giờ rưỡi tối và
rốt cục cả ba người đều đã đến nơi.
Ngày 19 tháng Ba, lễ Thánh Giuse, được tôn kính đặc biệt ở Đất
Thánh, sẽ là một hồi kết phù hợp cho chuyến hành hương của cha
Rua đến quê hương của Chúa Giêsu. Ngài đã dâng lễ trọng tại nhà
nguyện của viện mồ côi, và sau bữa ăn, ngài nhận lời khấn của vài
người và trao tu phục cho nhiều tập sinh. Lễ nghi kết thúc bằng giờ
Chầu Thánh Thể.
Gần đó, trong Nguyện xá dành cho các thiếu nữ do các Nữ tu

25.10 Page 250

▲torna in alto
250 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Salêdiêng điều hành, có một sự tiên liệu quan trọng: một nữ tu trẻ
từ Bêlem sẽ được trao tu phục. Trước kia chưa hề cử hành một sự
kiện như thế. Cha Albera viết: "các thiếu nữ và gia đình của họ nhiệt
tình không thể tin được." Sau buổi lễ, cha Rua nói chuyện bằng tiếng
Ý. Mặc dù thính giả trẻ hiểu rất ít, họ lắng nghe "trong thinh lặng
cầu nguyện" như có người bình luận.
Vì đây là buổi tối cuối cùng của cha Rua ở quê hương của Chúa
Giêsu, ngài nắm lấy cơ hội để khuyên bảo và khích lệ đôi lời cuối
cùng và đã chạm vào trái tim của tất cả những ai lắng nghe. Khi ban
phép lành cho các hội viên và những thiếu niên, thì "gần như mọi
người đều rơi nước mắt", khi ngài chuẩn bị lên đường vào lúc sáu
giờ rưỡi sáng hôm sau (Albera).
Trở về châu Âu
Ngày 20 tháng Ba, ba khách hành hương xuống tàu tại Jaffa: đó
là con tàu Sindh, đi tới Marseilles qua Port Said và Alexandria, nhưng
ba người sẽ rời tàu tại Port Said và lại xuống con tàu này tại
Alexandria sau khi băng qua Ai Cập từ nam đến bắc bằng tàu lửa.
Trên đường đi, nảy sinh những tình bằng hữu mới. Một bác sĩ người
Pháp gốc Ba Lan vốn đã gặp Hầu tước de Villeneuve trong một nhà
tĩnh tâm của Dòng Tên ở Marseilles, rất vui mừng nhường cabin của
mình cho cha Rua ngay sau khi ông nghe biết ngài là Bề trên Tổng
quyền dòng Salêdiêng. Vì vậy Bề Trên Cả thấy mình trong một nhà
nguyện thực sự nhỏ với những bức tường phủ đầy những hình chạm
khắc tôn giáo. Ngài đã cử hành Thánh Lễ ở đó với vị bác sĩ giúp lễ.
Một Quý ông Descamps, một thương gia giàu có từ Lille, với kiến
thức đáng kể về Palestine và về phương Đông nói chung, lại trở nên
một Cộng Tác viên Salêdiêng. Trong cuộc trò chuyện với Hầu tước
de Villeneuve, ông ta nhận ra rằng cả hai người đều là học sinh tại
trường đại học ở Rollins, Paris. Để làm hài lòng ba khách hành
hương, ông ta cũng rời tàu tại Port Said để cùng họ đi tàu lửa đến
Alexandria.
Điểm dừng ở Cairo không thể bỏ qua. Ngày 22, nhóm đã ở với
các người cha dòng Tên, và cha Rua đã có cơ hội đến thăm các Cộng
Tác viên địa phương. Có một thỏa thuận chung giữa họ rằng cần có

26 Pages 251-260

▲torna in alto

26.1 Page 251

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 251
một trường kỹ thuật Salêdiêng ở Cairo, nhưng không giống các Cộng
Tác viên ở Alexandria, họ sẽ phải đợi cho đến sau nhiệm kỳ của cha
Rua thì ước muốn của họ mới được thành tựu. Cha Rua đã chấp nhận
lời đề nghị của cha Quản lý Dòng Tên, vốn là điều bất thường với
ngài, để thực hiện một chuyến đi bán du lịch đến Kim Tự Tháp, mặc
dù phải thừa nhận rằng nó bao gồm cả một chuyến viếng thăm
Matarieh ở chặng về, nơi mà theo truyền thống địa phương, Thánh
Gia đã sinh sống sau khi chạy trốn khỏi vụ thảm sát của vua Hêrôđê.
Họ băng qua sông Nile, nơi gợi nhớ trẻ Môsê nằm trong giỏ dưới
con mắt canh chừng của chị gái mình; họ rất kinh ngạc trước sự đồ
sộ của các Kim Tự Tháp. Họ chỉ bị mất vui vì nhiều người Ả rập yêu
cầu không thích đáng để làm hướng dẫn viên cho họ hoặc xin họ
cưỡi lạc đà, hoặc thậm chí là muốn nhận được khoản trả tiền cho các
dịch vụ mà bọn họ không thực hiện. Thậm chí cha Quản lý Dòng Tên
còn phải dùng roi của người đánh xe để đe dọa một người đàn ông
cực kỳ hung dữ.
Tại Matarieh, trước hết họ tìm cái cây "mà Thánh Gia đã ngồi nghỉ
dưới đó." Cha Albera thích thú ghi nhận lại rằng: “đối với người Hồi
giáo, đấy cũng là một thánh tích." Sau đó, họ đi đến uống nước ở
giếng nơi Thánh Gia giải khát. Sau một đường vòng ngắn qua
Heliopolis, người đánh xe chở họ đến khu vực cổ của thị trấn, đến
"ngôi nhà nơi người ta cho rằng Thánh Gia đã sống trong suốt thời
gian lưu đày ở Ai Cập". Khả năng phê bình của họ được trắc nghiệm!
Tuy nhiên, như cha Albera viết: “Truyền thống cho rằng đây thực sự
là ngôi nhà nơi Thánh Giuse và Đức Maria Rất Thánh sống không
phải là không có nền tảng”. Ngài tiếc nuối nói thêm: "Giờ nó thuộc
về Giáo hội Copts."
Sau Thánh Lễ sáng hôm sau, Bề trên Dòng Tên đi cùng với cha
Rua đến ga xe lửa Cairo. Giữa ngày, nhóm đã ở trong cơ sở đường
bệ của Dòng Tên ở Alexandria, nơi ba khách hành hương đã ở lại vài
tuần trước; ngày 24 một lần nữa các ngài nhập đoàn với nhiều hành
khách lên tàu Sindh, nó sẽ đưa họ trực tiếp đến Marseilles.
Bác sĩ bị bong gân mắt cá chân khá nặng: ông không thể đi được,
và cần phải giơ chân lên. Cha Rua quan tâm rằng ông nên dùng

26.2 Page 252

▲torna in alto
252 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cabin của mình đúng vào lúc ông bác sĩ thực sự cần nó; nhưng ông
bác sĩ gạt phăng đi. Suốt chuyến đi, mỗi sáng ông lê bước đến dự
Thánh Lễ do cha Rua cử hành.
Vào giờ ăn, năm hay sáu linh mục trên tàu ngồi cùng bàn trong
phòng ăn, cùng cầu nguyện và thảo luận về các vấn đề tôn giáo.
Nhưng tất nhiên lúc này vẫn là Mùa Chay, và cha Rua đã cẩn thận
không quên nó. Ngài giữ chay trong suốt chuyến đi. Cha Albera bình
luận: “Với một sự kiên trì vốn không phải ai cũng can đảm duy trì,
cha Rua sẽ sắp xếp sao cho một món ăn sẽ là bữa ăn nhẹ cho ngài
vào giữa ngày và một món khác cho bữa ăn tối. Điều này có nghĩa
là đôi khi ngài chỉ ăn vài trái ô liu và một trái lê, vì tất cả món ăn đều
có chất béo.”330 Ngài không hề có lúc miễn chuẩn việc áp dụng
nghiêm ngặt luật chay tịnh như được những người giải nố đề nghị.
Ngài luôn đòi hỏi bản thân.
Thời tiết có lúc thay đổi, và biển nổi sóng sẽ khiến con tàu giảm
tốc độ. Cha Albera viết, việc này ảnh hưởng mạnh đến một số du
khách đến nỗi không nhìn thấy họ cho đến khi con tàu đến
Marseilles. Điều đó không đúng với cha Rua, có lẽ nhờ vào độ
nghiêm ngặt trong chế độ ăn uống của ngài. Do thời tiết thay đổi,
thuyền trưởng đã chọn không đi qua eo biển Bonifacio. Thay vào đó,
ông đi quanh Corsica, như vậy là thêm mười giờ nữa vào chương
trình dự kiến. Cuối cùng, khoảng ba giờ chiều ngày 29 tháng Ba, tàu
Sindh cập bến Marseilles. Những người Salêdiêng ra gặp cha Rua rất
ngạc nhiên: cúi chào theo phong tục cổ xưa của khách hành hương
đến Đất Thánh, ngài đã mọc một bộ râu!
Chuyến hành hương này đã cho cha Rua cơ hội sống lại cuộc đời
của Thánh Gia là Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse, để ngài
thăng tiến. Nó cũng liên kết chặt chẽ giữa hội dòng Salêdiêng và các
cơ sở khác nhau của cha Belloni ở Palestine, và đồng thời nó mang
lại cho ngài những trải nghiệm cá nhân hữu ích về người dân ở Trung
Đông mà trước đây ngài không có kiến thức về họ. Ngài về lại Torino
trở thành một con người khác, nhưng không phải trước khi thực hiện
330 FdR 3004 A10.

26.3 Page 253

▲torna in alto
Vùng Trung Đông | 253
một số chuyến viếng thăm ngắn ở miền nam nước Pháp. Bằng mọi
giá ngài phải trở lại vì Tuần Thánh, và vì phải chuẩn bị ngay buổi
hội tụ quy mô các Cộng Tác viên Salêdiêng dự tính diễn ra tại
Bologna vào tháng Tư.

26.4 Page 254

▲torna in alto
254 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
19
Đại Hội Salêdiêng
ở Bologna
Tổ chức Cộng Tác viên Salêdiêng
Mục tiêu của Don Bosco để có những người Salêdiêng ngoại trú
cuối cùng đã đạt được vào năm 1876 khi ngài thành lập Hội đạo đức
Cộng Tác viên Salêdiêng, với những quy chế riêng. Sau đó các thành
viên đã tăng số ở Pháp, Tây Ban Nha và nhất là ở Ý. Cuộc hành trình
tháng Bảy năm 1894 đưa ngài đến Thụy Sĩ, Alsace-Lorraine và Bỉ,
cha Rua khám phá ra Don Bosco được nhiều người hâm mộ nhiệt
thành ở các dinh thự Thụy Sĩ Tessin (Lugano) và Argovie (Muri), ở
Alsace (Obernai, Andlau, Sainte-Marie-aux Mines), ở Lorraine (Metz),
ở Bỉ (Liège, Hechtel, Brussels) và xa tận Maestricht, ở Hà Lan.331
Ta cần một tổ chức chính thức và cảm hứng nào đó cho số người
đông đảo này mà theo ý Don Bosco họ tạo thành một kiểu dòng ba.
Mặc dù lý do thiết lập hội này thường bị hiểu lầm, Don Bosco đã làm
sáng tỏ điều này khi trò chuyện với cha Lemoyne ngày 19 tháng Hai
năm 1884: “Cộng Tác viên không phải là nhằm phục vụ người
Salêdiêng, mà là nhắm phục vụ Giáo Hội, các giám mục và giáo sĩ
dưới sự hướng dẫn của người Salêdiêng. Giúp người Salêdiêng có
nghĩa là tham gia vào một trong những hoạt động của Giáo hội Công
giáo.”332 Cha Rua có thể thấy rằng điều này đòi phải dấn thân thực
sự với các giáo phận, vì vậy, ngày 12 và 13 tháng Chín năm 1893,
ngài triệu tập Đại hội đầu tiên dành cho những người quảng bá Cộng
331 «Une visite de Don Rua à nos Coopérateurs de la Suisse, de l'Alsace-Lorraine,
de la Belgique et de la Hollande», Bulletin salésien, tháng Chin, 1894, trang 143-
145.
332 Bản gốc trong sổ tay của Cha Fr Lemoyne, Ricordi di gabinetto, trang 58. Xem
MB XVII, 25.

26.5 Page 255

▲torna in alto
Đại Hội Salêdiêng ở Bologna | 255
Tác viên thuộc giáo phận Ý được tổ chức ở nơi chôn cất Don Bosco
tại Valsalice. Hai mươi sáu giáo phận đã hưởng ứng lời mời. Ngay từ
khóa họp khai mạc, cha Rua đã bỏ công sức chỉ ra rằng, bao lâu liên
quan đến phẩm trật, Don Bosco muốn là “toàn bộ những người thợ
của Giáo hội phục vụ các giám mục và do đó phục vụ vị Đại diện
Chúa Giêsu Kitô.”333 Bằng chứng cuối cùng về sự thành công của Đại
hội đến dưới hình thức một lá thư cảm ơn tập thể, như cha Rua đã
thông tri một vài ngày sau.334
Bước tiến bộ hơn nữa được thực hiện vào năm 1894 khi cha Rua
đưa ra hướng dẫn cho tất cả những người có trách nhiệm trong Hiệp
hội đạo đức ấy. Ngài đặt cho nó tựa đề “Cẩm nang lý thuyết và thực
hành dành cho những người điều hành Hiệp hội đạo đức Cộng Tác
viên Salêdiêng.”335 Phần đầu tiên xác định các vai trò sau đây: ‘thập
trưởng’, là người chịu trách nhiệm một nhóm mười Cộng Tác viên;
điều phối viên giáo phận (một linh mục); phó điều phối viên ở một
thị trấn lớn; ủy ban Salêdiêng; tiểu ban cho nữ Cộng Tác viên; và
cuối cùng là 'zelatori' hoặc những người thợ tích cực. Phần thứ hai,
dành toàn bộ cho 'các công cuộc nhiệt tâm', chứa đựng một số yếu
tố thiết yếu của linh đạo tông đồ: cầu nguyện và hoạt động, dạy dỗ
đức tin (“mỗi Cộng Tác viên phải là một giáo lý viên”), cổ võ ơn gọi
(trong gia đình và học đường), báo chí (phân phát sách tốt cho dân
chúng, tại các lớp giáo lý, trong các Nguyện xá, các xưởng thợ và
bệnh viện) trẻ em túng thiếu (giúp đỡ cho những nơi các em được
chăm sóc và hỗ trợ công việc của người Salêdiêng), và cuối cùng là
tài chính và cần khôn ngoan sử dụng tiền của.336
Chuẩn bị Đại hội Bologna
Phải nói rằng sự thành công của Đại hội tại Valsalice đối với các
điều phối viên giáo phận đã gieo mầm ý tưởng trong tâm trí Đức
333 Bulletin salésien, năm 1893, trang 212.
334 «La ringraziamo...», FdR 3995 B9.
335 Manuale teorico-pratico ad uso dei decurioni e direttori della Pia associazione dei
Cooperatori Salesiani, Torino, Tipografia Salesiana, năm 1894.
336 Phân tích của M. Wirth, Don Bosco et la Famille salésienne, Paris, năm 2002, trang
415-416.

26.6 Page 256

▲torna in alto
256 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Hồng y Đaminh Svampa, Tổng Giám mục Bologna. Ngài rất ngưỡng
mộ Don Bosco và mong muốn có những người Salêdiêng trong giáo
phận của mình, và đã là khách mời tại Nguyện xá trong Đại hội
Thánh Thể tại Torino tháng Chín năm 1894. Ngài vạch ra một sự kiện
trên quy mô lớn, không chỉ cho những người có vai trò lãnh đạo,
nhưng mở rộng cho tất cả các Cộng Tác viên ở Ý và xa hơn nữa. Ý
tưởng này lập tức lôi cuốn cha Rua; Tháng Mười Một ngài đề xuất
với Đức Hồng y rằng thành phố Bologna của ngài phải là nơi được
chọn cho Đại hội Salêdiêng lớn lao này. Đức Hồng y rất vui mừng
chấp nhận; hơn thế nữa, ngài nhất định chính ngài chịu trách nhiệm
việc này. Nó kêu gọi công khai tối đa. Vào thời điểm này, một người
Salêdiêng khác xuất hiện: Cha Têphanô Trione (1856-1935), một nhà
hùng biện và một nhà tổ chức giỏi.337 Ngày 26 tháng Mười Một, với
khán giả gồm hàng giáo sĩ nổi tiếng, “giới quý tộc, mệnh phụ, thợ
thuyền, dân thường” theo Tổng Thư ký Đại hội, cha Trione đã có bài
nói chuyện về “Don Bosco và giới trẻ của thế kỷ 19”. Tận dụng lợi
điểm là cử tọa đồng tình và tự tin vào sự hỗ trợ của Đức Tổng Giám
mục, ngài đã đề xuất một cuộc họp tại Bologna vào mùa xuân năm
1895 cho các Cộng Tác viên Salêdiêng, “những người quảng bá và
hỗ trợ công cuộc của Don Bosco”.
Việc chuẩn bị tiến nhanh như chớp. Ban sáng sau buổi nói chuyện,
ngày 27 tháng Mười Một, Đức Tổng Giám mục đã giúp cha Trione
sắp xếp một ủy ban tổ chức. Tối hôm đó, tất cả những người được
chọn đều có mặt tại một cuộc họp trong nơi ở của Đức Tổng Giám
Mục. Trước sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục, cha Trione giải
thích mục đích của cuộc họp: để quảng bá Đại hội Cộng Tác viên
Salêdiêng đầu tiên, sẽ được tổ chức tại Bologna ngày 23, 24 và 25
tháng Tư năm sau. Mục đích của nó là phổ biến rộng rãi công cuộc
hiệu quả và hợp thời mà những cơ sở của Don Bosco thực hiện, vốn
cung cấp nền giáo dục tốt cho giới trẻ thông qua các Nguyện xá
Chúa Nhật, lưu xá, trường cao đẳng, các trường nghề và văn hóa,
337 On the Bologna Congress, Atti del primo Congresso internazionale dei Cooperatori
Salesiani tenutosi a Bologna ai 23, 24 e 25 aprile 1895, Torino, Tipografia Salesiana,
năm 1895, 256 p., trích ở đây như là ‘Công báo'; và bản mô tả chi tiết trong E.
Ceria, Annali II, trang 409-444.

26.7 Page 257

▲torna in alto
Đại Hội Salêdiêng ở Bologna | 257
cộng với việc chăm sóc người nhập cư Ý vào Nam Mỹ, và các việc
truyền giáo tại châu Á, châu Phi và những người bản địa châu Mỹ.
Một Đại hội như vậy sẽ khuyến khích và kích thích các Cộng Tác viên
Salêdiêng các sáng kiến “và sự hiện diện của họ giữa chúng ta giống
như một Dòng Ba của Don Bosco, những người chỉ mong ước sống
theo tinh thần và tiếp tục công cuộc của ngài.”338
Tối hôm đó, Ủy ban được thành lập với các trách nhiệm được chỉ
định, có Đức Giám mục Nicola Zoccoli, giám mục Sebaste và vị Tổng
Đại diện của Đức Tổng Giám mục làm chủ tịch. Họ chính thức yêu
cầu cha Rua nên chấp nhận dự án này, khi thông tri cho ngài biết
rằng Đức Hồng y Svampa sẽ là chủ tịch danh dự của Đại hội nói trên.
Cha Rua trả lời vị chủ tịch: “Đức Cha có thể tưởng tượng việc con
được phê chuẩn một dự án tuyệt vời như thế khiến con vui sướng
biết bao. Khi thời điểm đến con hoàn toàn sẵn sàng cung cấp cho dự
án mọi sự quảng bá và hỗ trợ trong khả năng giữa các Cộng Tác viên
tốt của chúng con. Nếu, theo thủ tục chính đáng, dường như là thích
hợp cho người đứng đầu những người Salêdiêng con phải đảm nhận
chức chủ tịch thực sự của Đại hội, thì con sẽ chấp nhận lời mời tử tế
của Đức Cha, khi cậy nhờ vào sự hỗ trợ của ủy ban và thiện chí của
các Cộng Tác viên sẽ tham gia, mặc dù không phải không lo lắng.”339
Cha Rua đầy lòng ngưỡng mộ và biết ơn khi nhìn thấy công việc
chi tiết đã được chuẩn bị cho hội nghị. Các thành viên ủy ban lập ra
sáu ủy ban: 1) Để xác định và điều chỉnh một hội trường phù hợp,
2) Để gom góp quĩ và có được giảm giá vé tàu, 3) Để tìm chỗ ở cho
người tham gia, 4) Để sắp xếp việc quảng bá, 5) Để xem xét các chủ
đề và diễn giả 6) Để chuẩn bị phụng vụ. Chương trình tổng quát
được vạch ra gồm bốn lĩnh vực: giáo dục và dạy dỗ, truyền giáo
Salêdiêng, các ấn phẩm, tổ chức Cộng Tác viên.
Việc gợi lên sự quan tâm của hàng Giáo phẩm trong dự án này là
điều cần thiết. Vào tháng Giêng năm 1895, chủ tịch ủy ban đã gửi
hai thư luân lưu cho tất cả các Giám mục Ý, một là để thông báo
338 Atti, trang 4.
339 Atti, trang 8.

26.8 Page 258

▲torna in alto
258 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chính thức cho các ngài về Đại hội và mời quý Đức Cha tham dự, hai
là đề nghị các ngài chỉ định cá nhân nào đó liên lạc với ủy ban và
xem xét việc phân phối sau cùng các thư luân lưu và thư mời.
Ngay lập tức có một hồi đáp từ cấp cao. Đức Hồng y và các Giám
mục rất vui mừng trước viễn cảnh của một Đại hội có thể khôi phục
lại sức sống nào đó cho Giáo hội và xã hội. Để đạt được quy mô rộng
lớn, lá thư mục vụ Mùa Chay của Đức Hồng y Svampa đã thông báo
về Đại hội. Hai ấn phẩm 'vấn đề duy nhất' với các bài viết và hình
minh họa thích hợp được ủy ban của Đại hội phát hành “dành cho
báo chí". Các Tập san Salêdiêng khác nhau cũng lo phần của mình; vì
vậy thông tin lan ra vượt khỏi biên giới nước Ý. Khi chủ tịch của ủy
ban được bảo đảm về sự tham gia của các Cộng Tác viên từ ít nhất
bảy quốc gia châu Âu, ngài đã không do dự khi nói về nó như một
Đại hội quốc tế. Việc các Cộng Tác viên Salêdiêng quy tụ lại đã biến
thành một sự kiện náo động cho thành phố Bologna.
Đại hội
Cha Rua đến Bologna bằng tàu hỏa chiều ngày 21 tháng Tư cùng
với cha Philip Rinaldi, Giám tỉnh Tây Ban Nha. Nhiều thành viên
trong ủy ban đã ở đó để gặp ngài. Cùng với Đức Hồng y Svampa,
ngài đã có cơ hội chiêm ngưỡng hội trường tráng lệ được dựng lên
trong nhà thờ theo nghệ thuật baroque được gọi là 'La Santa' (có
nghĩa là Catarina de ’Vigri). Một màn trướng khổng lồ treo ở trên ca
đoàn: phần trung tâm là một bức tượng bán thân của Đức Lê-ô XIII;
có một cái bục hai bậc: một bậc cho vị chủ tịch danh dự, bậc kia cho
vị chủ tịch thực sự. Ở hai bên đối diện của ca đoàn là hai tượng bán
thân: một của Đức Pi-ô IX, tượng kia là của Don Bosco.340
Lễ khai mạc diễn ra vào sáng ngày 23 tháng Tư tại nhà thờ San
Domenico. Đúng 8 giờ, dân chúng hiện diện đông đảo, một đám
rước dài bắt đầu tiến bước từ phòng thánh: những người giúp lễ,
giáo sĩ, linh mục giáo xứ, kinh sĩ, cha Rua, hai mươi mốt Giám mục
và Tổng Giám mục trong cappa magna với mũ gậy giám mục, các
Đức Hồng y của Ravenna, Ferrara và Milan, và cuối cùng Đức Hồng
340 Hình hội trường ở cuối chương Atti

26.9 Page 259

▲torna in alto
Đại Hội Salêdiêng ở Bologna | 259
y Svampa, người sẽ cử hành lễ đại triều về Chúa Thánh Thần. Âm
nhạc của Palestrina là một nét tô điểm thích hợp cho một nghi lễ
lộng lẫy như vậy.
Lúc kết thúc Thánh Lễ, những người tham gia Đại hội, mỗi người
có một thẻ thành viên cá nhân, di chuyển vào nhà thờ La Santa, vốn
đã được sắp xếp dành cho Đại hội, và chẳng mấy chốc chỗ ngồi đều
kín. Trên các băng ghế dành riêng cho báo chí có ba mươi chín người
Ý đại diện cho báo chí thuộc mọi quan điểm khác nhau, bốn người
từ Tây Ban Nha, bảy người từ Áo, bốn người từ Pháp, một người từ
Đức, ba người từ Thụy Sĩ và hai người từ Anh. Hai mươi lăm Giám
mục tiến vào được đón chào bằng tràng vỗ tay lớn, bài tường trình
từ một tờ báo của Milan miêu tả tuyệt vời khi cha Rua đến: “Khi âm
thanh tiếng vỗ tay và người nói đang lắng xuống, đột nhiên nó lại
vang to hơn bao giờ hết: mọi người đứng dậy, nghển cổ và căng mắt
nhìn: họ đang nhìn thấy một người có vóc dáng gầy guộc, khiêm
nhường, giản dị ngồi ở vị trí của mình tại bàn chủ tịch, khuôn mặt
ngài tỏa ra một niềm vui chân thật. Đó là cha Rua, người đã đảm
nhận di sản của Don Bosco, làm sống lại trong chính con người mình
những đức tính của cha mình tuyệt mức đến nỗi chúng ta không có
lý do than khóc quá lâu tại mộ phần của vị tông đồ thành Torino.”341
Đức Hồng y Svampa chào mừng Đại hội, bắt đầu với các giáo sĩ
đặc biệt đang hiện diện, trong số đó ngài nhắc tới chính cha Rua;
theo lời ngài, cha Rua là người không chỉ đảm nhận vai trò mà còn
tinh thần của Don Bosco. Vị Tổng thư ký đọc Chiếu thư của Đức Lê-ô
XIII gởi cho Đại hội, trong đó Đức Thánh Cha rất khen ngợi công việc
của người Salêdiêng trong việc giáo dục giới trẻ và truyền bá đức tin
giữa những người vẫn chưa biết Đức Kitô.
Tiếp theo, thay mặt cho ủy ban tổ chức, vị chủ tịch giải thích tầm
quan trọng của Đại hội và cách thức nó đã diễn ra. Cuối cùng, cha
Rua cảm ơn các nhà tổ chức, đặc biệt là Đức Hồng y Svampa, mà
ngài nói, đã luôn luôn ngưỡng mộ Don Bosco từ những ngày còn ở
341 Alfonso Ferrandini, in La Scuola Cattolica, tháng Năm, 1895, trích bởi E. Ceria,
Annali II, trang 421.

26.10 Page 260

▲torna in alto
260 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tiểu chủng viện tại Fermo, nơi ngài được chọn đọc một bài diễn văn
đầy thơ mộng để tỏ lòng tôn kính Don Bosco nhân dịp ngài đến
thăm chủng viện. Tiếng vỗ tay vang rền, tự phát vang lên khi cha
Rua hôn tay Đức Hồng y, trong khi Đức Hồng y ôm Cha Rua và hôn
hai má ngài.
Như được chỉ ra, các thành viên Đại hội được chia nhóm theo bốn
chủ đề: 1) Giáo dục và dạy dỗ, 2) Truyền giáo Salêdiêng, 3) Ấn phẩm
4) Tổ chức Hiệp hội đạo đức Cộng Tác viên Salêdiêng. Mỗi nhóm sẽ
có một chủ tịch, một thư ký và một tường thuật viên. Chương trình
hàng ngày khá căng. Ngày thứ hai và thứ ba, 8 giờ sáng có Thánh
Lễ được một trong các hồng y cử hành; lúc 8:30, các cuộc họp của
các nhóm khác nhau, mỗi nhóm sẽ chuẩn bị các bản kiến nghị được
đệ trình tại Hội nghị khoáng đại; 10:00, Hội nghị khoáng đại; 13:00;
các cuộc họp nhóm thêm; 15:00, Hội nghị khoáng đại; 17:00, bài
giảng của một trong các tổng giám mục trong Vương cung Thánh
đường San Domenico, sau đó là phép lành. Buổi tối ngày thứ ba có
một văn nghệ trong hội trường để tỏ lòng tôn kính các thành viên
Đại hội. Nhằm đánh dấu sự kiện ở cấp giáo phận, Đức Tổng Giám
mục sắp xếp ngày 26, cụ thể là sau ngày bế mạc đại hội, các giáo xứ
sẽ thực hiện một cuộc hành hương đến đền thánh Đức Trinh Nữ của
Thánh Luca.
Danh sách và nội dung các bài tham luận được thực hiện trong
Đại hội, tất cả đều được chuẩn bị chu đáo, [điều ấy] đủ để minh họa
sự đa dạng và mức độ quan tâm của các thành viên. Đó là: Don Bosco
và công cuộc của ngài; 'Sự Cộng tác' Salêdiêng; Cộng Tác viên
Salêdiêng hình thành ra sao và bản chất sứ vụ của họ; hệ thống giáo
dục của Don Bosco; các Nguyện xá Chúa Nhật và công việc huấn
giáo; các lớp tôn giáo; trường tiểu học và trung học cơ sở; các trường
cao đẳng và nội trú; việc giáo dục các thiếu nữ và Dòng Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu; việc giáo dục người lao động trẻ; các trường
nông nghiệp Salêdiêng; Truyền giáo Salêdiêng; chăm sóc người di
cư; trợ giúp tài chính cho công cuộc Salêdiêng; báo chí phổ thông;
sách giáo khoa; công cuộc Salêdiêng phục vụ Giáo hội và phúc lợi xã
hội; và cuối cùng là “Đức Giáo Hoàng và Don Bosco”.

27 Pages 261-270

▲torna in alto

27.1 Page 261

▲torna in alto
Đại Hội Salêdiêng ở Bologna | 261
Công bằng mà nói, chúng tôi phải thêm vào những đề tài đó nhiều
bản kiến nghị được các bộ phận khác nhau đệ trình, được Hội nghị
thông qua và được phổ biến rộng rãi hơn trong Công báo. Những
kiến nghị này đặc biệt dựa trên sự đóng góp của các Cộng Tác viên
đối với nền giáo dục trẻ em về tôn giáo; việc họ tham gia dạy giáo
lý trong gia đình và giáo xứ; việc họ quyết tâm đưa vào các trường
tiểu học công lập một hình thức và nội dung giảng dạy tôn giáo theo
yêu cầu của Giáo hội; họ chăm lo chọn cho con cái mình trường học
và trường đại học được điều hành hoàn toàn theo các nguyên tắc lấy
cảm hứng từ đức tin và đạo đức Công giáo; ý định sử dụng quyền
hạn hoặc ảnh hưởng của họ để thấy rằng trong việc chỉ định giáo
viên, chính quyền địa phương ưu tiên cho những người có nền tảng
học vấn, học thuật và phẩm chất đạo đức sẽ bảo đảm hiệu suất cao,
theo cả quan điểm sư phạm lẫn tôn giáo; sự giúp đỡ mà các Cộng
Tác viên phải cung cấp cho người di cư; sự phản đối của họ đối với
các ấn phẩm vô đạo đức và báng bổ, và sự ủng hộ của họ đối với
loại báo chí phổ thông chất lượng tốt; và cuối cùng là phụ huynh
cần phải cảnh giác về việc học của con em họ. Mười một bản kiến
nghị liên quan đến tình trạng của người lao động, tất cả hoàn toàn
phù hợp với “thông điệp đáng ngưỡng mộ Rerum Novarum” của Đức
Lê-ô XIII (1891) cũng có thể được nhắc lại ở đây in extenso, vì chúng
cho thấy thông điệp đã được thế giới Salêdiêng lưu ý tốt đẹp biết
bao. Chúng ta sẽ nhắc đến chúng nữa. Tóm lại, chúng tạo thành một
chương trình tông đồ có tầm vóc rộng lớn, ít là đối với các Cộng Tác
viên người Ý. Chúng nhắm ngay đến họ. Việc còn lại là biến chương
trình trở thành hiện thực, điều ấy là đúng với bất kỳ tuyên bố nào
thuộc loại này.
Bế mạc Đại hội
Hội nghị khoáng đại cuối cùng diễn ra vào chiều ngày 25 tháng
Tư.342 Là chủ tịch thực sự của đại hội, cha Rua, người đã khéo léo
chủ trì tất cả các cuộc họp này, nói với cử tọa “bằng giọng run run
đầy cảm xúc” theo lời người ghi sử biên niên. Ngài bày tỏ những tâm
tình biết ơn sâu sắc: trước nhất đến Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII vì Chiếu
342 Bản mô tả, Atti, trang 70-76.

27.2 Page 262

▲torna in alto
262 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thư của Đức Thánh Cha dành cho Đại hội; rồi đến bốn Hồng y, bốn
Tổng Giám mục, và hai mươi lăm Giám mục vì đã hiện diện tại đại
hội; và đến các linh mục, giáo dân, và đông đảo các Cộng Tác viên
nam, nữ đã đến và cùng trải qua những ngày này ở Bologna. Ngài
nói: "Ngày 23, 24 và 25 tháng Tư năm 1895 sẽ được viết bằng chữ
vàng trong lịch sử của Tu hội Salêdiêng; và nổi bật hơn cả sẽ tỏa
sáng rực rỡ tên của Đức Hồng y Svampa”. Những lời sau cùng này
được chào đón bằng tiếng vỗ tay vang dội.
Phó chủ tịch, Achille Sassoli-Tomba, thay mặt cho các Cộng Tác
viên Salêdiêng từ Bologna, nói lời cảm ơn các nhà tổ chức và công
chúng.
Tiếp đến Đức Hồng y Svampa, chủ tịch danh dự của đại hội phát
biểu. Một phần bài diễn văn của ngài được phát hành trong Công
báo, khi trích dẫn nguyên văn lời ngài. Mặc dù lời lẽ hơi hùng biện,
thì lặp lại ở đây xem ra thích hợp, vì chúng giúp chúng ta thưởng
thức chút ít cách nào đó bầu khí kết thúc của một đại hội rất thành
công. Chúng ta sẽ thấy ngài thực sự 'ngả mũ chào' cha Rua như thế
nào.
Đức Hồng y nói ngài hạnh phúc xiết bao vì Đại hội thành công
tuyệt đối. Nhưng nó cũng “hơi nhuốm một cảm giác thất vọng, bởi
vì đây là lúc cuối cùng chúng ta ở bên nhau; bởi vì chúng ta phải rời
xa nhiều người rất yêu quý; bởi vì chúng ta sẽ không còn nghe những
cuộc nói chuyện thực tế và thú vị nữa vốn đã khuấy động niềm hy
vọng trong lòng chúng ta. Ôi chao! tại sao những bài nói chuyện ấy
lại không được khắc thành những mẫu tự sẽ kéo dài mãi mãi! Tuy
nhiên ký ức về chúng tiếp tục sống trong lòng mọi người; thật an ủi
khi nghĩ rằng những gì đã được nói sẽ được giữ gìn cẩn thận. Tuy
nhiên, có điều gì đó làm tôi đau lòng: đó là chẳng mấy chốc nữa tôi
sẽ phải rời xa những người đã trở nên rất thân thiết với tôi; những
người mà trong vài ngày qua, đã tỏ lòng tôn kính chúng ta bằng sự
hiện diện của họ, và đã có thể hoàn thành tất cả những gì mà các
nhà quảng bá đã dự tính; những người hôm nay cảm ơn chúng ta vì
sự hiếu khách mà họ đã nhận được, trong khi chúng ta là những
người phải cảm ơn họ vì đã nhận lời mời của chúng ta; những người

27.3 Page 263

▲torna in alto
Đại Hội Salêdiêng ở Bologna | 263
mà kỳ vọng của họ đã được đáp ứng trọn vẹn, bởi vì họ đã rất thiện
cảm. Về phần mình, miễn là chỉ có một khoảng cách tách biệt giữa
con người với nhau, ý nghĩ rằng chúng ta sẽ có những cơ hội khác
gặp lại nhau làm tôi được trấn an. Tôi cũng đau lòng khi nói lời tạm
biệt với những người Salêdiêng rất thân yêu của tôi, đặc biệt là chào
giã biệt cha Rua thân yêu của tôi, là linh hồn của Đại hội này. Nhưng
sẽ không lâu đâu, bởi vì ngài đã nói nhiều, và cha Rua luôn giữ lời
(tiếng vỗ tay nồng nhiệt). Nó giống như chữ ký trên tờ séc để lùi ngày.
Cũng vậy, chúng ta sẽ có những người Salêdiêng ở đây, không còn
là khách như hôm nay, không chỉ ghé ngang, nhưng để ở lại đây (vỗ
tay).343
Mỗi người rời Đại hội sẽ trở về nhà rực lên một niềm háo hức mới
để tham gia vào sự nghiệp đáng trọng này, được Thiên Chúa chúc
lành. Chúng ta hãy gánh vác nhiệm vụ; đúng vậy, chúng ta hãy cùng
nhau làm việc, tất cả chúng ta hãy hiệp nhất trong một sự nghiệp
chung. Hiệp nhất trong đức tin, trong trái tim, trong tình yêu, chúng
ta sẽ bảo đảm rằng không có chỗ cho những chia rẽ tai hại phá hủy
nhiều công việc tốt. Chúng ta phải học cách làm chủ bản thân và
kiềm chế những đam mê tàn phá bởi lòng kiêu ngạo, tham vọng và
phù phiếm. Cầu xin Chúa củng cố và chúc lành cho những nỗ lực
thánh thiện của chúng ta. Đức Trinh Nữ của Thánh Luca, người đã
giúp đỡ và hướng dẫn chúng ta trong suốt đại hội này, đang chờ
gặp chúng ta vào ngày mai trong đền thờ của La Guardia để lại chúc
lành chúng ta. Chúng ta hãy mang đến cho Mẹ một bó hoa thơm
ngát là lòng sùng mộ của chúng ta; Mẹ sẽ chúc lành cho tất cả những
gì chúng ta làm bây giờ và mãi mãi, và sẽ bảo đảm rằng chúng ta,
những người đã rất vui sướng quy tụ trong nhà thờ La Santa này,
nay là phòng tiệc ly của chúng ta, một ngày kia sẽ được hạnh phúc
quy tụ để tận hưởng từ Thiên Chúa sự hiếu khách mà cha Rua đã ước
mong cho tất cả chúng ta, và đó là phần thưởng được trao cho những
người bền chí đến cùng.” Khi ngài kết thúc bài diễn văn hùng tráng
– theo lời người viết biên niên – tiếng vỗ tay sôi động từ khán giả
vang lên mãi không dứt.
343 Thật ra Tu hội Salêdiêng ở Bologna được thành lập vào năm 1896.

27.4 Page 264

▲torna in alto
264 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Những cảm xúc của cha Rua về Đại hội Bologna
Khi trở về Torino, cha Rua thảo ngay một thư luân lưu dành hoàn
toàn cho Đại hội Bologna để gởi cho các Salêdiêng.344 Ngài vẫn run
run xúc động khi cố gắng hòa hợp sự khiêm tốn tự nhiên của mình
với vẻ huy hoàng của sự kiện này.
“Trong bốn ngày, cha đã vui sướng tham dự một quang cảnh tuyệt
vời về đức tin, lòng nhiệt thành, tình yêu và, cha có thể nói, thiện chí
dành cho Tu hội khiêm tốn của chúng ta đến nỗi lòng cha vẫn còn
ngập tràn và tinh thần cha chan chứa. Thậm chí cha không thể bày
ra trước mặt anh em tất cả những gì cha được đặc ân nghe và thấy.
Bất kể mọi nỗ lực, cha chỉ có thể tặng anh em một bức tranh mờ nhạt
về những gì đã xảy ra. Cha sẽ phải kể cho anh em nghe về những
điều đẹp đẽ, kỳ diệu và tuyệt vời đến như vậy, tất cả dường như quá
phóng đại đối với bất cứ ai không có mặt ở đó để tận mắt nhìn thấy
mọi sự.”
Do đó, ngài để cho người khác kể câu chuyện và vẽ bức tranh Đại
hội “vốn sẽ trở thành một trong những trang đẹp nhất trong Sử Biên
niên của Tu hội chúng ta”. Ngài hài lòng tuyên bố rằng đó là một
mặc khải vĩ đại về Chúa tốt lành biết bao "đối với con cái khiêm tốn
của Don Bosco". Ý tưởng ban đầu của Đại hội, sự nhiệt tình mà nó
tuôn vào thành phố Bologna, công việc không biết mỏi mệt của ban
tổ chức, sự lựa chọn nhà thờ La Santa cho các cuộc họp, gương các
gia đình nổi tiếng nhất cung cấp chỗ ở cho những tham dự viên, sự
sốt sắng của toàn dân vào các giờ phụng vụ buổi sáng và buổi tối
trong nhà thờ San Domenico “với sức chứa mười lăm ngàn người”; tất
tất trong Đại hội này, dường như là điều phi thường không thể tin
được đối với cha Rua. Một ngày sau ngày Đại hội bế mạc, trong một
sự kiện cao điểm cuối cùng, khoảng năm mươi ngàn người leo lên
ngọn đồi La Guardia cùng với các thành viên của Đại hội để tạ ơn
Đức Trinh Nữ của Thánh Luca vì sự thành công của nó.
Trong thư, ngài không thể bỏ qua việc đề cập đến các cơ quan
dân sự ở Bologna tỏ ra tử tế đặc biệt đối với những tham dự viên.
344 Thư luân lưu ngày 30 tháng Tư, 1895, L.C., trang 130-136

27.5 Page 265

▲torna in alto
Đại Hội Salêdiêng ở Bologna | 265
Không có gì bị bỏ sót để bảo đảm trật tự công cộng tốt đẹp. Nét lịch
sự tinh tế dành cho các thành viên Đại hội được thể hiện khắp mọi
nơi. Họ đã được vào các bảo tàng Bologna miễn phí chỉ bằng cách
xuất trình thẻ thành viên của họ. Các Giám mục từ Ý và xa hơn nữa,
trong sự kiện này, “đã đưa ra bằng chứng cảm động nhất rằng họ
yêu mến và quý trọng những người con cái nghèo của Don Bosco”.
Bốn Hồng y, và hơn ba mươi Giám mục đã có những tham luận của
mình trong quá trình Đại hội, và “vô số người khác đã bày tỏ họ ủng
hộ bằng những từ ngữ xúc động và ngợi khen đến nỗi khiến chúng
tôi hoàn toàn bối rối.” Trên hết mọi thứ đó, lá thư phê chuẩn tuyệt
vời của Đức Lê-ô XIII gửi đến Hồng y Svampa, đã được đọc lên trong
buổi khai mạc. Lời Đức Thánh Cha cam đoan ban phép lành đã khích
lệ ngài rất nhiều. Thực vậy, anh em có thể nói Đại hội đã diễn ra
dưới quyền chủ tịch của ngài vì bức tượng bán thân đường bệ của
ngài ngự trị từ phía trên Hội nghị. Ngài đã ở cùng họ trong tâm hồn
và tinh thần.345
Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng của cha Rua và để lại
cho ngài kỷ niệm trìu mến nhất là tình huynh đệ đích thực, sự hiệp
nhất sâu xa, sự hòa hợp trọn vẹn về cảm xúc và ước muốn, có thể
nói vậy, có thể nhìn thấy trên khuôn mặt của những tham dự viên.
Trong hội trường, bạn đang hít thở một bầu khí Salêdiêng thật sự:
đây là những thành viên của một gia đình tụ họp với nhau, những
người đã say mê lắng nghe khi người ta nói về Don Bosco, người cha
chung của họ, về các dự án của Salêdiêng mà cũng là của chính họ;
qua dấu chỉ là sự tán thành và tiếng vỗ tay nồng nhiệt họ chào đón
bất cứ điều gì đề xuất với họ vì lợi ích của các linh hồn.
Các Hồng y, Giám mục, linh mục, cũng như những giáo dân có
học thức và nhiệt huyết đã có những bài nói chuyện hùng hồn làm
rung động những tâm tình nhạy cảm tinh tế nhất trong lòng thính
giả. Những người Salêdiêng đã được khuyến khích một cách mạnh
mẽ và nhất mực tiến lên với những sự nghiệp khác nhau của họ,
trong khi để có được hiệu quả tốt, các Cộng Tác viên đã được khích
345 Một ghi chú trong thư luân lưu bày tỏ ý định của Cha Rua gửi một bản sao
Chiếu thư của Đức Lê-ô XIII tới mỗi nhà Salêdiêng để lưu trong văn khố.

27.6 Page 266

▲torna in alto
266 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lệ hỗ trợ đạo đức và vật chất cho những người Salêdiêng. Trong bài
phát biểu cuối cùng, Đức Hồng y Svampa đã nói đúng rằng mỗi
Cộng Tác viên đã học được điều gì đó mới mẻ.
Viết cho những người Salêdiêng, cha Rua cũng nói: “Anh em có
thể ngạc nhiên khi biết rằng một người nào đó rất được Đại hội tán
tụng, rằng họ gọi đó là chiến thắng, sự tôn thần phong thánh cho
Tu hội Salêdiêng. Cha đã miễn cưỡng lặp lại những lời đó, điều này
dường như xúc phạm đến sự khiêm tốn mà mọi người Salêdiêng phải
thực thi, nếu không có vẻ như đã được dự đoán trong giấc mơ của
Don Bosco ngày 10 và 11 tháng Chín năm 1881. Sau khi làm chúng
ta kinh hãi bằng việc mô tả những nguy hiểm mà Tu hội chúng ta sẽ
phải đối mặt vì sự lỏng lẻo của một số thành viên, Don Bosco trấn
an chúng ta khi nói thêm rằng: khoảng năm 1895, một chiến thắng vĩ
đại. Cha thân mến, lời của cha đã thành hiện thực.”346
Bằng lời lẽ của chính ngài, cha Rua tiếp tục lá thư, chỉ ra những
bài học mà các tu sĩ Salêdiêng phải rút ra từ Đại hội. Trước tiên, một
thành tựu vĩ đại như vậy buộc họ phải tạ ơn Chúa. Ngay từ đầu của
dự án, cha đã hướng lòng lên Chúa qua lời cầu bầu của Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu mong tìm được một kết quả viên mãn cho nhiệm
vụ “khó khăn như vậy”. “Xin tạ ơn Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Maria,
vì kết quả vượt quá mọi kỳ vọng của chúng ta. Thiên đàng gìn giữ
chúng ta khỏi việc tuyên bố là của chính mình [ngay cả] phần nhỏ
nhất của điều chỉ là công việc của Thiên Chúa. Xin dâng Ngài mọi
danh dự, dâng Mẹ mọi vinh quang!”
Những người Salêdiêng có thể cho mình hạnh phúc rằng Đại hội
đầu tiên của họ mang lại niềm vui cho Đức Lêô XIII tại Vatican, ngài
được thông tin mọi chi tiết về các hoạt động của Đại hội. Do đó, một
trong những hoa trái đầu tiên, là một mối liên kết chặt chẽ hơn giữa
gia đình Salêdiêng và Vị Đại diện của Chúa Giêsu Kitô. Ngài nói tiếp,
chúng ta hãy vui mừng, vì các giám mục coi trọng những nỗ lực của
người Salêdiêng để cùng họ hòa nhập nhiệt tình và cùng họ chiến
đấu “những trận chiến của Chúa”. Dù ở đâu, chúng ta hãy làm gương
346 Giấc mơ này trong MB XV, trang 183-187.

27.7 Page 267

▲torna in alto
Đại Hội Salêdiêng ở Bologna | 267
trong việc tỏ lòng kính trọng "những người thánh thiêng" ấy và vâng
lời các mệnh lệnh của họ. Kết quả ngoạn mục của Đại hội cũng phải
làm cho người Salêdiêng nắm giữ hơn nữa việc họ thuộc về Tu hội
mà họ đã gia nhập để đáp lại tiếng gọi từ Thiên Chúa. Mặc dù, qua
hàng ngàn cách, họ biết rằng Thiên Chúa đặc biệt chúc lành và bảo
vệ Tu hội mà họ thuộc về, thì ước chi Đại hội này có thể thuyết phục
họ hơn nữa về điều đó và thúc ép họ trở nên xứng đáng hơn với ân
sủng từ trời. Là những người con của Don Bosco, họ hãy tạ ơn Chúa
trong suốt Đại hội, cho dù trong hội trường, hoặc trong Vương cung
Thánh đường San Domenico, vì trong ba ngày Ngài đã vinh danh vị
tôi tớ trung tín của mình và vị Sáng lập, người cha đáng kính nhất
của họ. Từ trên diễn đàn các Hồng y và các Giám mục ngợi khen ngài
như ngợi khen một vị thánh. Các vị truyền cảm hứng cho thính giả
lòng kính trọng cao nhất đối với các nhân đức và công trình của Don
Bosco, mà họ không ngừng cho rằng “do Chúa Quan phòng”.
Sau lời ngài khuyên cầu nguyện và tạ ơn, cha Rua đã yêu cầu
những người Salêdiêng xét mình và hồi tâm về phẩm chất đời sống
đạo đức và tu sĩ của chính họ. Họ có xứng đáng để bỗng nhiên được
nâng lên đỉnh cao chót vót như vậy không? Vì biết họ rất rõ, ngài có
những mối nghi ngờ. “Cha phải thú nhận với anh em, những người
con rất thân yêu của cha trong Chúa Giêsu Kitô, rằng đôi lúc cha cảm
thấy lòng đầy lúng túng khi thấy những người Salêdiêng nghèo khó
được quý mến thế nào ở khắp nơi. Tại Đại hội, họ đã được coi như
người tu sĩ kiểu mẫu, đầy nhiệt huyết vì phần rỗi các linh hồn, những
bậc thầy trong nghệ thuật khó khăn là giáo dục và huấn luyện thiêng
liêng cho giới trẻ. Nhiều Giám mục và các Cộng Tác viên mong muốn
mãnh liệt hơn bao giờ hết được nhìn thấy các cơ sở Salêdiêng trong
các thị trấn và thành phố của họ: họ mong đợi những phép lạ từ
họ/người Salêdiêng để tái sinh xã hội ngày nay. Nhưng anh em sẽ
tha thứ cho cha nhé nếu, trong lòng, cha tự hỏi xem bản thân mình
liệu chúng ta có thực sự đúng như mọi người tin chúng ta như vậy
hay không ... Thường thì cha bị tấn công bởi những suy nghĩ khó
chịu rằng Các Cộng Tác viên quá-tốt-bụng sẽ thay đổi suy nghĩ của
mình nếu họ nhìn kỹ hơn hành vi của một số anh em chúng ta ... Ái
chà! Chớ chi những người hội viên đó thiếu lòng đạo, ít tuân giữ Tu

27.8 Page 268

▲torna in alto
268 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Luật Thánh của chúng ta, hoặc chểnh mảng nhiệm vụ đã có mặt tại
Đại hội, cha không nghi ngờ là họ sẽ quyết tâm thay đổi lối sống.
Cha xin anh em: tất cả chúng ta hãy hiệp nhất để giữ gìn thanh danh
Tu hội; chúng ta hãy sống theo tinh thần của Don Bosco, giống ngài
hơn, theo cách mà mọi người có lý để tin rằng chúng ta được bàn
tay Thiên Chúa dẫn dắt.”
Khi kết thúc thư luân lưu của mình, cha Rua bày tỏ mong muốn
rằng hội nghị được dự trù vào tháng chín năm sau, sẽ cũng cấp một
kích thích tố mạnh mẽ cho người Salêdiêng để đọ sức với những kỳ
mong của các Cộng Tác viên. Nhờ Thiên Chúa trợ giúp, các giám đốc
quy tụ quanh phần mộ của Don Bosco ở Torino-Valsalice, rời khỏi
những cuộc họp với lòng đầy nhiệt huyết và hăng hái để đem về nhà
và cho tất cả những người anh em của họ những tâm tình ấy.

27.9 Page 269

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 269
20
Tu hội Salêdiêng
PHÁT TRIỂN ở Châu Mỹ
Cha Rua hăng say đối với truyền giáo
Đại hội Bologna đã làm cho Truyền giáo Salêdiêng thành một
trong những chủ đề chính. Về phần mình, cha Rua không bao giờ
ngừng khuyến khích những người Salêdiêng yêu mến việc truyền
giáo mà Don Bosco đã khởi xướng năm 1875. Những nỗ lực của ngài
đã được đền đáp, và ngài không gặp vấn đề gì trong việc tìm các
tình nguyện viên cho những cuộc hành trình truyền giáo mới mà
thực tế mỗi năm đều lên đường trong suốt thời gian ngài đương
nhiệm.347 Để có một số ý tưởng nào đó về các điều kiện mà họ phải
đối mặt, nghĩ đến phương tiện giao thông và truyền thông được cách
mạng hóa như thế nào từ thời của họ cũng đủ thấy: không máy bay,
không đài phát thanh, không thư điện tử. Họ đã hoàn toàn bị cô lập,
thường trong những khoảng thời gian dài. Thư từ mất ít nhất cả
tháng để vượt Đại Tây Dương. Do đó, cha Rua đã làm tất cả những
gì có thể hầu bảo đảm cho những người truyền giáo khi lên đường
được chuẩn bị tốt cho một chuyến phiêu lưu như vậy.
Tại Nguyện xá ở Torino, trước buổi lễ chia tay truyền thống tại
nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, cha Rua có tục lệ quy tụ họ
lại với nhau trong nhà nguyện nhỏ kế bên phòng của Bosco. Ở đó,
ngài thôi thúc họ trở thành những người con xứng đáng của người
cha Don Bosco bởi lòng nhiệt tình, tình yêu và sự tuân giữ tu trì của
họ; sau đó nhân danh ngài, Don Rua chúc lành cho họ. Dù đôi khi
họ là một nhóm lớn, ngài vẫn chọn quy tụ họ ở đó, hơn là trong nhà
347 Ở đây tôi lấy lại các chương từ E. Ceria, Vita del Servo di Dio, trang 258-274,
hoàn tất trong Annali II, và từ M. Wirth, Don Bosco et la famille salésienne, trang 293-
307, tất cả đều dành riêng cho những vấn đề truyền giáo ở châu Mỹ.

27.10 Page 270

▲torna in alto
270 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thờ, để ngài có thể nói chuyện thân tình với họ, như một người cha
ngỏ với con cái mình. Vào cuối Thánh Lễ sai đi truyền giáo trong nhà
thờ, họ sẽ lần lượt đến ôm hôn ngài: chính lúc đó ngài sẽ thì thầm
lời trìu mến cuối cùng với từng người, một lời họ sẽ nhớ mãi.
Một khi họ đã ra đi, như thể ngài không bao giờ không thấy họ.
Trên hết, những bài tường thuật chi tiết về hành trình của họ là rất
quý đối với ngài. Điều này thể hiện rõ từ những dòng mở đầu của
một bức thư dài không thể tin được của Bernardo Vacchina, được viết
từ Rawson, kể về chuyến thăm của ông tới người da đỏ Tehuelches
vào tháng Mười Một - Mười Hai năm 1895: “Cha rất thân mến, ao
ước của cha là những người con của cha trong Chúa Giêsu Kitô phân
tán khắp nơi tại những điểm truyền giáo khác nhau ở những nước
bán khai, luôn gửi cho cha một bản tường thuật chi tiết về hành trình
tông đồ của họ và kết quả họ đạt được ... ”.348
Đích thân cha Rua viết thư cho họ khá thường xuyên ngay cả khi
chính ngài cũng đang đi công tác, đặc biệt là với những người có
trách nhiệm như các giám tỉnh và tập sư. Ví dụ như tôi đã tìm thấy
nội trong năm 1890 ngài đã viết tám lá thư (tất cả vẫn còn được lưu
giữ) cho cha Giuse Vespignani, tập sư ở Argentina, lá thứ nhất vào
tháng Hai từ Nice, lá thứ hai từ Brussels, lá thứ ba từ Torino, một lá
khác từ San Benigno, và lá cuối cùng vào tháng Mười Một từ Torino.
Thực thế, những lá thư thật sự của ngài gửi tới cá nhân những người
truyền giáo khá hiếm: thông thường, để tiết kiệm thời gian và phí
bưu điện, ngài sẽ gom các gói đồ những ghi chú ngắn mà sau đó
chúng được hồ hởi đón lấy và giữ gìn cẩn thận. Ngài cố hết sức đóng
góp bất cứ khi nào những người truyền giáo xin tiền. Cha Cagliero
làm chứng rằng khi ngài ở Patagonia, cha Rua cố hết sức quảng đại
đáp lại lời xin giúp đỡ của cha (Cagliero). Ngài cũng làm như vậy đối
với Đức Giám mục Fagnano, công việc tông đồ dầy đặc của ngài
thường đặt ngài vào tình cảnh rắc rối tài chính nghiêm trọng. Cha
Rua muốn làm phần vụ của mình để lan truyền Nước Chúa trong
348 B. Vacchina- M. Rua, Rawson, tháng Sáu, 1896, trong Bulletin salésien, năm
1897, trang 76.

28 Pages 271-280

▲torna in alto

28.1 Page 271

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 271
những vùng lãnh thổ xa xôi này.
Nam Mỹ
Khi Don Bosco qua đời, Tu hội có hai tỉnh dòng ở Nam Mỹ:
Argentina/Chile và Uruguay/Brasil, liền tiếp theo sau là Ecuador. Hoạt
động truyền giáo của Tu hội được gọi đúng đắn như vậy được thực
hiện trong hai khu vực của giáo hội vừa mới được Tòa Thánh thiết
lập: một Khu Đại Diện Tông Tòa gồm miền bắc và trung Patagonia,
và một khu Phủ doãn Tông tòa gồm miền nam Patagonia và Tierra
del Fuego [vùng Hỏa Địa]. Trong thời gian cha Rua là Bề Trên Cả và
được ngài khôn ngoan khuyến khích, những người Salêdiêng đã tiến
vào bảy quốc gia mới ở vùng nam và trung Mỹ châu: Colombia
(1890), Peru (1891), Mexico (1892) Venezuela (1894), Bolivia và
Paraguay (1896) và cuối cùng là El Salvador (1897).
Colombia. Công cuộc mạo hiểm ở Agua de Dios
Colombia đứng đầu danh sách, theo các yêu cầu lặp đi lặp lại từ
cả Chính phủ lẫn Tòa Tổng Giám mục của thủ đô Bogota: những yêu
cầu không chỉ gởi đến Torino mà còn đến cả Rôma.349 Bogota cần
những người Salêdiêng, dù có khó khăn đến mấy. Đây là nguyên
nhân khiến cha Rua thấy bối rối nào đó. Năm 1889, vẫn chịu áp lực
từ sự khăng khăng của Đức Giáo Hoàng không thiết lập bất kỳ dự án
mới nào, ngài bị tổn thương sâu sắc bởi một lá thư từ Đức Hồng y
Bảo trợ Parocchi đề ngày 30 tháng Ba, ngài viết: “Tôi vừa đến tiếp
kiến Đức Thánh Cha, tôi lấy làm buồn khi nghe những người
Salêdiêng thân yêu của tôi vô tình xúc phạm đến Đức Giáo Hoàng.
Đức Thánh Cha rất thiết tha mong những người Salêdiêng nhận lời
đề nghị mở một nhà mới ở Colombia, nhưng Hội Dòng không sẵn
lòng. Tôi có thể hiểu các vấn đề khi phải đối mặt với việc thành lập
một cơ sở mới, do thiếu nhân sự và nhiều nhu cầu khác cần được đáp
ứng, nhưng cha phải thuận theo mong muốn của Đức Giáo Hoàng.
Mặc dù dường như ngài đang yêu cầu điều không thể, hãy tiếp cận
nó với đức tin có thể chuyển núi dời non.” Cha Rua lập tức trả lời cho
Đức Hồng y Parocchi: “Cha không thể tưởng tượng được tin này làm
349 Xem Annali II, trang 124-130.

28.2 Page 272

▲torna in alto
272 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
con đau đầu thế nào. Con sẽ cho cha biết tình thế ngay tức thì.”
Người Salêdiêng từ chối mở một nhà ở Colombia, điều đó thật không
đúng. Kể từ tháng Năm năm trước, họ đã làm việc trên một thỏa
thuận về chính vấn đề này với một đại diện của chính phủ Colombia.
Điểm mắc kẹt là ông ấy muốn những người Salêdiêng có mặt ở đó
vào tháng Giêng năm 1890, trong khi những người Salêdiêng “đề
nghị năm 1891.”350 Nhiều buổi thảo luận hơn đã diễn ra. Vị đại diện
chính quyền Colombia đã có mặt tại cuộc họp của Tu Nghị Bề trên
cuối tháng Tư năm 1889. Đức Lê-ô XIII tiếp tục cố nài. Cuối cùng,
cuộc viễn chinh truyền giáo của người Salêdiêng đi Colombia đã lên
tàu từ St. Nazaire vào ngày 10 tháng Giêng năm 1890 dưới sự lãnh
đạo của cha Micae Unia, một linh mục bốn mươi tuổi. Cùng lúc đó
ở Chilê, cha Evasio Rabagliati đã nhận được chỉ thị đóng hành lý và
trở thành Giám đốc của ngôi nhà mới ở Bogota.
Việc truyền giáo ở Colombia mang đặc tính ngoại lệ do công việc
của cha Unia tại Agua de Dios.351 Người ta cho ngài biết có một ngôi
làng biệt lập cách Bogota hai hay ba ngày đường, nơi có mấy trăm
người phong hủi sống hoàn toàn bị cô lập về vật chất và tinh thần.
Thậm chí không được mở những lá thư họ gửi vì sợ bị lây bệnh. Khi
đọc Tin mừng kể về mười người phong hủi được Đức Kitô chữa lành,
Unia cảm thấy được kêu gọi phục vụ những con người không may
này, bị mọi người từ chối, với sự giúp đỡ nhỏ giọt của chính quyền,
và không có linh mục nào lo mục vụ cho họ. Cha Rabagliati, giám
đốc của ngài, sẵn sàng để ngài đi, miễn là cha Rua đồng ý. Unia giải
thích mong muốn của mình với cha Rua trong một bức thư ngày 18
tháng Tám năm 1891. Trong khi đó, Đức Tổng Giám mục Bogota đã
chúc lành cho một việc mạo hiểm mà ai nấy đều cảm thấy hoài nghi.
Đối với những người phong hủi, việc cha Unia đến ở giữa họ giống
như một thiên thần từ trời xuống. Họ không thể tin vào mắt mình.
Tất cả những người khỏe mạnh, đàn ông, phụ nữ và trẻ em, vây
quanh ngài và bắt đầu nhảy múa vui mừng. Sau đó ngài đi vào
phòng bệnh phong để thăm những người không thể đứng dậy.
350 Những lá thư này trong Annali II, trang 126-128.
351 Về việc mạo hiểm ở Agua de Dios, tôi lấy Annali II, trang 141-154.

28.3 Page 273

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 273
Người họ đầy những vết lở loét ghê tởm từ đầu đến chân. Một số
không còn trông giống như người nữa. Bất chấp mọi lời khuyên đừng
bao giờ chạm vào họ, và một sự ghê tởm dễ hiểu, Unia thậm chí còn
ôm lấy họ. Tòa Tổng Giám mục bổ nhiệm ngài làm cha tuyên úy cho
làng Agua de Dios. Ngày 28 tháng Tám, Unia lại viết cho cha Rua,
tuyên bố ngài sẽ ở lại đó bất kể rủi ro gì. Tuy nhiên, có vẻ như cha
Rua không muốn việc tông đồ ngoại thường này tiến tới. Thực tế là,
những lá thư của cha Unia đã bị ngăn trở nơi nào đó trên Đại dương,
một lá từ Bề Trên Cả chỉ thị ngài đến Mexico làm Giám đốc một nhà
mới ở đó. Cha Unia đã phục tùng, nhưng những người phong hủi,
trong một bức thư gửi cha Rua ngày 17 tháng Mười và mang năm
mươi bốn chữ ký, đã trút hết nỗi đau khi nhìn thấy linh mục của họ
rời bỏ họ, và cầu xin ngài đừng tước đi niềm an ủi tuyệt vời mà cha
Unia đã mang đến cho họ.
Thực vậy, cha Unia đã bỏ lại những người phong hủi vào ngày 25
tháng Mười Một giữa những tiếng khóc than của tất cả những con
người buồn sầu đó. Các nhà chức trách ở Bogota được báo động: họ
gửi điện tín cho Torino và Rôma yêu cầu cha Rua rút lại quyết định
của mình. Trong thực tế, điều này đã xảy ra rồi. Ngài đã trả lời cho
cha Unia từ ngày 13 tháng Mười, nói rằng: “Tôi rất mãn nguyện với
quyết tâm quảng đại của cha, hy sinh bản thân vì lợi ích của những
người phong hủi. Tôi hoàn toàn chấp thuận, và tôi cầu xin Chúa ban
cho cha những phúc lành trọng đại nhất và dồi dào nhất. Cha sắp
sửa hy sinh sự sống mình; vì thế, tôi xin chào mừng cha. Tuy nhiên,
tôi đề nghị cha nên hết sức cẩn trọng để tránh cho bản thân không
mắc phải căn bệnh khủng khiếp này, hoặc ít nhất là trì hoãn để
không bị nó tấn công đến mức tối đa. Có thể một người Salêdiêng
khác, theo gương của cha, sẽ sửa soạn tham gia cùng cha và làm việc
sát cánh với cha trong mọi nhu cầu thiêng liêng và vật chất. Mặc dù
cha đang sống giữa những người phong hủi, chúng tôi vẫn coi cha
là người anh em Salêdiêng thân thiết của chúng tôi. Hơn thế nữa,
chúng tôi xem Agua de Dios là thuộc địa Salêdiêng mới và chúng tôi
muốn giúp những người bệnh đó bằng mọi cách có thể. Điều này
làm chúng tôi cực kỳ mãn nguyện. Giờ đây tôi xin ngừng bút. Xin
cho chúng tôi trìu mến chào thăm họ và bảo với họ rằng chúng tôi

28.4 Page 274

▲torna in alto
274 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
yêu thương họ rất nhiều và chúng tôi cầu nguyện cho họ.”352
Cha Unia làm công việc của mười người cho những người phong
hủi thân yêu của mình. Ngài đã xây dựng một căn nhà cho trẻ em,
lập quỹ cho một bệnh viện mới, trùng tu nhà thờ, đặt ống dẫn nước
uống từ một ngọn đồi gần đó, tổ chức các lễ hội tôn giáo và khuyến
khích âm nhạc. Bốn năm làm việc cật lực cuối cùng làm ngài kiệt sức.
Ngài trở về Ý để phục hồi sức khỏe nhưng đã qua đời tại đó ngày 9
tháng Mười Hai năm 1895 lúc 45 tuổi.
Qua nhiều năm công trình của người Salêdiêng ở Colombia đã trở
nên trải rộng hơn. Sau khi thành lập trường kỹ thuật ở Bogota, được
gọi là trường Cao đẳng Lê-ô XIII, vào năm 1892 người Salêdiêng
được giao trách nhiệm cho một giáo xứ ở Baranquylla, một cảng biển
nổi tiếng ở Antilles. Năm 1893, một nhà tập được mở, đầu tiên tại
Fontibon, sau đó được chuyển đến Mosquera. Các dự án bắt đầu
trong những đồng bằng rộng vùng San Martin, trong vùng Amazon
ở phía đông nước này, nhưng cuộc cách mạng năm 1895 và việc
thiếu nhân sự ngăn cản bất kỳ bước tiến nào xa hơn những bước khởi
đầu thăm dò ấy. Tại Agua de Dios, hai người Salêdiêng, Crippa và
Variara, đã tiếp quản và phát triển công việc do cha Unia khởi sự.
Tỉnh Dòng Colombia được thành lập năm 1896. Để phát triển nông
nghiệp, một trường học được thành lập tại Ibagué vào năm 1905.
Dưới thời cha Rua, Tỉnh Dòng Columbia đã vững vàng tiến bước, bất
chấp những biến động chính trị đặc thù của lục địa đó vốn luôn gây
ra những hậu quả nghiêm trọng cho công cuộc được chính phủ
đương thời hỗ trợ.
Những người Salêdiêng được thành lập ở Peru
Tòa Thánh bày tỏ mối quan tâm sâu sắc khi thấy những người
Salêdiêng được thành lập ở Peru, như trường hợp của Colombia.
Tháng Ba năm 1890, Đức Hồng y Rampolla thông báo cho cha Rua
rằng Đức Lê-ô XIII muốn người Salêdiêng được gửi đến thủ đô Lima
sớm bao có thể để đảm nhận việc chăm sóc giới trẻ. Mong muốn
tránh lặp lại những tranh cãi ở Colombia, cha Rua trả lời rõ ràng với
352 Lá thư này trong Annali II, trang 145-146.

28.5 Page 275

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 275
Đức Hồng y: "Cha có thể bảo đảm với Đức Thánh Cha rằng chúng
con sẽ làm mọi thứ có thể để đáp ứng những mong ước đáng kính
của ngài". Tuy vậy các nhà đàm phán cần một ít thời gian.
Văn bản hợp đồng bộc lộ rõ sự hợp tác chặt chẽ giữa các chính
phủ Nam Mỹ và Tu hội Salêdiêng. Ngày 6 tháng Sáu, Tu Nghị Bề
trên đã sửa đổi nhiều điểm trong một dự án do người Peru đề xuất.
Chính phủ Peru chấp nhận chúng. Ngày 25 tháng Bảy, Charles Elias,
Bộ trưởng toàn quyền của Peru tại Ý, đã có mặt tại Nguyện xá Torino
dự một buổi họp (của Bề trên) để thảo luận về việc thành lập một
viện mồ côi cho thiếu niên ở Lima. Trong bản tuyên bố tán thành,
chúng ta đọc thấy:
“Với mục đích từ thiện là cung cấp sự dạy dỗ và giáo dục Kitô giáo
cho lớp trẻ nghèo và bị bỏ rơi ở thành phố và tỉnh Lima, thỏa thuận
sau đây đạt được giữa Bộ trưởng chính phủ và cha Micae Rua đáng
kính: 1. Về phần mình, chính phủ sẽ cấp chủ quyền tuyệt đối hoặc
sử dụng vĩnh viễn một ngôi nhà và tất cả những phần phụ của nó:
sân chơi và khu vườn đủ lớn để phục vụ cho ít nhất ba trăm người
trẻ. - 2. Chính phủ sẽ cung cấp tất cả đồ nội thất và thiết bị cần thiết
cho nhà ngủ, xưởng thợ, lớp học, nhà bếp, nhà ăn vv, và vải vóc
thích hợp. - 3. Họ cũng sẽ cung cấp các phẩm phục và băng ghế cho
nhà nguyện, hoặc, ngoài các tài sản phù hợp, như dưới đây, khoản
tiền 50.000 lire để thiết lập nó. (Trên thực tế, người Salêdiêng thích
chọn lựa thứ hai này hơn.) - 4. Trong mười năm chính phủ cung cấp
chi phí đi lại ban đầu của mỗi thành viên trong nhóm điều hành được
chỉ định cho trại trẻ mồ côi. - 5. Cha Rua cam kết trong vòng năm
(để trống) mở một trường huấn nghệ, cũng như các lớp giáo dục tiểu
học và trung học cho các ứng sinh phù hợp. - 6. Giám đốc nhà mồ
côi, với vai trò là đại diện của cha Rua, sẽ có quyền tự do hướng dẫn
từng người trẻ trong việc học nghề hoặc văn hóa. - 7. Giám đốc sẽ
được trao toàn quyền tự do chịu trách nhiệm quản trị và kỷ luật của
viện. - 8. Những em trai được chính phủ giới thiệu sẽ ưu tiên được
nhận, miễn là các em có độ tuổi từ mười đến mười bốn, sức khỏe tốt
và thể chất không có bất kỳ bất thường thể lý nào. - 9. Chính phủ sẽ
cung cấp cho mỗi em được giới thiệu khoản tiền 40 đồng một tháng.

28.6 Page 276

▲torna in alto
276 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Nếu một trong các em biểu hiện hành vi xấu, trở thành cớ vấp phạm
cho các bạn đồng trang lứa, hoặc bị khổ sở với chứng bệnh mãn tính
hoặc truyền nhiễm nào đó, chính phủ sẽ rút tên em ra ngay khi được
Giám đốc thông báo. - 10. Bản hợp đồng này có giá trị trong năm
năm, và sẽ được coi là hợp lệ thêm năm năm nữa, trừ khi có một bên
thông báo trước hai năm trước khi nó hết hiệu lực.”353
Các nguyên tắc Don Bosco thiết lập được cha Rua theo dõi chặt
chẽ: tìm nguồn hỗ trợ từ xã hội dân sự, nhưng người Salêdiêng tự
do tuyệt đối trong việc giáo dục giới trẻ.
Cha Angelo Savio đã dọn đường cho người Salêdiêng hiện diện
tại đất nước này thông qua các mối liên hệ với một hội từ thiện ở
Lima. Cuối năm 1891 ba người Salêdiêng và chín người Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu đến thủ đô. Viện mồ côi khởi đầu là một trường
dạy nghề, và cha Antôn Riccardi, trước đây làm việc tại Argentina, là
giám đốc đầu tiên. Không lâu sau, một Nguyện xá được hình thành
kế bên. Hội từ thiện Lima giao một trường dạy nghề cho các Nữ tu;
vào năm 1896, sau khi hoàn thành năm năm đầu tiên, Thượng viện
Peru đã phê chuẩn việc thành lập thêm các trường Salêdiêng. Cuộc
cách mạng ở Ecuador đã dẫn đến việc trục xuất một số người
Salêdiêng, những người này vì vậy không bị vướng bận để có thể
mở thêm hai ngôi nhà mới: một trường nông nghiệp tại Arequypa
vào năm 1897 và một trường cao đẳng tại Callao năm sau. Trong
mười năm tiếp theo (1905 và 1906), các thị trấn người da đỏ Cusco
và Piura cũng thấy những người Salêdiêng hiện diện.
Cuộc mạo hiểm ở Ecuador
Từ khi người Salêdiêng đến thủ đô Quito ngày 28 tháng Giêng
năm 1888, công cuộc Salêdiêng ở Ecuador phát triển. Ngôi nhà ở
Quito có tổng cộng mười bốn xưởng thợ, tất cả đều hoạt động hết
công suất và từ đầu thập niên chín mươi chính quyền tổng thống bắt
đầu tỏ hiện mối quan tâm đặc biệt đến chúng. Các trung tâm khác
theo sau: Diorama (1891), Cadence (1892), và một nhà tập được mở
tại Angelique. Năm 1894, cha Rua thấy phù hợp để thiết lập Tỉnh
353 Ấn bản trong Annali II, trang 136.

28.7 Page 277

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 277
Dòng Ecuador và ngài bổ nhiệm cha Lu-y Calcagno (1857-1899) làm
Giám tỉnh đầu tiên.
Cùng khoảng thời gian đó, Tòa Thánh đã đề nghị với Tu hội một
sứ vụ quan trọng ở phía đông nước này, nơi mà dân cư được tạo
thành từ các bộ lạc Da Đỏ bán khai.354 Ngày 26 tháng Ba năm 1889,
một lá thư đã được đọc cho Tu Nghị Bề trên từ Thư ký của Bộ lo về
các sự vụ ngoại thường diễn đạt mong muốn người Salêdiêng nhận
trách nhiệm đối với Đại diện Tông Tòa mới ở Mendez và Gualaquyza.
Ngày 6 tháng Chín sau đó, Đức Hồng y Rampolla đã nói rõ ràng với
cha Rua: “Ngài Flores, Chủ tịch nước Cộng hòa Ecuador, gần đây đã
viết thư cho tôi yêu cầu rằng Toà Thánh nên giao sứ vụ Mendez và
Gualaquyza cho các linh mục của Tu hội xứng đáng mà cha, vị linh
mục đáng kính, là Bề trên. ”
Yêu cầu được chấp nhận. Năm 1892, cha Angelo Savio đã được
phái đi thăm khám phá. Đáng buồn thay, ngài đã mất ở đó ngày 17
tháng Giêng do viêm phổi vì ngủ ngoài trời trong một đêm lạnh khác
thường. Tại Torino cha Rua chờ một cơ hội tốt cho đến khi văn kiện
từ Bộ lo về về các sự vụ ngoại thường đến vào ngày 8 tháng Hai,
thông báo việc thành lập Đại diện Tông Tòa mới và các ranh giới địa
lý chính xác của nó. Địa điểm của nó gần Cuenca, nơi một ngôi nhà
vừa được mở ra, rất tiện cho ngài. Lần này, chuyến thăm khám phá
Gualaquyza được giao phó cho Giochino Spinelli (1868-1949), một
linh mục trẻ, và Giacinto Pankeri (1857-1947), một sư huynh. Họ
khởi hành chuyến đi kéo dài ba mươi sáu ngày, đưa họ đến vào đầu
tháng Mười năm 1893. Bất chấp mọi rắc rối, một sứ vụ với một
trường kỹ thuật nhỏ đã sớm được thiết lập tại Gualaquyza, mặc dù
nó ở trong tình trạng hoàn toàn tệ hại. Các xưởng thợ, lớp học, nhà
nguyện, và thậm chí cả ngôi nhà không khác gì những túp lều bằng
gỗ với mái rơm thô sơ.
Tuy nhiên, năm 1894, Flores, Tổng thống Cộng hòa đã xin Tòa
Thánh cho cha Giacôbê Costamagna, người Salêdiêng mà ông đã biết
354 Về nguồn gốc của Hạt Đại diện Tông Tòa Mendez et Gualaquyza, xem Annali
II, trang 283-296.

28.8 Page 278

▲torna in alto
278 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
và quý trọng ở Quito, và hiện tại là Giám tỉnh ở Argentina, được đặt
làm vị Đại diện Tông tòa của Mendez và Gualaquyza.355 Cha Rua
không lãng phí thời gian để lo liệu "bài sai" cần thiết. Ngày 3 tháng
Mười Hai, Costamagna chia tay tất cả mọi người tại trường cao đẳng
ở Almagro; vào ngày Giáng Sinh, ngài đã ở Nguyện xá tại Torino.356
Trong một buổi họp riêng ngày 18 tháng Ba năm 1895, Đức Lê-ô
XIII phong cho ngài tước hiệu Giám mục của hiệu tòa danh dự
Colonia ở Armenia, và ngày 23 tháng Năm, tại nhà thờ Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu, Đức Tổng Giám mục Torino Riccardi, đã tấn phong
ngài làm Giám mục, với hai Giám mục phụ tá phụ phong. Như vậy,
sau Đức Giám mục Gioan Cagliero và Đức Giám mục Lu-y Lasagna,
ngài trở thành vị Giám mục Salêdiêng thứ ba. Thật không may, vị
Đại diện Tông Tòa của Mendez và Gualaquyza này, vốn được mọi
người háo hức đợi chờ trên lãnh thổ, đã được tấn phong tại một thời
điểm diễn ra bất ổn chính trị nghiêm trọng ở Ecuador, và là người
được bổ nhiệm qua ảnh hưởng của Tổng thống Flores, ngài bị xem
là persona non grata/nhân vật không được hoan nghênh.
Thực vậy, các vấn đề nảy sinh với tất cả những người Salêdiêng ở
Ecuador trong cuộc cách mạng tự do năm 1895. Ở quốc gia đó 'tự
do' cũng có nghĩa là 'chống giáo sĩ'. Bạn bè của chính phủ trước giờ
bị coi là kẻ thù của chế độ mới. Vào năm 1896 thảm họa xảy ra. Bị
cáo buộc tham gia vào các hoạt động chống chính phủ, những người
Salêdiêng bị bắt và nhà của họ bị tịch thu. Chín tu sĩ, bao gồm cha
Giám tỉnh Calcagno, phải chịu một cuộc hành trình khủng khiếp đến
biên giới Peru. Thử thách của họ kéo dài bốn mươi ngày và khiến họ
chết nhiều hơn sống.357
Được báo động về tình hình, cha Rua đã tìm sự can thiệp của Bộ
trưởng Ngoại giao Ý, Visconti-Venosta, người đã gửi một lá thư đến
lãnh sự Ý tại Guayaquyl ở Ecuador, và cũng đến Lãnh sự toàn quyền
tại Lima, Tư lệnh Castelli, tìm thông tin chính xác và yêu cầu can
355 Biên bản Tu Nghị Bề trên, 28 tháng Tám, 1894.
356 Về phần Costamagna, Annali II, trang 291-293.
357 Về những cáo buộc chống lại người Sa lê diêng và sự trục xuất của họ, xem
Annali II, trang 549-577.

28.9 Page 279

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 279
thiệp vì các Salêdiêng, tất cả đều là công dân Ý. Việc này đã gây ra
một màn náo động trong quan hệ ngoại giao, nhưng chúng tôi sẽ
tránh cho độc giả mọi chi tiết về sách lược. Cha Giám tỉnh Salêdiêng,
Calcagno, trình bày trường hợp của mình, và từ đầu năm 1897 toàn
bộ vụ việc dường như đã làm sáng tỏ. Nhưng rốt cục việc này chẳng
hơn gì một ảo tưởng. Vào tháng Chín, cha Rua lại gây áp lực với Bộ
trưởng Ngoại giao Ý để có được một phán quyết chính thức từ chính
phủ Ecuador. Giacinto Pankeri, Sư huynh Salêdiêng, người đã ở lại
nơi đó, đã cố gắng hết sức để bảo vệ tài sản của người Salêdiêng ở
Quito. Bộ trưởng Ý đã chọn cách chuyển giao cho bộ trưởng Tây Ban
Nha mọi trách nhiệm bảo vệ lợi ích của người Salêdiêng trước chính
phủ ở Quito. Ngày 29 tháng Ba năm 1898, chính phủ đã thỏa thuận
với Pankeri để thành lập một ủy ban trọng tài. Công việc của ủy ban
này tiếp tục cho đến năm 1902 ...358
Tuy nhiên, trong khi đó, công việc của người Salêdiêng nói chung
đang đẩy mạnh ở Ecuador, nhờ các Cộng Tác viên mạnh dạn ở Quito
hỗ trợ, những người đã không hề cam chịu nhìn thấy công việc của
mình bị đàn áp.359
Mexico
Tháng Mười năm 1892, cha Rua quyết định gửi một nhóm người
Salêdiêng tiên phong đến Mexico, nơi họ đã được mong đợi ít nhất
bốn năm rồi.360 Ngày 12 tháng Năm năm 1887, khi Don Bosco ở
Roma để cung hiến Thánh đường Thánh Tâm, ngài đã tiếp một nhóm
học sinh từ một trường cao đẳng Nam Mỹ đến thăm. Một số người
trong đám ấy hỏi ngài khi nào người Salêdiêng sẽ đến Mexico. Ngài
nói với họ: “Cha không phải là người sẽ gửi người Salêdiêng đến
358 Chi tiết những việc thương thuyết này, xem Annali II, trang 590-598.
359 Về sự phục hưng này, xem Annali II, trang 598-602.
360 Về việc những người Salêdiêng đến Mexico, xem 18 lá thư của Angel G. de
Lascurain và của những bạn bè của ông gửi cho Cha Rua vào năm 1889 và năm
1891, FdR 3305 D9 at 3307 A11. Bản tường thuật trong Ceria, Annali II, trang
137-140 và trong Francis Castellanos, «El nacimiento de la obra salesiana en México»,
RSS, 15, 1989, trang 399-429, đưa ra cho thấy vai trò của những Cộng tác viên
Salêdiêng vào lúc khởi đầu. 15. Được hiệu đính trong Annali II, trang 139.

28.10 Page 280

▲torna in alto
280 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Mexico; người kế nhiệm của cha sẽ làm điều cha không thể. Các con
có thể chắc chắn về điều đó.” Cha Rua đã lo việc này.
Sau khi Don Bosco qua đời, danh thơm của người Salêdiêng ở
Nam Mỹ lan rộng đến tận Mexico, nhiều đến mức ngày 23 tháng
Sáu năm 1889, bảy thành viên của Nhóm Công giáo Mexico, háo
hức muốn xem đất nước của họ có thể tận dụng lợi thế của một
nhóm đầy hứa hẹn như vậy; họ đã họp lại để nghiên cứu cách tốt
nhất biến điều này thành hiện thực. Một trong số các thành viên cho
mọi người biết rằng ông là một Cộng Tác viên Salêdiêng, và thế là
cả nhóm quyết định đăng ký vào Hiệp Hội này. Một ủy ban hành
động được Angel G. de Lascurain thành lập; Đức Tổng Giám mục
Pelagius Labastida đã chúc lành cho ông. Ông đã liên lạc với cha Rua
để thông báo cho ngài về những bước thăm dò ban đầu này. Cha
Rua sung sướng vì sáng kiến của họ và gửi cho mỗi người một giấy
chứng nhận là thành viên của hội Cộng Tác viên Salêdiêng. Điều này
đã gây ra sự bứt phá lan tràn kiến thức về Don Bosco và công việc
của ngài trên khắp nước Cộng hòa này. Ngay cả một số Giám mục
Mexico cũng xin trở thành hội viên của Hiệp Hội Cộng Tác viên
Salêdiêng. Tên của Don Bosco trở nên rất phổ biến ở thủ đô nơi mà
nhiều người bắt đầu mong chờ những người Salêdiêng xuất hiện để
làm việc cho giới trẻ.
Vào lúc này, một nữ Cộng Tác viên giàu có đã tặng ngôi nhà của
mình cho ủy ban để biến thành trường cao đẳng; nhưng không có
triển vọng người Salêdiêng đến ngay tức thì, nhóm bạn hữu đó đã
tự xử lý vấn đề. Họ mở một trường dưới sự chỉ đạo của một linh mục,
Enrico Perez Capetillo, với các xưởng in và đóng giày, cũng như một
lớp tiểu học cho chín trẻ mồ côi, số lượng nhanh chóng tăng lên ba
mươi bảy, tất cả từ những gia đình nghèo nhất tại thủ đô. Khi được
thông báo, cha Rua đã chúc lành cho dự án, hứa sẽ gửi những người
Salêdiêng đến ngay khi có thể. Ngày 4 tháng Hai năm 1891 xảy ra
cái chết của Đức Tổng Giám mục Mexico, một người quảng bá nổi
bật và là nhà hảo tâm của công trình. Kế đó, linh mục Capetillo rút
lui. Việc sụp đổ của toàn bộ công trình dường như không thể tránh
khỏi. Tuy nhiên cha Rua thuận theo những lời cầu xin khẩn cấp của

29 Pages 281-290

▲torna in alto

29.1 Page 281

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 281
người Mexico và được Tòa Thánh khuyến khích, cuối cùng đã quyết
định gửi một nhóm người Salêdiêng tiên phong vào tháng Mười năm
1892.
Họ đến Vera Cruz ngày 1 tháng Mười Hai và được các Cộng Tác
viên chào đón nhiệt tình. Thủ đô chào mừng họ đến. Có năm người
trong số họ: ba linh mục, trong đó có cha giám đốc Angelo Piccono,
một tư giáo và một sư huynh. Không hề chậm trễ họ đến trình cho
Đức Tổng Giám mục mới, Alarcon, một lá thư giới thiệu từ Hồng y
Rampolla vốn được cha Rua đích thân giao cho họ. Khi Đức Hồng y
đưa thư cho ngài ngày 19 tháng Mười năm 1892, ngài cũng viết
rằng Đức Thánh Cha đã rất hài lòng khi nghe tin về chuyến thám
hiểm truyền giáo mới nhất này. Trong thư giới thiệu chính thức, Đức
Hồng y đã viết:
“Lá thư tôi viết sẽ được gởi đến cha qua người đứng đầu nhóm
các linh mục đang đến để sở hữu ngôi nhà đã được mở cho họ trong
đô thị đó. Tôi hoàn toàn tin tưởng Đức Tổng sẽ chào đón họ trong
tình hiền phụ, và ngài sẽ sử dụng địa vị và ảnh hưởng của mình để
hỗ trợ và bảo vệ họ trong sứ vụ của họ, và bằng cách này bảo đảm
sự thành công cho dự án cao quý của họ; vì sứ vụ này họ lìa bỏ quê
hương mình đi đến các vùng xa xôi. Thật vậy, tôi không muốn bỏ lỡ
cơ hội cấp cho họ thư giới thiệu này. Tôi muốn Đức Tổng biết rằng
sự chào đón của ngài khiến Đức Thánh Cha và chính tôi rất mực hài
lòng. Những người con xứng đáng này của Don Bosco đáng được
Tòa Thánh hoàn toàn ủng hộ vì việc tốt họ làm, cả về mặt thiêng
liêng và vật chất, đặc biệt là bằng cách giáo dục giới trẻ cả về chữ
nghĩa lẫn việc làm, và cũng bằng cách đáp ứng những nhu cầu của
tín hữu trong một tác vụ rộng khắp.”361
Nhờ những lời giới thiệu cao quý như vậy, sứ vụ của người
Salêdiêng tiến lên với tốc độ kỷ lục. Ngày 3 tháng Giêng năm 1893,
cha Piccono trình bày các kế hoạch của mình cho một nhóm Cộng
Tác viên Salêdiêng. Ngay lập tức một người phụ nữ có tên Julia
Gomez đã biếu cha một món quà là một mảnh đất rộng hai mươi
361 Được hiệu đính trong Annali II, trang 139.

29.2 Page 282

▲torna in alto
282 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nghìn mét vuông, và một kỹ sư tên là Sozaya chuẩn bị các bản vẽ
cho một trường cao đẳng đủ lớn để nhận bốn trăm người trẻ. Tiền
dâng tặng gửi đến tới tấp. Ngày 29 tháng Giêng, Đức Tổng Giám
mục đã có thể làm phép đặt viên đá xây dụng trước rất đông người
hiện diện. Cộng hòa Mexico đã gia nhập danh sách các quốc gia ở
châu Mỹ Latinh nơi người Salêdiêng đã bắt rễ.
Venezuela, Bolivia, Paraguay, El Salvador
Trước hết, chúng tôi đưa ra một bản tóm tắt ngắn gọn về việc
những người Salêdiêng đến bốn quốc gia khác của châu Mỹ Latinh
trong thời cha Rua, và dưới ảnh hưởng của ngài.
Suốt nhiều năm Venezuela đã hiện lên trong danh sách được Don
Bosco và cha Rua nắm giữ.362 Trong số những vị tiền thân của công
cuộc Salêdiêng ở đất nước này, như ở Mexico, có một linh mục,
Richard Arteaga, và một nhóm nhỏ các Cộng Tác viên. Hơn nữa, họ
nài xin Đức Tổng Giám mục Crispolo Uzcategui trợ giúp để tác động
cha Rua sai cử người Salêdiêng đến Caracas.363 Đồng thời, Đức Tổng
Giám mục đã xin Đức Giáo Hoàng vì mình điều đình với Bộ Truyền
Bá Đức Tin ở Rôma.364 Tất cả việc này rất có lợi cho người Salêdiêng
một khi họ đến nơi. Họ khởi hành từ Genova ngày 1 tháng Mười Một
năm 1894. Về nguyên tắc, Chính phủ ở Caracas sẽ bàn giao cho họ
một trường huấn nghệ, nhưng thực ra đây là chỉ là chuyện tưởng
tượng. Sự quản trị và kỷ luật trong trường vẫn nằm trong tay những
người dân thường đang hoạt động phụ thuộc trực tiếp vào chính phủ
vốn đã tràn ngập những kẻ chống giáo sĩ. Những người Salêdiêng
dần dần rút khỏi trường Caracas, và được Đức Tổng Giám mục giúp
đỡ, họ đi nơi khác để phát triển công việc tông đồ của họ.
Chúng ta sẽ ở lại Venezuela một lát. Một linh mục giáo phận
Venezuela, Victor Arocha, một con người có tinh thần Salêdiêng, đã
được Đức Tổng Giám mục Uzcategui phái đến Torino để xin cha Rua
362 Về những người Salêdiêng ở Venezuela, see Annali II, trang 513-524.
363 Xem lá thư của Crispolo Uzcategui gửi Cha Rua, ngày 26 tháng Năm, 1890,
FdR 3224 C2, và biên bản trả lời của Cha Rua en FdR 3224 C3-5.
364 Xem lá thư của thư ký Bộ này gửi Cha Rua, Rôma, ngày 28 tháng Tư, 1891,
FdR 3224 D2-3.

29.3 Page 283

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 283
gửi người Salêdiêng đến thành phố Valencia của mình. Ngài đợi ở
đó một năm và cuối cùng đã sẵn sàng trở lại vào tháng Mười Một
năm 1894 với một nhóm rất nhỏ: Giám đốc, Andrew Bergeretti
(1846–1909), một linh mục truyền giáo Salêdiêng đã khấn trọn ngày
23 tháng Chín trước đó, và hai tư giáo. Tại Valencia, họ mở một
trường tiểu học trong một ngôi nhà hiện có; vì không biết chút tiếng
Tây Ban Nha nào, họ phải mướn giáo viên người đời. Ít nhất đó là
bước khởi đầu. Số trẻ nam tăng lên, và họ buộc phải tìm đất đai ở
nơi khác. Họ mua một mảnh đất với một vài ngôi nhà cũ nhưng được
xây kiên cố. Đây là khởi đầu cho cái sẽ trở thành trường cao đẳng
Don Bosco tại Valencia. Năm 1897, Bộ trưởng lo việc dạy công lập
được ban nhạc của trường Salêdiêng chào đón tại nhà ga, và tất cả
các lớp học đều được thăm viếng chính thức. Qua năm tháng, trường
cao đẳng ấy được phát triển, với cả trường tiểu học và trung học,
theo tỷ lệ khi nhân sự Salêdiêng tăng trưởng. Các ngày lễ tôn giáo
được cử hành long trọng, thu hút rất nhiều người. Vào năm 1899,
khi có một đợt bùng phát bệnh đậu mùa nghiêm trọng trong thành
phố, Cha Bergeretti nổi bật vì đã tận tụy với người bệnh; do đó chính
phủ đã ban tặng cha một huân chương Danh dự và Tri ân. Trong khi
người Salêdiêng phải vật lộn với công việc để tự đứng trên đôi chân
của mình ở Caracas trong những ngày đầu ở Venezuela quả là đúng,
thì lại có một câu chuyện thành công bé nhỏ lộ ra tại Valencia ngay
từ đầu.
Người Salêdiêng đầu tiên đặt chân đến Bolivia là cha Lu-y
Costamagna (1866-1941), cháu của Đức Giám mục Giacôbê
Costamagna. Đất nước này nằm ở chính trung tâm của Nam Mỹ, bao
bọc bởi Braxin, Chile và Paraguay.365 Đức Giám mục tại La Paz, Đức
ông Borgue, đã viết thư cho cha Rua ngày 23 tháng Chín năm 1889,
xin ngài thương lắng nghe yêu cầu của Đức Cha muốn thành lập một
trường huấn nghệ trong thành phố của ngài, nhưng cha Rua không
thể cung cấp gì hơn là niềm hy vọng cho tương lai. Một động thái
nữa được thực hiện ngày 20 tháng Sáu năm 1891 khi Mariano
Baptista, vị Bộ trưởng có toàn quyền cho Bolivia ở Buenos Aires, đã
365 Về việc thành lập công cuộc ở Bolivia, xem Annali II, trang 525-534.

29.4 Page 284

▲torna in alto
284 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đưa ra một đề nghị ký kết với Chính phủ của ông để thành lập hai
trường cao đẳng huấn nghệ, một ở La Paz, một ở nơi chưa được
quyết định. Các điều kiện đưa ra không thể thuận lợi hơn.366 Cha Rua
đã đồng ý trên nguyên tắc, nhưng cần thời gian để biến nó thành
hiện thực. Trong khi đó, Baptista, người đã trở thành Tổng thống
Cộng hòa, đã cho Bộ trưởng Ngoại giao của mình ở Pháp, Manuel
de Argandoña, toàn quyền đề ra các điều khoản trong bản hợp đồng
với cha Rua. Mãi cho đến ngày 8 tháng Mười năm 1895 văn bản này
cuối cùng mới được ký, trong đó đưa ra những dàn xếp tài chính vô
cùng thuận lợi. Nó ghi như sau:
1. Linh mục đáng kính cha Micae Rua cam kết cử một nhóm ít nhất
mười người Salêdiêng sẵn sàng làm việc tại Bolivia không trễ hơn
tháng Mười Một năm nay 1895.
2. Bề trên được chỉ định cho Bolivia, phối hợp với đại diện chính
phủ, sẽ có và bảo đảm giao tất cả các vật liệu và thiết bị cần thiết
cho hai cơ sở mới đã được đề xuất.
3. Chính phủ Bolivia sẽ chi trả phí đi lại cho tất cả các nhân viên
được trù định cho trường cao đẳng ở Bolivia trong mười năm
đầu, bao gồm bất kỳ chuyến đi nào được coi là cần thiết vì lợi
ích của một trong hai trường.
4. Chính phủ Bolivia sẽ bàn giao cho một linh mục hoặc các linh
mục được Tu hội Thánh Phanxicô Salê chỉ định một tòa nhà hoặc
các tòa nhà và tất cả các tài sản liền kề được chính phủ ấn định
cho việc thành lập các trường cao đẳng huấn nghệ, cùng với tất
cả đồ nội thất, máy móc và thiết bị sẽ được mua ở châu Âu.
5. Chính phủ sẽ cung cấp cho bề trên được chọn cho Bolivia, hoặc
cho linh mục được ngài chỉ định, tổng số tiền cần thiết để trang
trải chi phí ban đầu của việc thiết lập một trường cao đẳng.
6. Tu hội Salêdiêng và các nhà của Tu hội sẽ được miễn bất kỳ giá
hoặc thuế nhập khẩu và các loại thuế tài chính khác, và sẽ được
hưởng các quyền miễn trừ và đặc quyền tương tự được cấp cho
366 Văn bản trong FdR 3267 A4-7.

29.5 Page 285

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 285
các Hiệp hội Tôn giáo khác.
7. Nếu, vì những lý do không lường trước được, người Salêdiêng
rời khỏi các cơ sở này, họ sẽ giao chúng lại cho chính phủ trong
tình trạng như khi thành lập và sẽ thông báo trước về việc họ rời
đi một năm trước đó.
8. Nếu chính phủ quyết định phá bỏ hợp đồng này, họ phải thông
báo với vị bề trên trước bốn năm và hoàn trả mọi chi phí phát
sinh trong việc chuyển giao nhân sự.
9. Học sinh ngoại trú sẽ được nhận miễn phí, và để dạy học, chính
phủ sẽ lập khoản trợ cấp hàng tháng cho mỗi cơ sở, hoặc sẽ
đồng ý trả một tiền thù lao cho mỗi người Salêdiêng hoặc nhân
viên do người Salêdiêng thuê.
10. Học sinh nội trú sẽ trả một khoản phí duy trì do chính phủ và
cấp trên của mỗi cơ sở thỏa thuận với nhau.
11. Quản lý tổng thể và quản lý nội bộ, cũng như chính sách kỷ
luật sẽ phụ thuộc hoàn toàn và độc quyền vào Tu hội
Salêdiêng.367
Khi ký hợp đồng này, cha Rua đã chặn trước bất kỳ sự lặp lại nào
của những thất bại ở Caracas, nơi họ thấy mình hoàn toàn phụ thuộc
vào quản trị của người đời. Trên thực tế, nhân sự cho truyền giáo
Bolivia đã được bổ nhiệm ngay cả trước khi ký kết. Sẽ có mười bốn
người trong số họ, bảy người trong số đó sẽ đến La Paz. Họ đến
Buenos Aires ngày 23 tháng Mười Một sau đó, nhưng do một loạt
những hiểu lầm và rắc rối trong khi đi qua Chilê, bằng tàu hỏa,
thuyền và một loại xe ngựa kéo, họ đã không đến nơi được – trước
tiên là La Paz, sau đó là Sucre - cho đến tận tháng Hai năm 1896.
Hiển nhiên họ được chào đón nồng nhiệt.368
Các cuộc đàm phán giữa Toà Thánh và Don Bosco lẽ ra đã dẫn tới
việc những người Salêdiêng đến Paraguay từ năm 1879. Đó là một
367 Ấn bản trong Annali II, trang 527-528.
368 Về cơ sở thành lập của Salêdiêng ở La Paz, 12G xem các thư của Lu-y
Costamagna gửi Cha Rua năm 1896, FdR 3267 B10-E1.

29.6 Page 286

▲torna in alto
286 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đất nước liên tục bị những cuộc cách mạng gây bất ổn, ảnh hưởng
đến chính các giáo sĩ trong giáo phận duy nhất Asuncion.369 Lúc ấy,
những người Salêdiêng từ Buenos Aires đã chuẩn bị đến đó, nhưng
tình trạng bất ổn về chính trị đã ngăn cản họ. Ủy viên Tông tòa sau
đó quay sang các tu sĩ Vinh sơn, người sẵn sàng chấp nhận một sứ
vụ đầy thử thách như vậy.
Mười ba năm sau, chúng ta tìm thấy người Salêdiêng Angelo Savio
ở Paraguay, trong một cuộc hành trình khám phá ở khu vực rộng lớn
Gran Chaco.370 Từ khi đến thủ đô Asuncion, cha Savio gửi các báo
cáo dài dòng cho cha Rua về những phát hiện của cha trong một khu
vực trước đây được các tu sĩ Dòng Tên truyền giáo ("Bản thu nhỏ của
Paraguay"). Cha vẽ ra một bức tranh đáng buồn. “Có thể nhìn thấy
hàng ngàn người man rợ sống dọc theo bờ sông. Còn có thể có bao
nhiêu người nữa trong đất liền? Một trăm, hai trăm, ba trăm ngàn?
Có rất nhiều bộ lạc, và một số dường như đã giữ lại những ký ức xa
xôi về các việc truyền giáo trước đó. Nhưng ấn tượng tôi có ngay bây
giờ là họ đã quay trở lại tình trạng hoang dã, vì họ không có linh
mục để dạy họ tôn giáo, đó là nguồn gốc duy nhất của nền văn
minh. Trong quá khứ chính phủ dốt nát đã săn lùng các linh mục,
giết các Giám mục và nghĩ rằng họ có thể cai trị mà không có Thiên
Chúa.” Cha nói thêm rằng chính phủ quân sự hiện tại đã thực sự trả
cho ngài vé khứ hồi và bày tỏ mong muốn thấy một linh mục trở lại
ở giữa họ, mặc dù ngài tin rằng đó là từ động cơ chính trị.371 Ông
cũng chia sẻ những suy nghĩ của mình với người quản trị giáo phận,
cùng ngày hôm đó người này đã viết cho Đức Hồng y Bộ trưởng của
Bộ Truyền bá Đức tin, trong một nỗ lực xin người Salêdiêng gửi một
đoàn truyền giáo tới Gran Chaco.372 Chắc chắn, theo lời chỉ dạy của
Đức Lê-ô XIII, Đức Hồng y Rampolla đã khơi gợi cha Rua quan tâm
369 Về việc người Salêdiêng đến nước cộng hòa Paraguay, xem E. Ceria, Annali II,
trang 535-548.
370 Thư của A. Savio gửi Cha Rua, từ Chaco, ngày 8 tháng Bảy, 1892; FdR 3812
E11 at 3813 A2.
371 A. Savio gửi Cha Rua, Asuncion, ngày 24 tháng Bảy, 1892; FdR 3813 A11-12.
372 Xem Ceria, Annali II, trang 539.

29.7 Page 287

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 287
tới ý tưởng này,373 nhưng nó sẽ chỉ thành hiện thực sau khi nhiệm
kỳ của ngài kết thúc.
Người Salêdiêng dũng cảm, Lu-y Lasagna (1850-1895), thụ
phong Giám mục của Tripoli vào năm 1893, là người kế tiếp xuất
hiện. Ngài đến thăm Chaco và chính ngài thấy người Da Đỏ, và ngài
cảm thấy rằng ở một đất nước như thế này, bị tàn phá bởi chiến
tranh, nhu cầu cấp thiết nhất là việc đào tạo thanh niên ở các thị trấn
và thành thị. Ngày 19 tháng Năm năm 1894, ngài thúc giục cha Rua
mở một trường nội trú ở thủ đô cho những trẻ nghèo.374 Ý tưởng
này được các vị lãnh đạo chính trị hỗ trợ, và năm sau, ngày 19 tháng
Tám, chính phủ Paraguay thậm chí còn thông qua một đạo luật theo
đó bàn giao cho Giám mục Lasagna, như vị Bề trên Salêdiêng, quyền
sở hữu một ngôi nhà cũ nhưng được xây dựng kiên cố ở Asuncion
với khu đất gần kề. Mục đích là để thành lập một trường huấn nghệ
với sức chứa hàng trăm em nội trú mà người Salêdiêng sẽ có toàn bộ
trách nhiệm. Nhờ tình bạn thân thiết của ngài với Tổng thống
Paraguay vốn là một con người hành động, Giám mục Lasagna đã
có thể phục hồi mối quan hệ tốt đẹp giữa Paraguay và Tòa Thánh
vốn bị tuyệt giao sau vụ ám sát Giám mục hợp pháp của Asuncion,
rồi vụ ám sát của kẻ cướp quyền. Đáng buồn thay, cái chết bất ngờ
của vị Giám mục nổi tiếng này tại Juiz de Fora (Braxin) ngày 6 tháng
Mười Một năm 1895 đã trì hoãn sự hiện diện tình cờ của người
Salêdiêng tại thủ đô. Tuy nhiên, Lãnh sự Paraguay tại Montevideo,
Matia Alfonso Criado, hành động theo lời khuyên của Giám mục
Costamagna, đã viết cho cha Rua vào ngày 25 tháng Mười Một xin
ngài tôn trọng những sắp đặt của Giám mục Lasagna. Ông ta viết:
"Nước Cộng hòa đáng buồn của tôi đã chịu đựng rất nhiều do cái
chết gây sốc của Giám mục Lasagna, khiến chúng tôi than khóc buồn
sầu. Chỉ mình ngài, vị Bề Trên Cả xứng đáng nhất của người
Salêdiêng, mới ở trong vị thế làm giảm nhẹ được hậu quả của một
đại họa như vậy.”375 Trong khi đó, trở lại Asuncion, các chính trị gia
373 Rampolla gửi Cha Rua, Rôma, ngày 14 tháng 12, 1892; FdR 3800 A11-12.
374 Lasagna gửi Cha Rua, Asuncion, ngày 19 tháng Năm, 1894; FdR 3755 E5 at
3756 A4.
375 Từ Annali II, trang 542.

29.8 Page 288

▲torna in alto
288 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ủng hộ người Salêdiêng đã thành công trong việc xóa bỏ một điều
khoản áp bức khỏi luật vốn được thông qua ngày 19 tháng Tám năm
1895.
Những người truyền giáo Salêdiêng đầu tiên đến Paraguay lên
đường đi Asuncion từ Montevideo (Uruguay) ngày 14 tháng Bảy năm
1896. Họ có bốn người, tất cả từ Tỉnh dòng Uruguay: Giám đốc, cha
Ambrosiô Turriccia, một linh mục khác, một tư giáo và một sư huynh,
đi cùng là cha Giám tỉnh Giuse Gamba.
Họ thực hiện cuộc hành trình bằng thuyền, trước hết là đến
Buenos Aires, tiếp đó đến thủ đô đi theo các con sông Parana và
Paraguay. Ngày 23, họ lên bờ tại Asuncion, tự giới thiệu mình với
các nhà chức trách tôn giáo và dân sự và thấy rằng họ đã được chỉ
định một tòa nhà được các tu sĩ Dòng Tên dựng lên một thời gian
trước đây. Cùng ngày hôm đó cha Turriccia đã quyết định viết cho
cha Rua: “Thiên Chúa đã ban cho chúng tôi, những người đến trễ
trong khu vườn nho của Chúa, có thể làm chỉ được một phần ngàn
của vô số những điều tốt lành mà những con cái lừng lẫy của Thánh
Ignatio Loyola đã thực hiện. Thậm chí ngày hôm nay, rất lâu sau khi
họ bị trục xuất, cha vẫn có thể nhìn thấy đức tin vĩ đại mà họ có thể
truyền giao cho những dân tộc này.”376 Tại Asuncion, như thường lệ,
người Salêdiêng bắt đầu công việc của họ vào tháng Mười bằng cách
mở một Nguyện xá Chúa nhật cho bất kỳ thiếu niên nào muốn tham
dự, sau đó một trường nội trú huấn nghệ cho ba mươi trẻ mồ côi,
được đặt tên là 'trường cao đẳng Monseñor Lasagna.
Năm 1895, Đức Ông Vecchiaotti người Ý, Tổng Đại diện của giáo
phận duy nhất tại nước cộng hòa El Salvador, đã khiến cha Rua chú ý
đến nhu cầu của đất nước này.377 Một ủy ban Công giáo đã mời ngài
tham gia đàm phán với Torino về việc cử người Salêdiêng đến đó.378
Cha Rua nói với Đức ông rằng không thể làm gì được trước năm
1898, nhưng người Salvador đã cầu viện Rôma. Hãy tưởng tượng sự
376 Trích trong Annali II, trang 543.
377 Về việc người Salêdiêng đến El Salvador, see Annali II, trang 578-587.
378 Thư của M. Vecchiotti gửi Cha Rua, San Salvador, ngày 25 tháng Giêng, 1895,
trong Annali II, trang 579.

29.9 Page 289

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 289
ngạc nhiên của ngài một vài tháng sau khi nhận được một lá thư từ
Đức Hồng y Rampolla, thư viết: “Chủ tịch nước Cộng hòa San
Salvador gần đây đã thông tri cho Đức Thánh Cha về những nỗ lực
của mình để cung cấp giáo dục giới trẻ. Ông tỏ ra rất tin tưởng vào
công cuộc của những người Salêdiêng; ông mong sao thấy họ được
thiết lập vững chắc trên quê hương mình. Ông ta ước muốn mãnh
liệt rằng cha phải sẵn sàng cử một số linh mục của cha đến đó càng
sớm càng tốt, thay vì đợi cho đến năm 1898 như cha đã hứa. Tuy
nhiên, để đáp lại mong ước đáng khen của Tổng thống của Nước
Cộng hòa ấy, Đức Thánh Cha cảm thấy việc này chỉ đúng đắn khi đặt
nó vào tay cha, để với lòng nhiệt thành và sự thận trọng cố hữu của
cha, cha có thể thực hiện bất kỳ biện pháp nào xem ra phù hợp nhất
hầu mang lại một giải pháp tốt đẹp.”379
Cha Rua nhượng bộ, hứa sẽ làm tất cả mọi thứ có thể và nói rằng
ngài sẽ chờ Tổng thống El Salvador làm sáng tỏ mọi việc. Tuy nhiên,
không chỉ là lá thư của Tổng thống mà có một thông điệp khác từ
Bộ trưởng Ngoại giao. Bộ trưởng tài chính từ El Salvador đã đến
Rôma, với sự giới thiệu của cả Tổng thống và Giám mục, được ủy
nhiệm để làm bất cứ điều gì cần thiết để thành lập một trường học
và nó sẽ được giao phó cho người Salêdiêng. Bộ trưởng đến Torino
với một lá thư từ Đức Hồng y Rampolla thúc giục mọi thứ phải được
thực hiện "theo mong muốn của tất cả mọi người có liên quan và vì
lợi ích của những người trẻ tuổi ở nước Cộng hòa xa xôi đó."380
Cha Rua yêu cầu một người ủng hộ hăng hái của người Salêdiêng,
Tổng Đại diện Vecchiotti, để nói chuyện với cha Angelo Piccono,
Giám đốc ở Mexico, nhằm điều chỉnh một bản hợp đồng với chính
phủ để thành lập một trường huấn nghệ và nông nghiệp ở El
Salvador. Dự án của Piccono, sau khi được cha Rua khảo sát kỹ lưỡng,
đã chính thức được chính phủ chấp nhận ngày 28 tháng Tư năm
1897. Cuối cùng, người Salêdiêng đã đến vào ngày 3 tháng Mười
Hai, do cha Lu-y Calcagno dẫn đầu, ngài vẫn là Giám tỉnh chính thức
379 Vatican, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 22 tháng Sáu, 1895; xem Annali II,
trang 579.
380 Vatican, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 23 tháng Tám, 1895; Annali II, Ibidem.

29.10 Page 290

▲torna in alto
290 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ở Ecuador dù bị những nhà cách mạng trục xuất. Hai linh mục, ba
tư giáo và ba sư huynh tạo thành nhóm. Đức Giám mục đã chăm sóc
họ chu đáo, và người Salêdiêng sớm giành được kính trọng của người
dân địa phương, thu hút nhiều Cộng Tác viên. Tổng thống Guttierez
ngưỡng mộ họ bằng một chuyến viếng thăm.381
Mặc dù vậy, cha Calcagno rất thận trọng. Ngày 17 tháng Giêng
năm 1898, ngài viết thư cho cha Rua: “Từng trải với những trường
hợp nhà cửa do chính phủ nắm giữ đưa đến kết cục ra sao, chúng ta
phải được chuẩn bị tinh thần cho ngôi nhà mà chúng ta hiện đang ở
sẽ có cùng số phận như những cái còn lại. Tình hình rất bấp bênh.”
Vào tháng Hai ngài nhắc lại vấn đề: chúng ta phải có những ngôi
nhà không bị xiềng xích chính trị.382 Thật vậy, một cơ hội xuất hiện
ở thị trấn nhỏ Tecla, không xa thủ đô. Cha Piccono đã giới thiệu cho
cha Rua một bác sĩ giàu có từ thị trấn, một Manuel Gallardo nào đó,
một người Công giáo xuất sắc và một người đàn ông có trái tim vàng.
Cha Rua đã gửi cho ông này giấy chứng nhận thành viên Cộng Tác
viên. Trong thư cảm ơn, Gallardo viết: “Con đang làm hết sức mình
để xứng đáng với danh dự lớn lao mà Cha đã tỏ cho con. Ghi nhớ
điều này, con đang cho xây một tòa nhà để cung cấp chỗ ở cho trẻ
em mồ côi. Nó sẽ sẵn sàng trong vòng ít ngày; con hy vọng sẽ giao
phó việc giáo dục các em cho những người Salêdiêng. Con sẽ coi đó
là một vinh dự lớn nếu Cha chấp nhận.”383 Cha Calcagno đã hỗ trợ
hết mình: ngài nghĩ, ít nhất trong ngôi nhà này người Salêdiêng sẽ
hoàn toàn tự do làm mọi thứ theo cách của họ.
Bác sĩ đã thất vọng khi phản ứng đầu tiên của cha Rua là yêu cầu
ông đợi đến năm 1901. Nhưng Chúa Quan phòng đã đứng về phía
ông. Có sự thay đổi trong chính phủ, và vào đầu năm 1899, các vấn
đề bắt đầu nảy sinh với những người Salêdiêng ở thủ đô: không
thanh toán các khoản phụ cấp, và làm ngơ đối với bất kỳ khiếu nại
381 Annali II, trang 583-584.
382 Gallardo-Rua, Santa Tecla, ngày 15 tháng 2, 1898; Annali II, trang 584.
383 Thư của Angelo Piccono gửi Cha Rua, S. Francisco, ngày 2 tháng Bảy, 1896,
FdR 3788 E4-7.

30 Pages 291-300

▲torna in alto

30.1 Page 291

▲torna in alto
Tu Hội Salêdiêng Phát Triển ở Châu Mỹ | 291
nào. Vào cuối tháng Giêng, một nhóm người Salêdiêng do cha
Calcagno dẫn đầu, đã đến được Santa Tecla, nơi đây có một ngôi
nhà nhỏ bé nhưng hoàn toàn phù hợp đã sẵn sàng cho họ. Những
người khác chờ đợi sự phát triển, và đã đến rất nhanh và dồn dập
đến nỗi vào năm 1900 họ đến nhập đoàn với các hội viên. Kết quả
là, một trường cao đẳng Salêdiêng đích thực, với học sinh và người
thợ đã khởi sự ở Santa Tecla dưới sự bảo trợ của Thánh Cecilia, được
đặt theo tên theo người vợ quá cố của bác sĩ.
Với cơ sở mới ở El Salvador, người Salêdiêng đã đặt chân đến bảy
quốc gia mới ở châu Mỹ Latinh trong suốt mười năm đầu tiên cha
Rua nắm chức vụ. Kinh nghiệm đã dạy tất cả Salêdiêng, cách riêng
cha Rua là người chịu trách nhiệm sau cùng, cần phải thận trọng khi
ký hợp đồng với chính phủ của những quốc gia này. Đối với những
gì còn lại, họ sẽ phải liên tục lèo lái cách tốt nhất có thể được theo
nhịp của nền chính trị thay đổi như gió trong một lục địa mãi mãi
không thể dự đoán trước.
Hoa Kỳ
Trong cùng khoảng thời gian này, người Salêdiêng đến phía bắc
lục địa châu Mỹ. Số đông người Ý nhập cư giờ đã định cư tại Hoa
Kỳ, đặc biệt là ở bờ biển phía tây. Năm 1896, cha Angelo Piccono
đến từ nước láng giềng Mexico, nơi trước kia ngài đã được bổ nhiệm;
ngài tiến tới San Francisco. Ngày 2 tháng Bảy, Đức Tổng Giám mục
Patrick Riordan đã gọi ngài: “Ngoài giáo xứ Thánh Phêrô và Phaolô
của người Ý trong thành phố, ngài đã tặng cho người Salêdiêng một
cánh đồng rộng lớn và màu mỡ nơi họ có thể bắt đầu khi họ thấy
phù hợp.” Các cuộc đàm phán với Torino được tiến hành ngay lập
tức.
Ngày 23 tháng Mười Một năm đó, Đức Tổng Giám mục tuyên bố
chấp nhận một bản ký hợp đồng do cha Rua đề xuất như sau:
“1. Đức Tổng Giám mục Riordan a) sẽ giao phó cho người
Salêdiêng giáo xứ Ý ở San Francisco, b) sẽ cung cấp chi phí đi lại và
chi phí ban đầu cho bốn người Salêdiêng sẽ rời Torino đi San
Franciscisco vào tháng Mười Hai năm 1896. - 2. Cha Micae Rua a) sẽ
gửi một nhóm đầu tiên gồm hai linh mục, một tư giáo và một sư

30.2 Page 292

▲torna in alto
292 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
huynh để phụ trách giáo xứ nói trên và khi hoàn cảnh cho phép, mở
một 'Nguyện xá ngày lễ', bắt đầu các lớp học ngày và buổi tối, và
cuối cùng thành lập một trường huấn nghệ để phục vụ các nhu cầu
cách riêng của những người trẻ nghèo và bị bỏ rơi; b) buộc người
Salêdiêng hạn chế công việc của họ vào khu vực dân cư người Ý ở
San Francisco.”384
Đức Tổng Giám mục hăm hở ngăn chặn bất kỳ sự phản đối nào từ
hàng giáo sĩ địa phương. Theo đó, vào đầu năm 1897, người
Salêdiêng đã sở hữu giáo xứ Ý ở San Francisco; sau đó vào năm 1898,
một giáo xứ thứ hai được giao phó cho họ trong một khu khác của
thành phố, tiếp theo là một giáo xứ khác cho những người nhập cư
Bồ Đào Nha. Cũng trong năm đó, ở bờ biển phía Đông, tại New
York, nơi có khoảng bốn trăm ngàn người Ý sống, những người
Salêdiêng nhận giáo xứ Thánh Brigitta, trong khi từ Torino cha Rua
chúc lành cho toàn bộ bước tiến tông đồ này. Đó là những bước khởi
đầu của việc mở rộng của người Salêdiêng ở đất nước vĩ đại này.
384 Từ bài báo của A. Lenti, «Việc Thành lập và Mở rộng Ban đầu của Công trình
Salêdiêng ở Khu vực San Francisco từ Tài liệu Lưu trữ », Báo Những Nghiên cứu của
người Salêdiêng, 7, mùa thu năm 1996, trang 18.

30.3 Page 293

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 293
21
Algeria VÀ Ba Lan
Suốt thập niên 1890, cha Rua giới thiệu công cuộc Salêdiêng tới
hai quốc gia mới: Algeria và Ba Lan. Việc thành lập ở Algeria không
tạo ra nhiều sóng gió. Trái lại, ở Ba Lan mọi chuyện rắc rối hơn nhiều.
Những người Salêdiêng ở Algeria
Năm 1883 ở Paris Don Bosco đã hứa với Đức Hồng y Charles-
Martial Lavigerie (1825-1892), Tổng Giám mục Carthage ở Tunisia,
là sẽ gửi người Salêdiêng tới châu Phi.385 Hôm đó là ngày 21 tháng
Năm; cả hai người đều ở nhà thờ Saint-Pierre du Gros-Caillou tại
Paris. Từ bục giảng Đức Hồng y đã yêu cầu những người Salêdiêng
và Don Bosco trả lời: "Thưa Đức Cha, con ở trong tay cha để làm bất
cứ điều gì mà Chúa Quan phòng yêu cầu con ở châu Phi. Vâng, vâng,
cha hãy tin chắc rằng nếu chúng con có thể làm điều gì đó ở châu
Phi, con và toàn thể Gia đình Salêdiêng sẽ thuộc quyền Đức Cha sử
dụng. Con sẽ gửi con cái ở Ý và Pháp tới đó".386 Sau đó Đức Hồng y
đã chờ người Salêdiêng ở Tunisia trong vài năm. Vào năm 1891, do
phép lịch sự, cha Rua thông báo cho ngài, về một cơ sở mới sắp có
mặt ở Oran. Đức Hồng y trả lời vào ngày 2 tháng Bảy với giọng hơi
khó chịu:
Cha rất đáng kính,
Tôi đã nhận được thư của cha ở Carthage ngày 16 tháng Sáu,
cùng với thư của cha Bellamy. Tôi phải thú nhận, tôi rất ngạc
nhiên khi biết rằng hai vị thánh (dù chưa được phong thánh)
385 Về nguồn gốc của sứ vụ Salêdiêng ở Oran, x. Oran Dossier, 1890-1892, in FdR
3517A11-3518A6. Cũng xem bài tường thuật trong Annali II, 306-312.
386 Theo Don Bosco à Paris, par un ancien magistrat, Paris, 1883, 108-111.

30.4 Page 294

▲torna in alto
294 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
như Don Bosco và cha Rua, đã không giữ lời hứa công khai với
tôi trong việc lập một nhà ở Tunisia; cha rất đáng kính nay lại
bình tĩnh và lặng lẽ cho tôi biết về việc mở một công cuộc tại
giáo phận Oran. Chắc chắn tôi có thể tha thứ cho sự xúc phạm,
và tôi phải làm, vì Chúa đã truyền lệnh và nêu gương cho chúng
ta; nhưng để cảm ơn và chúc mừng những người đứng sau việc
này thì vượt quá nhân đức của tôi, vốn hẳn nhiên là rất mỏng
dòn. Vì vậy, tôi có đôi lời hạn hẹp lưu ý rằng tôi đã nhận được
thư của cha gửi vào tháng trước và tôi bảo đảm với cha rằng
tôi là người tôi tớ hèn mọn và vâng phục,nhưng không tuyệt
vọng của cha,
Charles Hồng y Lavigerie.387
Người đứng chủ yếu đằng sau mưu mẹo này là Đức Giám mục
Oran, Géraud-Marie Soubrier (1826-1899). Tháng Mười năm 1889,
ngài đã yêu cầu vị Tổng Đại diện của mình gặp cha Giám tỉnh Phaolô
Albera, ở Marseilles. Việc chăm sóc giới trẻ ở Oran thật khẩn cấp.
Thành phố này có gần bảy mươi ngàn cư dân thuộc nhiều quốc tịch
khác nhau, đặc biệt là Tây Ban Nha. Rất đông thanh niên lang thang
trên đường phố, mà không có chút khái niệm giáo lý nào; mà nếu
như thế thì họ không được rước lễ lần đầu.388 Cha Rua nói với Đức
Giám mục là ngài chấp nhận đề nghị này, nhưng ngài đang chờ thêm
chi tiết. Chi tiết đã có. Cha Rua không trả lời ngay. Vì vậy, ngày 31
tháng Tám năm 1890, Đức Giám mục Soubrier viết: “Cha Albera
đáng kính, trong một lá thư gửi đến tôi ngày hôm qua, cha Rua nói
rằng ngài rất ngạc nhiên khi cha chưa viết cho tôi. Biết rằng cha rất
bận rộn, tôi không ngạc nhiên và tôi cũng yêu cầu điều mà các môn
đệ của Thánh Gioan Tẩy giả đặt ra với Thầy Chí Thánh: Thầy có phải
là Đấng sẽ đến hay chúng tôi phải trông đợi ai khác? [u es qui venturus
es, an alium expectamus?] Thực sự tôi tin cha có ý định đáp lại lời cầu
khẩn của tôi, nhưng cho phép tôi nói với cha lời cầu nguyện của
387 FdR 3758C9-10
388 Thư của Cha Albera gửi M. Rua, Marseilles, ngày 22 tháng Mười, 1889, trong
FdR 3676B2-4.

30.5 Page 295

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 295
người Macedonia với Thánh Phaolô: Hãy đến Macedonia giúp chúng
tôi [Transiens ad citivatem episcopalem nostram adiuva nos.]".389
Cha Rua thận trọng nói với Đức Giám mục rằng ngài sẽ cử hai linh
mục đến thăm những ngôi nhà mà giám mục muốn cho những người
Salêdiêng. Thực vậy, cha Celestine Durando và cha Charles Bellamy,
khi ấy làm tập sư ở Marseilles, đến Oran vào tháng Mười Hai năm
1890. Khi trở về, cha Durando đã giải thích cho cha Rua và Tu Nghị
Bề trên rằng Đức Giám mục sẽ cho những người Salêdiêng hai căn
nhà vốn thuộc về ngài, một ở trung tâm thành phố, cái kia trên đỉnh
Eckmühl. Căn nhà thứ nhất là một tòa án cũ bên cạnh một tòa nhà
được gọi là "Trường dạy hát nhà thờ chính tòa", với một hội trường
rộng có thể biến thành một nhà nguyện. Theo Đức Giám Mục, căn
nhà này, có thể tổ chức Nguyện xá ngày lễ, trường của nhà thờ Chính
tòa (có nghĩa là các người giúp lễ mà Giám mục coi như vườn ươm
ơn gọi linh mục) và các lớp học ban ngày. Đức Giám mục dự định
mướn người tu sửa, dự chi cho nó mười hai ngàn franc. Còn nhà kia
có thể dùng làm trường nội trú. Hai Cộng Tác viên, các Nữ tu, đã sẵn
sàng cho người Salêdiêng một mảnh đất liền kề để phát triển công
cuộc thứ hai này.
Thỏa thuận giữa Torino và Oran nhanh chóng kết thúc. Thỏa thuận
đã được cha Rua ký tại Torino ngày 2 tháng Hai năm 1891, Lễ Dâng
Chúa vào Đền Thánh, và được Đức Giám mục Géraud Soubrier ký tại
Oran ngày 12 tháng Tư, Chúa nhật Chúa Chiên Lành.390 Có mười điều
khoản. Phần giới thiệu bày tỏ ý định của hai bên và nói về cha Rua
mong muốn bám sát lời hứa của Don Bosco với Đức Hồng y Lavigerie
vào năm 1883: "Đức Giám mục Soubrier muốn cung cấp nền giáo
dục Kitô giáo cho giới trẻ ở thành phố Oran, đặc biệt là người nghèo
và bị bỏ rơi; ngài đã đề xuất với cha Rua mở trong thành phố này
những công cuộc lấy cảm hứng từ tinh thần và Quy luật của Tu hội
được Don Bosco thành lập. Cha Rua chấp nhận lời đề nghị với lòng
tri ân, và vui sướng có thể thực hiện mong muốn của Don Bosco gửi
389 FdR 3517B8-10.
390 FdR 3517E5-7.

30.6 Page 296

▲torna in alto
296 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
những người con của mình đi vào các khu vực châu Phi để cứu các
linh hồn".
Người Salêdiêng sẽ thực hiện dự án trong các điều khoản được
thiết lập trong thỏa thuận này. Như điều khoản đầu tiên vạch ra,
tháng Mười năm 1891, cha Rua đã gửi các nhân viên cần thiết tới
Oran để bắt đầu công cuộc, ít nhất sáu người Salêdiêng, bao gồm cả
các linh mục, tư giáo và sư huynh. Họ bắt đầu điều hành Trường
Công giáo Thánh Lu-y, mở thêm các lớp học chính và một Nguyện
xá (điều khoản 2). Vào tháng Mười năm 1892, các khóa học tiếng
Latinh bắt đầu (điều khoản 3). Các lớp học không miễn phí (điều
khoản 4). Bên cạnh đó, "Vì mục đích chính của Hội đạo đức Salêdiêng
Don Bosco là chăm sóc giới trẻ nghèo và bị bỏ rơi, các bề trên dự
định mở một phần nội trú hoặc viện mồ côi, một khi Chúa Quan
phòng cung cấp các nguồn lực cần thiết" (điều khoản 7). Khi xem xét
cơ sở này, Đức Giám mục Soubrier cho người Salêdiêng căn nhà và
mảnh đất mà ngài sở hữu gần nhà thờ giáo xứ Oran-Eckmühl (điều
khoản 8). Các điều khoản khác liên quan đến các vấn đề tài chính,
mà cha Rua luôn quan tâm, cũng như Đức Giám mục Soubrier, để
làm rõ và có thể sửa đổi các chi tiết: chi phí sửa lại tòa án cũ cho
thích hợp, chi phí đi lại và khung cảnh (sống) cho các Tu sĩ, lương
giáo viên.
Charles Bellamy (1852-1911), một người Salêdiêng nước Pháp,
xuất thân từ Chartres, được cha Rua giao vai trò Giám đốc-người sáng
lập công cuộc đó. Đức Giám mục mến cha trong chuyến thăm khám
phá của ngài. Vị Giám mục đã viết cho cha Rua ngày 4 tháng Giêng
năm 1891: "Tôi hy vọng những người Salêdiêng sẽ hoàn thành công
việc tuyệt vời ở Oran. Tôi thấy dường như cha Bellamy được ban
nhiều đức tính."
Cơ sở Oran năm 1891
Bảy thành viên của đoàn viễn chinh truyền giáo Oran, cha
Bellamy, một linh mục, hai tư giáo, một sư huynh làm thợ mộc chính
và hai sư huynh trẻ làm việc trong vườn nho, tham dự lễ chia tay
truyền thống dành cho những người truyền giáo trong nhà thờ Đức
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu ở Torino ngày 16 tháng Tám. Cyprien

30.7 Page 297

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 297
Beissière, một người trong nhóm, nói rằng cha Rua đã quy tụ họ lại
vào buổi sáng trong nhà nguyện cũ trong phòng của Don Bosco để
trò chuyện với họ. Ngài nói: "Cha phái anh em đi như thiên thần vào
giữa sói".391 Thực tế có nhiều phiền toái hành chính, quá phức tạp
không thể mô tả ở đây. Hai người đến Marseilles và Saint Léon
Oratory từ Torino. Ở đó cha Giám tỉnh Albera, đã trịnh trọng tiễn họ
lên đường. Bài phát biểu đầy cảm động của ngài, như thường lệ,
khai triển một chủ đề Kinh Thánh: "Đẹp thay bước chân những người
đi công bố Tin mừng bình an"!" Dân chúng rất xúc động. “Những trở
ngại, thử thách và đau khổ của những nhà truyền giáo, máu có lẽ sẽ
nhuộm triều thiên của họ, không bao giờ bị lãng quên". Tôi đặc biệt
chào đón ba người Salêdiêng của nhóm người đã từng là "chàng trai
từ Saint-Léon". Theo mục tin tức trong Tập san Salêdiêng: "chúng tôi
nhắc mọi người rằng người đứng đầu đoàn truyền giáo [Charles
Bellamy] đã là một nhà hảo tâm thân thiết của công cuộc Don Bosco,
và luôn là một người con xứng đáng".
Ngày 22 tháng Tám, bảy người ra đi trên chiếc tàu hơi nước La
Città di Roma thẳng đến Oran. Ngày 24 họ đến nơi. Họ không gặp
bất kỳ đại diện dân sự hay giáo hội nào: tất cả đều đang nghỉ lễ ở
châu Âu. Được cha Bellamy dẫn đầu, vốn biết phải đi đâu, những
người Salêdiêng liền đi tới Nhà thờ Đức Bà để chào Chúa và gặp gỡ
các nhân viên giáo phận: Tổng thư ký của Đức Giám mục và những
người đại diện của nhà thờ Chính tòa; các ngài đã cố hết sức chăm
sóc những người Salêdiêng. Sau đó họ đi tìm đường Ménerville để
kiểm tra tình trạng của tòa án cũ: họ thấy nó trong một điều kiện
thảm thương. Nhưng họ đã can đảm và tràn đầy tinh thần hy sinh,
như chúng ta thấy trong một bức thư của Bellamy gửi cho cha Rua
ngày 26 tháng Tám.392 Họ xắn tay áo lên và thích nghi với hoàn
cảnh. Khi từ Pháp trở về, Đức Giám mục cảm thấy có lỗi với họ, đã
đưa ra một đề nghị hào phóng. Ngày 5 tháng Mười, các lớp học bắt
đầu (tiểu học và trung học cơ sở), không phải trong tòa án cũ, vẫn
391 C. Beissière, Cinquante ans d'apostolat en Afrique du Nord, Tunis, 1941, 21.
392 Cf. «Les Salésiens en Afrique», in Bulletin Salésien, tháng Mười Một, 1891, trg.
179-181, khi thư của Cha Bellamy được in lại.

30.8 Page 298

▲torna in alto
298 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đang được tu sửa, nhưng trong trường giáo xứ mà Đức Giám mục
Soubrier đã làm sẵn để dùng. Họ muốn mở Nguyện xá ngày 1 tháng
Mười Một, nhưng chỉ thành công vào ngày 15 tháng Mười Hai (ngày
giáo phận mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm), với sự hiện diện của Đức Giám
mục Soubrier, người làm phép ngôi nhà nguyện trong tòa án cũ.
Ngày hôm đó kết thúc bằng buổi trình diễn. Nhờ một số nam diễn
viên trẻ đã biểu diễn một cách ngẫu hứng nhưng nhanh nhẹn, Ngôi
nhà may mắn, một trong những vở kịch của Don Bosco đã được trình
diễn; và Đức Giám mục ngồi ở hàng ghế đầu khán giả đã hài lòng
hết mức.
Bây giờ chỉ còn các điều khoản 7 và 8 của thỏa thuận sẽ được đưa
ra thực hiện. Tài sản được Đức Giám mục Soubrier cho trên đỉnh
Eckmühl bao gồm một ngôi nhà và một khu vườn lớn. Ngày 31 tháng
Giêng năm 1893, người Salêdiêng thành lập ở đó. Khu vực nông trại
phát triển và nhanh chóng được cải thiện. Họ trồng cây, thiết lập các
nhà ngủ, lớp học. Chẳng bao lâu có bốn xưởng được tổ chức cho các
thiếu niên lao động, một khu cho học sinh (cho độ tuổi 10-12), một
khu đệ tử, gồm cả một số ơn gọi muộn. Một Nguyện xá thứ hai cũng
được mở ra với Hội Vui, Joyeuse Union, được mô phỏng theo Hội Vui,
Società d'Allegria, do Don Bosco thiết lập. Công cuộc Eckmühl trong
những năm 1890 chỉ là một ngôi nhà Salêdiêng thu nhỏ, với khoảng
chín mươi học sinh. Nhưng họ có những ước mơ lớn để phát triển.
Cho đến năm 1896 hai công cuộc ở Oran hoạt động dưới sự lãnh
đạo của vị sáng lập, Charles Bellamy. Đôi khi họ gặp phải vấn đề
nghiêm trọng. Vào năm 1895, tờ báo Le Petit Africain cầm đầu một
chiến dịch dữ dội chống lại người Salêdiêng. Ngày 26 tháng Mười,
không lời giải thích, chính quyền Quận đã ra lệnh đóng cửa nhà
nguyện tại Ménerville, "cùng lúc đó lại cho phép mở một chi nhánh
của Hội Tam Điểm", Cha Bellamy cay đắng nhận xét. Ngày 30 tháng
Mười ngài phản ứng lại trong một bức thư ngỏ gửi Quận trưởng.
May mắn là mọi thứ dừng lại ở đó.393
393 Về nguồn gốc của nhà Oran, x. Bài báo dài của Charles Bellamy, «Les Oeuvres
salésiennes d'Oran», trong Bulletin Salésien, tháng Tư năm 1899, 97-107.

30.9 Page 299

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 299
Bronisław Markiewicz người Salêdiêng Ba Lan
Chúng ta hãy đổi hướng hoàn toàn và di chuyển từ châu Phi đến
tỉnh Ba Lan Galicia, thuộc chính quyền Áo quản trị cho đến năm
1919. Theo yêu cầu của Đức Giám mục Przemyśl, cha Rua đã cử cha
Bronisław Markiewicz đến đó vào năm 1892 với tư cách là trợ lý
trong giáo xứ Miejsce Piastowe, trở thành công cuộc Salêdiêng đầu
tiên ở Ba Lan.
Năm đó, Bronisław Markiewicz (1842-1912), mặc dù đã năm
mươi tuổi, vẫn là một "người Salêdiêng trẻ tuổi".394 Sinh ra ở
Pruchnik, gần thành phố Przemyśl, ở Galicia, cha vào đại chủng viện,
không phải là không do dự, lúc hai mươi mốt tuổi và được phong
chức linh mục ba năm sau đó. Là một linh mục có tài năng, cha học
ngành sư phạm và triết học, đầu tiên tại Leopoli sau đó là Krakow.
Vì vậy, cha đã có thể thành công vượt qua kỳ thi xin việc ở giáo xứ
(27 và 28 tháng Mười năm 1875). Cha là linh mục giáo xứ Gać
(1875) và Błażowa (1877-1882) trong bảy năm. Cha sốt sắng dấn thân
vào công việc mục vụ: dạy giáo lý, rao giảng, giải tội, chăm sóc
người nghèo và người bệnh, thành lập một "hội không bao giờ uống
rượu", trong một khu vực nơi nghiện rượu là căn bệnh địa phương.
Cha rất được ngưỡng mộ. Vì vậy, Đức Giám mục Łukasz Solecki, vốn
đã chứng kiến những đức tính của cha, đã bổ nhiệm cha làm giáo sư
thần học mục vụ trong đại chủng viện (1882). Tuy nhiên, ở tuổi bốn
mươi ba, Bronisław bắt đầu mơ về một đời sống thiêng liêng đòi hỏi
khắt khe hơn, phù hợp với việc thực hành sứ vụ của mình. Tháng
Mười Một năm 1885, được sự đồng ý của Đức Giám mục, cha đã đi
394 Thư mục Bronisław Markiewicz quan trọng. Ở đây tôi chỉ tham khảo những tài
liệu và bài tường thuật ít nhiều liên quan trực tiếp đến ngài: Văn khố Salêdiêng ở
Rôma, đặc biệt là: FdR 4206B2-4209A5; Congregatio de Causis Sanctorum,
Premislien. Latinorum Canonizationis Servi Dei Bronislai Markiewicz, Positio super vita et
virtutibus, Rome, 1990; Id., Premislien. Latinorum Beatificationis et Canonizationis Servi
Dei Bronislai Markiewicz... Relatio et Vota congressus peculiaris super virtutibus die 30
novembris an. 1993 habiti, Rôma, 1993; Maria Winowska, Aux portes du Royaume.
Père Bronislaw Markiewicz, curé de paroisse et fondateur des Michaélites, nouvelle
édition, Paris, Téquy, 1994; Mariano Babula, P. Bronislao Markiewicz, fondatore della
Congregazione di San Michele Arcangelo, Rome, 2000.

30.10 Page 300

▲torna in alto
300 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Rôma để tìm kiếm một hội dòng có thể đáp ứng được những kỳ vọng
của mình. Lúc đầu cha nghĩ về tu sĩ Theatine. Nhưng cha đã bị gây
ấn tượng bởi lối sống và linh đạo của những người Salêdiêng ở
Rôma, nơi cha đã tới để cử hành Thánh Lễ, và vì vậy quyết định
chuyển ngay sang Don Bosco. Ngày 30 tháng Mười Một năm 1885,
cha gặp Don Bosco ở Torino và bị ngài thu hút rất mạnh, cha hỏi liệu
mình có thể bước vào Tu hội của ngài không.
Cuốn niên giám chung của Tu hội năm 1887 đặt cha trong số
những ascritti (tập sinh) trong nhà San Benigno Canavese. Cha bắt
đầu năm tập tháng Ba năm 1886, sau hai tháng ở thỉnh viện. Không
còn tồn tại tài liệu nào về lời khấn của cha. Cha luôn nói cha đã khấn
trong tay Don Bosco ngày 25 tháng Ba năm 1887. Thư ký Viglietti
đã ghi lại tất cả những hoạt động của bề trên mình. Vào ngày đó
Don Bosco ở Torino. Vậy thì vào ngày 25 tháng Ba, Bronisław gặp
ngài ở Valdocco, tại đây, khi ghi nhận tuổi tác và các đức tính của
cha là một linh mục tốt lành, ngài cho phép cha, trong phòng riêng
của ngài và chỉ trước mặt ngài mà thôi, tuyên khấn vâng phục, khó
nghèo và khiết tịnh. Có lẽ tổng thư ký không được nói về nó; chính
vì thế, niên giám Tu hội Salêdiêng năm 1888 không bao gồm cha
trong danh sách những người khấn tạm cũng như không nằm trong
danh sách những người khấn trọn. Ngược lại, chúng tôi thấy cha
được liệt kê là khấn trọn trong các bản in từ năm 1889 đến năm
1892. Cha trải qua hai năm tại giáo xứ Thánh Gioan Tẩy Giả ở Torino,
và hai năm ở nhà nghỉ tại Mathì. Cha bị bệnh lao. Cha nói, trong
những cộng thể này, cha chăm sóc các tư giáo khi dạy các môn lịch
sử và thần học, và đôi khi, giảng cho người Salêdiêng. Cha có một
quan điểm rất khắt khe về đời sống tâm linh. Ngày 30 tháng Tám
năm 1888 cha viết trong những ghi chú thiêng liêng: "Linh đạo của
Don Bosco hệ tại ở việc phủ nhận chính mình vì yêu Thiên Chúa và
người lân cận. Người lân cận được giao phó cho chúng ta chăm sóc
thường chống đối chúng ta: chúng ta cần thinh lặng, kiên nhẫn chịu
đựng những lời sỉ nhục, nghi ngờ, vu khống, luôn đáp lại bằng đức
ái. Nếu người lân cận của chúng ta không muốn bất cứ điều gì từ
chúng ta, chúng ta cần phải độ lượng và để người khác lo lắng cho
họ. Vì vậy, cần phải liên tục quên bản thân mình, kiềm nén bản ngã

31 Pages 301-310

▲torna in alto

31.1 Page 301

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 301
chúng ta".395 Ngài luôn luôn rao giảng sự bỏ mình, lòng tốt và sự
khiêm nhường.
Khi tuyên khấn, Bronisław mơ ước trở về Ba Lan để hiến mình
phục vụ quê hương, đặc biệt là Galicia nghèo nàn mà trong lòng cha
thường so sánh với Piedmont giàu có. Bạn bè muốn cha là một người
Salêdiêng trong giáo xứ tại Miejsce vốn phụ thuộc vào giáo phận
gốc của cha, nhưng nó nằm dưới sự bảo trợ của giáo dân.396 Khi giáo
xứ được tự do, người "bảo trợ" giáo xứ đã chính thức viết cho cha
Rua xin ngài nhận giáo xứ như một công cuộc của Tu hội và cho cha
Markiewicz làm phụ tá. Hoàn toàn đồng ý với đề xuất này, ngày 19
tháng Mười năm 1891, cha Rua viết (bằng tiếng Latinh) cho Đức
Giám mục Przemyśl: "Trong một lúc con đã có ý định mở một công
cuộc ở Ba Lan để đón nhận người trẻ, đặc biệt là người nghèo. Cho
đến bây giờ, việc thiếu linh mục và giáo viên đã luôn ngăn cản con.
Lúa chín đầy đồng nhưng thợ gặt lại ít. Giờ đây để thỏa mãn khao
khát đạo đức của cha Bronisław Markiewicz, con sẵn lòng cấp cho
cha ấy quyền đi đến đó và đảm nhiệm công việc giáo xứ".397 Cha
Markiewicz bắt đầu làm việc vào cuối năm 1891,398 và cha Rua đã
chính thức cho phép cha.399
Cơ sở Ba Lan vào năm 1892
Sau khi trở về Ba Lan, cha Bronisław đến Miejsce Piastowe ngày
24 tháng Ba năm 1892. Cha bắt đầu phục vụ giáo xứ, nhưng đặc
biệt bắt đầu chăm sóc thanh thiếu niên bị lãng quên. Cha biết cha
Rua đang nghĩ đến một công cuộc thường xuyên của người
Salêdiêng, nên cha khởi sự "Don John Bosco Istituto" (danh hiệu thực
sự trong danh mục của Salêdiêng từ 1894 đến 1897 tại "ngôi nhà"
ở Miejsce).
395 Positio super vita et virtutibus, 61.
396 Tài liệu trong Positio super vita et virtutibus, 53-57.
397 Thư tiếng Latinh được xuất bản trong Positio super vita et virtutibus, 64.
398 Xem những thư của ngài ngày 23 tháng Mười Một và ngày 21 tháng 12, 1891,
trong FdR 4207C11-D4.
399 Xem những thư gửi Đức Giám mục Solecki, ngày tháng Giêng, 1892, trong
FdR 4207E8-9; và những thư làm chứng ghi cùng ngày, trong FdR 4207E6.

31.2 Page 302

▲torna in alto
302 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Cha Markiewicz hăng say lao vào công cuộc này. Cha sống ở nhà
xứ trong khi các trẻ nam nữ bị bỏ rơi sống trong một tòa nhà bên
ngoài. Các em làm việc ở nông trại và vùng thôn quê thuộc “ân nhân”
của giáo xứ. Năm 1895, cha cũng lập các xưởng thợ cho các em
đóng giày, may mặc và các ngành nghề khác. Cha bắt đầu chọn
những thiếu niên tốt nhất để trở thành những người Salêdiêng phục
vụ các bạn đồng trang lứa của chúng. Trẻ nữ cũng có tổ chức riêng
của họ. Cha Markiewicz áp dụng một phương pháp giáo dục lấy cảm
hứng từ truyền thống của Salêdiêng, dựa trên lý trí, tôn giáo và lòng
tốt.400 Trong danh sách nhân sự tại Miejsce niên giám Salêdiêng năm
1894 liệt kê mười một "đệ tử": ba sư huynh và tám học sinh. Vào
năm 1895, ba người trong số đó thành "ascritti", có nghĩa là tập sinh,
và số đệ tử đã tăng lên mười bảy (năm thiếu niên làm việc và mười
hai học sinh). Torino thấy những con số này hấp dẫn. Các niên giám
năm 1896 và 1897 chỉ liệt kê thêm hai "ascritti", nhưng không có đệ
tử. Năm 1898, cộng đoàn tại Miezsce biến mất khỏi danh mục.
Chúng ta có thể thấy ngay lý do.
Trong thư gửi cho các Cộng Tác viên trong Tập san Salêdiêng tháng
Giêng năm 1895, cha Rua đã nhiệt liệt nói về công trình của
Markiewicz: "Vài năm trở lại nay tại Ba Lan có một linh mục dòng
Salêdiêng đã được cử làm linh mục giáo xứ cho Miejsce, một thị trấn
ở Galicia. Cha bắt đầu tập hợp các thanh thiếu niên nghèo túng trong
những giáo khu để hướng dẫn và hỗ trợ các em. Một lưu xá nhỏ bắt
đầu phát triển dần dần. Cần phải gửi nhân sự để giúp linh mục giáo
xứ nghèo này vốn không thể tự mình quản lý, và vào cuối năm trước
số người đã tăng lên khoảng năm mươi".401
Năm 1896, cha Rua đã ủy quyền cho một nữ tu Salêdiêng tham
gia vào việc huấn luyện các giáo viên (họ đang chuẩn bị tận hiến),
những người muốn sống đời tu trì.402 Nhưng những sáng kiến táo
400 Xem có thể những lời chứng của L. Bialoczynski and W. Michulka, trong Positio
super vita et virtutibus, 72-75.
401 Bolletino Salesiano, tháng Giêng, 1895, 3.
402 Thư của G. Marenco gửi B. Markiewicz, ngày 21 tháng Chín năm 1896, trong
Positio super vita et virtutibus, 76-77.

31.3 Page 303

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 303
bạo hơn bao giờ hết của cha Markiewicz sắp thử thách hệ thống đến
mức đổ vỡ, như biên bản của Tu Nghị Bề trên trong cuộc họp ngày
23 tháng Mười Một năm 1896 ghi tóm tắt: "Từ Miejsce, cha
Markiewicz đang đề xuất những danh sách mới [tập sinh] và một số
người tuyên khấn. Hội đồng quyết định cử cha Veronesi đến cộng
đoàn này để có được một ý tưởng rõ ràng về những gì đã xảy ra.
Trong khi đó không ngừng lại những danh sách [tập sinh] mới và
những người tuyên khấn".403
Cuộc khủng hoảng năm 1897
Nghèo khổ ngự trị trong nhà Don John Bosco ở Miejsce Piastowe.
Con số thanh thiếu niên nhận vào hiện giờ đã đến gần một trăm.
Nhưng một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng sắp diễn ra. Tháng Sáu
năm 1897, quan ngại bởi tin tức đến tai ngài từ viện mồ côi ngoài
tầm kiểm soát đó, cha Rua đã hành động theo quyết định của Tu
Nghị Bề trên và phái cha Giám Tỉnh Moses Veronesi làm vị Kinh Lược.
Cha được tiếp đón nồng hậu. Nhưng những kết luận của cha Moses
khiến Bronisław Markiewicz bối rối.
Sau khi được cha Rua phê chuẩn các quyết định để gửi tới cha
Markiewicz bằng thư (một bức thư không được lưu giữ), vị Kinh Lược
lúc ấy đang sống tại Mogliano Veneto, đã viết những quyết định của
mình trong một bức thư gửi cho linh mục quản hạt ở Rymanow ngày
14 tháng Tám năm 1897.404 Nữ phải ở trong một tòa nhà riêng
biệt; các thiếu niên không được sống trong nhà cha xứ nữa; cần có
một chế độ ăn uống đa dạng hơn cho những thanh niên và tu sĩ;
không nên có hơn hai mươi thiếu niên; không được mang trẻ nữ vào;
cha Markiewicz cần chăm sóc giáo xứ, hai mươi cậu bé ở lại, và gửi
những em khác đến nơi khác.405
Đối mặt với một tình thế quyết liệt như vậy, cha Mark Markicicz
quyết định rời khỏi Tu hội của cha Rua và thành lập một Hội, theo
403 Biên bản Tu Nghị Bề trên, ngày 23 tháng Mười Một, 1896, trong FdR 4242A9.
404 Bản đánh máy, ASC, dossier Markiewicz.
405 Xem cũng thư của B. Markiewicz gửi Đức Giám mục T. Lekawski, được trích
trong Positio super vita et virtutibus, 82.

31.4 Page 304

▲torna in alto
304 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
như cha nghĩ, trung thành hơn với ý định ban đầu của Don Bosco.
Ngày 29 tháng Mười Hai năm 1897, thư ký của Tu Nghị Bề trên đã
viết trong biên bản: "Một báo cáo được đọc lên liên quan đến việc
cha Markiewicz muốn tiếp tục ly khai khỏi Tu hội. Cha đã thực hiện
một nghi lễ mặc áo cho các tư giáo và nhận lời khấn của vài thiếu
nữ". Đó là tất cả.406 Chúng ta có lá thư dài của cha Markiewicz, ngày
28 tháng Mười Hai năm 1897, để hồi đáp Đức Giám mục Przemyśl,
người đã hỏi cha lý do tách khỏi người Salêdiêng. Đây là những điểm
chính: 1) Các người Salêdiêng đã thay đổi Quy luật nguyên thủy của
họ, vốn dành vị trí nổi bật nhất cho khẩu hiệu "Làm việc và Tiết độ";
họ đang chăm sóc tầng lớp trung lưu và đã bỏ qua "người nghèo và
bị bỏ rơi". 2) Họ đã trung ương hóa tập viện của họ. 3) Họ đã trung
ương hóa việc quản lý tài chính có lợi cho người Ý. 4) Họ muốn Ý
hóa những người Ba Lan đến với họ. 5) Đức Cha thấy xu hướng tương
tự trong truyền giáo: "Ý hóa những quốc gia này, đặc biệt là Nam
Mỹ, là mục tiêu chính của những người truyền giáo Salêdiêng, thay
vì cải đạo những người bán khai". Kết cục là, "sau khi mệt mỏi tranh
cãi suốt mười một năm, giờ con có thể thấy rõ rằng vì con, vì tu viện
của con, vì Ba Lan và vì Giáo hội, tách khỏi những người Salêdiêng
Ý và thành lập một Tu hội riêng biệt vốn nắm giữ Quy luật nguyên
thủy của Don Bosco quả là hữu ích hơn đối với con. Vì mục đích này,
ngày 23 tháng Chín năm nay, con đã trình yêu cầu của con cho Đức
Giám mục Przesmysl và cho Đức Thánh Cha".407 Điều này đã chứng
kiến sự khởi đầu của Tu hội ‘Làm việc và Tiết độ’, và chính quyền
dân sự sẵn sàng chấp thuận cho vị linh mục này.
Về phần mình Đức Giám mục không tin rằng ngài "cần phải phản
đối ý tưởng thành lập một Tu hội theo tinh thần sơ khởi của Don
Bosco, lấy cảm hứng từ những ví dụ tương tự trong lịch sử Giáo Hội",
như chúng ta đọc trong biên bản của Tu Nghị Bề trên ngày 14 tháng
Ba năm 1898. "Cha Rua trả lời rằng Markiewicz từ chối vâng phục
sau khi chúng ta viết cho cha yêu cầu cha lập lại trật tự trong nhà
406 Biên bản Tu Nghị Bề trên, ngày 29 tháng 12, 1897, trong FdR 4242C2.
407 Thư của B. Markiewicz gửi Đức Giám mục Przemyśl, Miejsce, ngày 28 tháng 12,
1897, được đưa cho tôi và được dịch bởi Tadeusz Jania, Krakow.

31.5 Page 305

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 305
của mình theo lời khuyên mà chính Đức Giám mục đã truyền đạt cho
cha; rằng chúng ta không thể cho phép Tu hội mới này mang tên
gọi của chúng ta; rằng chúng ta sẽ tháo cởi lời khấn của Markiewicz
phù hợp với Quy luật chúng ta, và kết quả là ngài không còn chia sẻ
những đặc quyền của chúng ta nữa". Hội đồng đó quyết định gửi
cho Tổng Đại diện tại Rôma, Caesar Cagliero, một bản sao lá thư của
Đức Giám mục và câu trả lời để ngài có thể trình bày cho Bộ lo về
các Giám mục và Dòng Tu, có nghĩa là Tòa thánh.408
Thực thế, cha Markiewicz đã nài nỉ Rôma, nhưng họ đã phớt lờ.
Vào cuối lá thư dài gửi cho Đức Giáo Hoàng đề ngày 5 tháng Tư năm
1898, sau khi liệt kê những sự dè dặt của mình liên quan đến những
gì cha gọi là "Tu hội Salêdiêng mới", cha viết:
[...]. Khi người vừa được nhắc đến [Cha Veronesi], trước tiên
bằng lời nói sau đó bằng chữ viết, dưới sự vâng phục nhấn
mạnh đến việc đưa vào những điều này [những tục lệ của Ý],
do lương tâm thôi thúc, con đã ngừng liên lạc với các bề trên
của cha ấy và thành lập một Tu hội riêng biệt đi theo Quy luật
và sự tuân giữ nguyên thủy của Don Bosco, bởi vì, ngoài kỳ tĩnh
tâm thường niên theo tinh thần của Thánh Ignatius Loyola, nhà
Don Bosco ở Miejsce nổi bật rõ ràng so với những nhà khác
Salêdiêng khác ở Ý, đặc biệt là vì học sinh của nó tỏ rõ những
đức tính mà Don Bosco nhấn mạnh, như là làm việc và tiết độ,
đặc biệt đối với khía cạnh tuyệt vời của sự tiết độ đó là sự khiêm
nhường.
Người ký tên dưới đây có bốn tư giáo và bốn anh em khấn trọn
với con và bốn mươi tập sinh. Con khiêm nhường cầu xin Đức
Thánh Cha ban cho Tu hội này những đặc quyền mà Tòa Thánh
đã ban cho Tu hội được Gioan Bosco đáng ghi nhớ sáng lập mà
con là một người con và là kẻ bắt chước trung tín nhất.409
Cha Markiewicz đặt Hội của mình dưới sự bảo trợ của Tổng lãnh
Thiên thần Micae. Đây là nguồn gốc của các Tu hội nam và nữ được
408 Biên bản Tu Nghị Bề trên, ngày 14 tháng Ba, 1898, trong FdR 4242C4.
409 Tài liệu được cung cấp bởi Tadeusz Jania, Krakow.

31.6 Page 306

▲torna in alto
306 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
biết đến với tên Michaelites, được Rôma công nhận sau khi vị Sáng
lập của họ qua đời.
Trong sự kiện này, chúng ta quan tâm đến những cảm xúc của cha
Rua hơn hết. Chúng ta biết những điều này trong các lá thư gửi cho
Đức Giám mục Przemyśl vào năm 1897 và Đức Giám mục Solecki vào
năm 1898. Ngày 19 tháng Mười Hai năm 1897, ngài chỉ loan báo
rằng cha Markiewicz đã rời Tu hội Salêdiêng:
Đối mặt với sự bướng bỉnh cố chấp của ngài, sau khi kiên nhẫn
chờ ba tháng để ngài rút lại, chúng con không thể làm gì khác
ngoài việc tháo cởi [cho cha Markiewicz] lời khấn của ngài và
loại cha khỏi danh sách các thành viên của Tu Hội chúng con.
Tuy nhiên, chúng con không muốn thực hiện bước cuối cùng
này mà không thông báo trước cho Đức Cha và không được
nghe ý kiến của Đức Cha trước. Nếu Đức Cha đồng ý, bắt đầu
từ bây giờ, từ lá thư này, chúng con đặt cha Markiewicz dưới
quyền xét xử của Đức Cha và loại cha khỏi danh sách các thành
viên của Tu hội chúng con.410
Ngày 27 tháng Ba năm 1898, theo sau một lá thư từ Đức Giám
mục, được trích dẫn ở trên, và được xem xét tại cuộc họp của Tu
Nghị Bề trên ngày 14, cha Rua đã gửi thêm một lá thư bằng tiếng
Latinh, trong đó chứa đựng những lời phê bình chi tiết sau đây:
Xin chân thành cám ơn lá thư của Đức Cha, tràn đầy tính nhân
văn và lòng tốt mà con vui mừng nhận được. Con sẽ không nói
thêm nhiều về cha Bronisław Markiewicz; sự bất tuân và cứng
đầu của ngài đã làm cá nhân con cũng như các bề trên khác
đau khổ. Đức Cha biết rằng ngài đã lập một nhà cho các thiếu
niên và thiếu nữ ở Miejsce vốn vi phạm luật lệ của Tu hội chúng
con. Việc này nguy hiểm cho những thói quen tốt và do đó đi
ngược lại ý muốn của con. Khi vị Kinh lược, cha Veronesi, người
mà con phái đến Miejsce, đưa ngài tất cả các nhận xét và cảnh
báo có liên quan, trong tinh thần bác ái và đưa ngài những chỉ
thị theo mong muốn của chính Đức Cha; cha Markiewicz, đã trơ
410 Trích dẫn trong Positio super vita et virtutibus, 83.

31.7 Page 307

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 307
tráo giữ ý kiến của mình, tự nhận rằng ngài là người duy nhất
tuân theo Quy luật của Tu hội Thánh Phanxicô Salê và rằng tất
cả các bề trên khác đã đi chệch khỏi con đường đúng đắn năm
xưa. Thật là trơ tráo! Hay đúng hơn, thật là ngu xuẩn! Khi mọi
người biết rằng không một dấu chấm phết nào được thay đổi
trong Quy luật nhận được từ Đấng Sáng lập đáng kính nhất của
chúng con. Sự bất trung và bất tuân phục của một số ít không
ảnh hưởng đến Quy luật. Vậy thì trước hết, mong cha
Markiewicz thân yêu của chúng ta học cách vâng lời và khiêm
nhường; thì ngài sẽ thấy rằng không có gì thay đổi trong Quy
luật của chúng con. Theo Hiến Luật chúng con (Ch. II, điều 5),
vì sự bất tuân và sự bỏ chạy nghiêm trọng như vậy, cha
Markiewicz đã chính đáng bị loại khỏi Tu hội Thánh Phanxicô
Salê, được xác nhận bằng bức thư này. Ngài trở về tình trạng
linh mục triều đơn thuần, dưới quyền Đức Giám mục của ngài
và sẽ không còn được hưởng các đặc quyền của Tu sĩ. Con tiến
cử ngài cho Đức Cha, hy vọng ngài có thể là một cha xứ xuất
sắc. Nhưng con sẽ không bao giờ cho phép ngài chiếm đoạt
bằng bất kỳ cách nào danh xưng của người Salêdiêng và người
cha Gioan Bosco tôn kính nhất của chúng con. Con sẽ dùng hết
sức mình phản đối điều đó. Nếu ngài dự định lập một Tu hội,
ngài có thể gọi nó theo tên Thánh Stanislaus Kotska hoặc Thánh
Gioan Berchmans. Nhưng ngài không thể chiếm đoạt một danh
xưng đã được biết đến, điều này sẽ tạo ra sự lẫn lộn rất lớn,
chống lại ý kiến của Đức Thánh Cha Lê-ô XIII, người đã cố hết
sức hướng dẫn các Gia đình Dòng tu hợp nhất.
Dù bất xứng, con giao phó bản thân và Tu hội của con cho
những lời cầu nguyện mạnh mẽ của Đức Cha.
Tôi tớ hèn mọn và tận tụy của Đức Cha,
Linh mục Micae Rua,
Bề Trên Cả của Tu hội Salêdiêng.411
Vào tháng Tư năm 1898, trong một lá thư mới được viết bằng
411 Bản sao tiếng Latinh trong FdR 4207E10-12.

31.8 Page 308

▲torna in alto
308 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tiếng Latinh gửi Đức Giám Mục, và được viết theo yêu cầu của Đức
Giám mục Phụ tá Weber, cha Rua đã nhắc lại câu chuyện của cha
Markiewicz ở Ba Lan một lần nữa.412 Sao chép lại toàn bộ thì quá dài
vì vậy tôi chỉ trích dẫn những than phiền mới về ngài. Bất chấp việc
Quy luật cho phép điều này, cha Markiewicz đã cấm các người
Salêdiêng vốn được gửi đến giúp ngài không được giãi bày những
than phiền của họ với các bề trên của họ. Ngài tuyên bố rằng người
Salêdiêng nắm giữ tiền thu được ở Ba Lan để sử dụng riêng cho họ,
trong khi trên thực tế nó được dùng để huấn luyện các thanh niên
Ba Lan trong các nhà tại Foglizzo, Ivrea hoặc Lombriasco. Ngôi nhà
được nêu danh cuối cùng này được công chúng gọi là ngôi nhà Ba
Lan. Cha Rua kêu lên: "Tại sao phải ngạc nhiên khi các Cộng Tác viên
Ba Lan nhận thức rõ ràng là họ đã giúp chúng con và chấp thuận
việc sử dụng số tiền họ gửi cho chúng con!". "Gửi một số thanh niên
này trở về chăm sóc lớp trẻ là không khả thi vì họ chưa học xong;
nhưng mọi người đều biết đây là ý định của con". Bản thân ngài đích
thân hỗ trợ người nhập cư Ba Lan đến Mỹ hoặc Anh: "Điều này đủ
để bác lại sự phản đối của cha Markiewicz rằng cho đến bây giờ,
người Salêdiêng đã không làm gì cho Ba Lan". Ngài kết thư, thật cay
đắng về mọi thứ, với điều mà ngài coi là vấn đề nghiêm trọng nhất:
Xin Đức Cha đừng ngạc nhiên vì con phàn nàn về sự ly giáo này
đã bị cha Markiewicz gây ra cách đau đớn trong Tu hội chúng
con, bởi ngài bất tuân, và cách riêng bởi ngài trơ tráo vu khống
toàn Tu hội như thể đã phản bội tinh thần ban đầu của mình.
Nếu cha Markiewicz thực sự muốn phục vụ Thiên Chúa và làm
việc để cứu rỗi các linh hồn một cách độc lập với các bề trên
hợp pháp của mình, thì chiếm đoạt danh xưng Salêdiêng, hay
gọi mình là một người con của Don Bosco, hay làm cho các linh
mục Ba Lan và các giáo sĩ xa khỏi ơn gọi của họ quả là không
đúng đối với ngài.
Thực vậy, thật đau buồn khi cha Markiewicz, trong nhiều lá thư
khác nhau, đã thúc giục những người Salêdiêng khác rời khỏi
Tu hội để đến và tham gia với ngài. Một số người đã từ chối đề
412 Bản thảo sao chép cho là vào tháng Tư, 1898, trong FdR 4208A8-B3.

31.9 Page 309

▲torna in alto
Algeria và Ba Lan | 309
nghị này, nhưng một giáo sĩ tên là Orlemba, sau khi khấn, đã
đến Miejsce và, để người này không cảm thấy có lỗi vì đã làm
như vậy, Markiewicz bổ nhiệm ông làm giám đốc trường nội
trú. Tư Giáo Orlemba chưa bao giờ được miễn chuẩn lời khấn
của mình. Hãy để ngài đặt tên khác cho Tu hội của mình và
không được phép làm các linh mục và giáo sĩ xa lánh ơn gọi
của họ hoặc viết cho các Cộng Tác viên xin tiền, khi tạo ra nhiều
lẫn lộn. Điều này đã xảy ra trong các lá thư ngày 2 tháng Tư
vừa rồi khi ngài kêu gọi các linh mục dâng lễ theo ý chỉ của
ngài và gửi tiền cho cái mà ngài gọi là "Nhà Don Bosco".
Quỳ dưới chân Đức Cha, con phó mình cho những lời cầu
nguyện sốt mến của Đức Cha, cho cá nhân con và Tu hội mà
con dẫn dắt, dẫu con bất xứng.
Vị Tổng Thỉnh viên cho Án phong thánh của cha Markiewicz nói
với tôi: "Có một sự thiếu hài hòa giữa hai vị Thánh". Chắc chắn như
vậy, khi thấy rằng Giáo hội, bằng cách công nhận bản chất anh hùng
của các nhân đức của các ngài, đã phong thánh cho cả hai, Micae
Rua vào năm 1972, Bronisław Markiewicz vào năm 2005 ... Nhưng
chúng ta cần thú nhận rằng vào năm 1897 và 1898, người đau khổ
nhiều nhất trong "cuộc chiến giữa hai vị thánh" chắc chắn là cha Rua
chúng ta. Cơ sở đầu tiên trên đất Ba Lan khiến ngài đau khổ cực kỳ.
Ngài rất thận trọng khi bắt chước Don Bosco, trung thành theo bước
chân ngài. Công khai cáo buộc ngài thiếu trung tín với Vị Thầy của
ngài, khi tưởng tượng xem có một phiên bản nghiêm nhặt hơn của
Quy Luật nguyên thủy, một thứ gì đó thực tế chưa bao giờ tồn tại,
và do đó tạo ra một luồng đối kháng, nếu không phải là một sự chia
rẽ thực sự trong Tu hội: tìm ra một hình thức tra tấn tinh tế hơn quả
là khó khăn.
Vào năm 1898, cơ sở mới, chắc chắn là cứng rắn nhưng thành
công, nhà ở Oświęcim là dầu thơm làm dịu nỗi đau trong tim ngài.413
Miejsce có thể bị lãng quên, Oświęcim chiếm vị trí nổi bật nhất trong
số các công cuộc Salêdiêng ở Ba Lan.
413 Về cơ sở thành lập ở Oswiecim, xem Annali II, 679-685.

31.10 Page 310

▲torna in alto
310 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Hành Trình Tới
22
Bán Đảo Iberia
(1899)
Đi theo cha Rua trong mọi cuộc hành trình của ngài khắp châu Âu
quả là tẻ nhạt.
Những chuyến ngài đi đến Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào năm
1899 và những chuyến đưa ngài đến tận Algeria đáng cho chúng ta
chú ý, cũng như thực tế là ở một số thị trấn sự nhiệt tình cả từ những
người trẻ tuổi và đám đông khi nhìn thấy ngài gợi nhớ Don Bosco
cũng khơi gợi tâm tình đó ở Paris và Lille năm 1883. Họ tôn kính cha
Rua như một vị thánh sống cũng như cách họ đã làm với vị thầy của
ngài 16 năm trước.414
Ở Catalonia và xứ Basque
Từ Pháp đến, cha Rua được cha Gioan Marenco tháp tùng, vị Tổng
Đại diện của ngài đối với Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và cha
Philip Rinaldi, người đã tham gia với họ ở biên giới. Họ xuống ga tại
Barcelona lúc một giờ sáng ngày 5 tháng Hai năm 1899. Mọi người
đang đợi ở nhà ga để chào đón. Một nhóm công nhân trẻ từ Nguyện
xá Salêdiêng ở San Jose đã cố gắng cởi những chú ngựa khỏi xe ngựa
do một Cộng Tác viên gửi đến và chính họ kéo xe cho ngài dọc theo
Rambla, con đường được thắp sáng rực rỡ chạy xuyên qua thành
phố. Một cách lịch sự họ đã được khuyến khích ngừng kế hoạch này.
Các du khách đi ngay đến Sarrià và trường Salêdiêng tại đó cũng
414 Xem thư của G. Marenco gửi D. Belmonte trong cuộc hành trình này, trong FdR
3004A12-C1, mà tôi tham khảo Chaequent không trích dẫn trực tiếp. Với cuộc
hành trình đến Bán đảo Iberica, x. «Il viaggio del Ven.do nostro Superiore Don
Rua», Bollettino Salesiano, tháng Năm năm 1899, 120-122; tháng Sáu, 1899, 145-
147; tôi theo sát bản tường thuật của Ceria, Vita, 295-308.

32 Pages 311-320

▲torna in alto

32.1 Page 311

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 311
thắp sáng trưng. Nơi đây cha Rua phải đi giữa 400 thiếu niên đứng
xếp hàng, bị ngài làm mê hoặc.
Hai tuần không đủ để đến thăm các Cộng Tác viên ở Barcelona và
cho họ các bài huấn đức, trình bày những phần bổ sung của mình
cho các vị thẩm quyền tôn giáo và dân sự và để những người muốn
gặp phỏng vấn ngài. Nguyện xá Thánh Giuse, công trình cuối cùng
do Cộng Tác viên thánh thiện Dorothy Chopita thành lập, gây ấn
tượng mạnh với ngài. Ngài nói về nó tại Bologna ngày 30 tháng
Năm sau đó.
Chỉ vài năm trước đây, sự vô luân và vô đạo ngự trị trong khu
vực này; giới trẻ thì xấc láo và gây gổ vì gương xấu của những
người lớn tuổi. Họ sỉ nhục những người qua đường trắng trợn
đến nỗi lực lượng trật tự công cộng đã phải thường xuyên can
thiệp. Giờ đây tôi nhận thấy dân cư điềm đạm và lịch sự; những
người trẻ sống động và vui vẻ nhưng rất kính trọng các linh
mục; họ chào hỏi và tiếp cận các ngài với sự tin tưởng sâu sắc.
Mọi người đều cho rằng sự thay đổi kỳ diệu này là nhờ Nguyện
xá vốn chỉ hoạt động trong khu vực này trong một vài năm và
họ tán dương tổ chức này vì qua việc hướng dẫn và giáo dục
trẻ em, thực sự có tác dụng tương tự đối với cha mẹ và gia đình
các em.415
Liên quan đến bốn ngôi nhà đầu tiên mà ngài đến thăm, hai ngôi
nhà được những người Salêdiêng và hai Nữ tu Salêdiêng điều hành.
cha Rua đã viết cho Phó Tổng Bề trên của mình là cha Belmonte ngày
15 tháng Hai. "Ở đây mọi thứ đang diễn ra rất tốt. Các nhà được cảm
thông rất nhiều". Ngài dành hai ngày đến nhà thứ năm, tập viện
Thánh Vinh Sơn dels Horts vốn khá gần thành phố. Đó là trong
những ngày cuối cùng của mùa lễ hội Carnival. Các tập sinh đang
tĩnh tâm. Cha Rua ngồi giải tội và ban 'huấn từ tối' cũng như giảng
kết thúc tuần tĩnh tâm. Người dân địa phương đã toàn tâm toàn ý
tham dự ngày lễ của tập viện đến nỗi dường như họ quên mất những
trò chơi đeo mặt nạ thông thường. Thậm chí một cái mặt nạ cũng
415 Amadei II, 534-535.

32.2 Page 312

▲torna in alto
312 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
không thấy. Cha Rua hài lòng. Từ tập viện ngài viết cho vị Phó Tổng
Bề trên: "Ở đây cũng có vẻ như mọi thứ đang diễn ra tốt đẹp." Bề
Trên Cả không bao giờ phóng đại ý tưởng của mình. Ngài muốn nói
rằng mặc dù có một số lỗi lầm và những điểm yếu không thể tránh
khỏi nhưng các yếu tố cốt yếu vẫn được bảo đảm. Các nhà ở
Barcelona và tập viện gần đó đã gây ấn tượng mạnh với ngài qua
tinh thần Salêdiêng của họ.416
Một bất ngờ thú vị chờ ngài khi ngài quay lại Sarrià, một cuộc họp
của các cựu học sinh, cuộc họp đầu tiên được tổ chức tại Tây Ban
Nha. Một tờ tuần báo ở đây khẳng định: "Đây là một cảnh tượng
thực sự đáng ngưỡng mộ mà chúng tôi chưa hề thấy trước đây."417
Được cha Rua khuyến khích, những người trẻ tuổi này đã thành lập
một hiệp hội lâu bền nhằm tập hợp tất cả các cựu học sinh của Sarrià.
Thứ sáu ngày 17 tháng Hai, cha Rua đến ngôi nhà ở Gerona; tại
đây ngài làm phép viên đá đặt móng cho nhà thờ dâng kính Đức
Maria Phù Hộ các Giáo Hữu. Trời mưa nặng hạt khi ngài đến và kéo
dài cả đêm; có rất ít dấu hiệu ngớt mưa. Người dân đã phải chịu một
trận hạn hán kéo dài, vì vậy họ cảm ơn trời và chính cha Rua, vì sự
xuất hiện của ngài dường như đã thúc đẩy cho có mưa. Nhưng cơn
mưa lại làm những người Salêdiêng lo lắng vì sợ rằng có thể phá
hỏng bữa tiệc của họ. Thấy vậy cha Rua đã trấn an họ. Sau đó vào
thứ bảy, ngài đề nghị họ đọc kinh sáng và kinh tối sốt sắng để mọi
thứ tiến hành được chỉn chu. Thực vậy vào Chúa Nhật ngày 19 mặt
trời đã ló dạng và cho phép buổi lễ diễn ra ngoài trời trước một đám
người rất lớn.
Ngày 21 tháng Hai, cha Rua rời Catalonia và hướng về Bồ Đào
Nha. Cuộc hành trình dài và mệt mỏi hơn ngài tưởng. Trên đường
ngài dừng lại bốn lần. Ngài dừng lại ở các nhà Bilbao, Santander,
Bejar và Salamanca. Khắp nơi ‘sự nhiệt tình, cảm tình, kính trọng
tuôn tràn bao quanh ngài không chỉ từ phía những người Salêdiêng
và học sinh mà còn từ những người khác, trên hết là từ một số Cộng
416 Xem thư trong FdR 3756D9-10.
417 El Sarrianes, 25 tháng Hai năm 1899, trích trong Ceria, Vita, 297.

32.3 Page 313

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 313
Tác viên’. Cha Marenco viết như vậy cho cha Belmonte ngày 5 tháng
Ba sau đó.418 Cha Rua đã liên tục bị bao vây bởi những người chờ
đợi lời khuyên, các nhà báo xếp hàng để phỏng vấn, những người
bệnh xin chúc lành. “Cũng lại như Don Bosco, kể cả những người cắt
những miếng y phục của cha Rua tội nghiệp”. Người dân đang lấy
cho mình những thánh tích có giá rẻ. Giống như ở Catalonia, người
dân từ tòa thị chính, dân thường và giáo sĩ đến gặp ngài. Các Giám
mục và tu sĩ Dòng Tên từ Bilbao và Salamanca, người Scolopia từ
Saragozza, tỏ ra rất hiếu khách, các tu sĩ Cát Minh từ Alba de Tormes,
nơi đây để đáp lại mong muốn của Đức Giám mục Salamanca, cha
Rua đã tôn kính thánh tích của Thánh Têrêsa. Ai nấy thể hiện lòng
kính trọng của mình theo nhiều cách khác nhau.
Bồ Đào Nha
Ngày 4 tháng Ba sau Salamanca, cha Rua tạm đình chỉ chuyến
viếng thăm các nhà ở Tây Ban Nha để đến thẳng Braga ở phía bắc
Bồ Đào Nha. Cuộc hành trình này đã gây ngạc nhiên đến khó chịu
cho ba du khách. Tại lối vào Nhà ga Quejigal, chuyến tàu của họ đã
nhầm lẫn (lỗi của người bẻ ghi đường sắt) đi theo đường ray dẫn
đến đường tàu tránh nơi có vài xe bò đang đậu. Có tiếng va chạm
xé không gian. Cha Rua, Rinaldi và Marenco thấy mình bất thần bị
ném vào những vị khách ngồi đối diện, rồi nằm trên sàn tàu, hành
lý từ những giá gác hành lý rớt xuống các ngài. Cha Rua bị một cú
đập nhẹ vào trán và chảy máu mũi. Các du khách khác từ khoang tàu
không bị thương. Ở những chỗ khác, một số người bị những vết cắt
và bầm tím. Đầu máy đã xoay xở kéo họ đến trạm tiếp theo ở đó
người ta thay đầu máy.
Việc đến Braga trễ một tiếng vẫn không ngăn được người Bồ Đào
Nha chào đón nồng nhiệt Đấng Kế vị Don Bosco. Ngày hôm sau,
mồng 5 tháng Ba Đức Tổng Giám mục Sebastião Leite de
Vasconcellos, một người rất ngưỡng mộ những người Salêdiêng ở Bồ
Đào Nha, đã tổ chức buổi tiếp tân dành cho cha Rua tại chủng viện.
Một diễn giả nổi tiếng dùng tất cả các kỹ năng hùng biện của mình
418 Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1899, 121.

32.4 Page 314

▲torna in alto
314 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
để mô tả Don Bosco, mô tả công việc của ngài và vẽ phác thảo hình
ảnh Cộng Tác viên Salêdiêng. Đức Tổng Giám mục vốn là một nhân
vật tuyệt vời và rất được yêu mến do lòng từ thiện của ngài, đã phát
biểu một bài diễn văn ngắn, nhiệt thành. Sau đó, cha Rua đã cố hết
sức có thể để cảm ơn mọi người bằng tiếng Bồ Đào Nha. Các chủng
sinh rất nhiệt tình. Ngày 9 tháng Ba, cha Marenco đã có thể viết thư
cho cha Belmonte: “Buổi văn nghệ mà họ trình diễn ở Braga để tôn
vinh cha Rua là một thành công lớn và rất quan trọng đối với thành
phố”. Cha viết tiếp: “Khi cha Rua rời đi Vigo, thứ ba lúc 11 giờ 30,
nhà ga đầy người. Các nhà hảo tâm nổi tiếng nhất đã có mặt để tạm
biệt và cảm ơn ngài vì đã tặng cho Braga vinh dự qua chuyến viếng
thăm của ngài. Ban nhạc thành phố vang lên, trong khi đám đông
vỗ tay và hét lên 'Muôn năm ...', cho đến khi đoàn tàu biến mất.
Chúng ta đừng quên những bông hoa được ném dọc theo con đường
tới toa hành khách”.419
Nhà ga ở Vigo cách ngoại vi thành phố ba cây số. Bọn trẻ đang
chờ đợi cha Rua ở đó. Các em lớn tiếng hô vang: "cha Rua muôn
năm"! và chạy dọc theo chiếc xe ngựa của ngài đến Nguyện xá
Salêdiêng. Tiếng hét của các em thông báo cho người dân biết cha
Rua đến, khiến họ ngạc nhiên vì sự biểu lộ này. Cha Rua nói về
chuyện này tại Bologna cùng với Nguyện xá Thánh Giuse tại
Barcelona. Ngài nói: “Cha đã được chào đón trong một ngôi làng
nhỏ bởi một đám thanh thiếu niên thuộc mọi lứa tuổi và mọi lớp và
các em đã tiếp đón cha nồng nhiệt với một sự hộ tống danh dự suốt
ba cây số, một dấu hiệu rõ ràng của lòng kính trọng và yêu mến."
Các Cộng Tác viên cả nam lẫn nữ đang đợi ở lối vào trường cao
đẳng, vì đám đông đã tập trung ở sân trong. Ngày hôm sau, cha Rua
đi xuống khu vực của ngư dân gần bờ biển nơi người Salêdiêng đã
làm việc trong ba năm. Những người dân đơn sơ này đang chờ trong
thánh đường vì muốn nghe ngài. Ngài thân mật nói chuyện với họ,
hứa rằng người Salêdiêng sẽ làm việc vì nhu cầu thiêng liêng của họ
và công khai xin các Cộng Tác viên giúp họ trong việc này. Mong
muốn của ngài đã thành hiện thực khi một thời gian ngắn sau đó
419 Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1899, 122.

32.5 Page 315

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 315
người Salêdiêng đã phụ trách giáo xứ ở đó.
Ngày 9 từ Vigo ngài trở lại Bồ Đào Nha. Sau một ngày ở Porto với
bạn hữu rộng tay tiếp đón, ngài tới Lisbon sáng ngày 11 tháng Ba.
Thủ đô xinh đẹp dường như muốn là một thủ đô hiếu khách nhất
trên thế giới. Ngay cả giới báo chí cực tự do cũng thông tri việc ngài
đến. Chính quyền và các nhà quý tộc không tiếc lời nói hoặc cử chỉ
để tỏ ra tôn quí và kính trọng ngài. Trong thời gian này tại đất nước
ấy ít có sự pha trộn các tầng lớp xã hội. Như cha Ceria nói, tại trường
Salêdiêng nơi họ muốn tận dụng sự hiện diện của cha Rua để tổ chức
việc phát thưởng cho học sinh thêm trang trọng: “bạn có thể thấy
rằng các quý tộc không tỏ ra khinh thị việc phát thưởng cho những
trẻ học nghề xứng đáng với nỗ lực của các em". Các phần thưởng là
dụng cụ nghề nghiệp.
Theo cha Marenco trong lá thư ngày 14 tháng Ba, Hầu tước De
Livieri, "một người bạn đồng hương của Don Bosco, người đã sống
ở Bồ Đào Nha trong nhiều năm" đã tổ chức một bữa tiệc để vinh
danh cha Rua. Trong số những nhân vật nổi tiếng được mời có các
Giám tỉnh dòng Phanxicô, dòng Đa Minh, dòng Tên, dòng Vinh Sơn
và dòng Chúa Thánh Thần. Bề Trên Cả lịch sự đáp lại những lời nâng
cốc chúc mừng sau đó. Dường như việc này khuyến khích sự hào
phóng của Hầu tước, một người bạn tuyệt vời của những người
Salêdiêng ở Lisbon trong nhiều năm. Họ đang hoạt động ở một địa
điểm không tương xứng và đang tìm một nơi nào đó thuận tiện để
lập trường kỹ thuật của họ. Hầu tước tặng cha Rua một trăm ngàn
franc và một tài sản rộng lớn nơi các con cái ngài có thể xây dựng
một tòa nhà có khả năng đáp ứng nhu cầu của họ. Khi việc này được
công khai, cử chỉ này khuyến khích những người khác tặng tiền hoặc
hỗ trợ người Salêdiêng ... Tại Lisbon cha Rua đã huấn đức bằng tiếng
Pháp, hầu hết mọi người đều có thể hiểu.
Khi biết rằng Triều đình Hoàng gia sẽ trân quí nếu ngài viếng
thăm, cha Rua đã đến đó. Trước tiên ngài gặp Nữ hoàng Amelie,
người đã tiếp ngài hết sức ân cần. Bà đã muốn những người
Salêdiêng tiếp quản một trại cải huấn; nơi đây, theo lời bà, khi chúng
đi vào mới chỉ là những em gặp khó khăn thôi, nhưng khi bước ra

32.6 Page 316

▲torna in alto
316 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lại trở thành những kẻ vô lại thực sự. Bà nói thêm: “Nhưng vì nó là
một cơ sở của chính phủ, quá trình này sẽ không dễ dàng. Ít ra cũng
sẽ mất thời gian! Vì vậy, hãy phát triển công cuộc đó nhưng giữ cho
mình tự do khi làm thế. Tôi sẽ tiếp tục bảo vệ nó. Nó thực sự sẽ làm
nên chuyện tốt”. Đoạn cha Rua đi đến phòng hai đứa con của bà, các
hoàng tử trẻ, nhưng chỉ thấy người con út ở đó và trò chuyện với cậu
trong vài phút; ngài đã chúc lành và cho cậu một mề đay Đức Maria
Phù Hộ các Giáo Hữu. Ngày hôm sau ngài đến và gặp Lu-y Philip,
người thừa kế ngai vàng, cậu nói về việc sắp Rước Lễ lần đầu. Cha
Rua đeo một chiếc mề đay Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu quanh cổ
cậu và chúc lành cho cậu. Hoàng tử quỳ xuống kính cẩn nhận phép
lành. Cuối cùng, ngày 14 tháng Ba, ngài đến thăm Hoàng Thái Hậu,
Maria Pia Savoy, bà đã nồng nhiệt chào đón ngài.
Tại Pinheiro de Cima, không xa thủ đô, các tập sinh đã hăm hở
chờ Bề Trên Cả, bản thân ngài cũng rất thiết tha muốn gặp các em.
Ngài đến đó ngày 16 tháng Ba và nhận lời khấn của hai tập sinh.
Ngài rời Lisbon sáng hôm sau. Bạn bè và người hâm mộ đã đến nhà
ga để lại tiếp tục tỏ ra họ yêu mến ngài. Cha Rua nói với cha giám
đốc: "Tin cha đi, khi cha nói rằng cha để lại một phần trái tim của
mình ở Lisbon". Ngày hôm sau, cha giám đốc gửi cho ngài bản sao
món quà là khu đất từ Hầu tước Liveri, cha viết: “Các bạn trẻ của
chúng con không vui khi cha rời bỏ họ”. Một số các em bị ảnh hưởng
nhiều bởi những gì đã thấy và nghe, xin trở thành người Salêdiêng,
thực sự các em muốn trở thành những người truyền giáo. Tờ Correo
de Andalucia, vốn công bố tin tức về sự trở về Tây Ban Nha sắp tới
của cha Rua, đã viết: “Cha Rua đã gây ảnh hưởng rất nhiều đến các
thành phố mà ngài viếng thăm và dấu vết ngài viếng thăm sẽ không
biến mất quá nhanh”.
Andalucia
Từ Lisbon cha Rua đã đi thẳng đến Seville, nơi trở thành điểm khởi
hành cho chuyến thăm của ngài tới các nhà Andalucia.
Seville chào đón thật xúc động. Ngài chưa xuống khỏi tàu thì các
Cộng Tác viên đã xúm xít quanh ngài. Đức Tổng Giám mục thánh
thiện Marcelo Spinola - người mà chúng ta mang nợ cuốn sách nhỏ,

32.7 Page 317

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 317
Don Bosco y su Obra, xuất bản tại Barcelona năm 1884 - là người đầu
tiên chào đón ngài. Ở quảng trường phía trước nhà ga, nơi một hàng
xe ngựa xếp hàng, một đám đông vỗ tay hoan nghênh cha Rua. Đức
Tổng Giám mục mời cha Rua lên xe ngựa của mình. Một đám đông,
chủ yếu là công nhân, đang chờ đợi trước nhà Salêdiêng. Ngay khi
chiếc xe ngựa đến gần, một tiếng hô vang lên cùng với pháo hoa,
nhấn chìm tiếng các bạn trẻ đang hát theo nhạc đệm của ban nhạc.
Gần như được dân chúng nhấc lên cao, cha Rua hướng đến ngôi nhà
thờ lớn mà chẳng mấy chốc đã đầy những người là người. Cuối cùng
người ta cũng có thể nghe các học sinh long trọng hát Te Deum từ
bàn thờ. Sau đó, là những lời chào đón ở sân trong: một bài phát
biểu ngắn nhưng hào hùng từ một giáo sư đại học, những lời trìu
mến từ Đức Tổng Giám mục và một câu đáp từ cảm động của cha
Rua bằng tiếng Tây Ban Nha lưu loát. Dù rất khó khăn, cuối cùng
cha Rua cũng có thể thoát khỏi đám đông vây ngài tứ phía. Khi đã
xoay xở để về phòng mình, ngài thấy rằng họ đã cắt áo dòng của
mình, và ngài xin cha giám đốc, Phêrô Ricaldone, nói họ đừng làm
thế nữa. Cha Ricaldone hứa, nhưng để làm nguôi lòng ngài, cha nói
với một chút hài hước: "Xin cha thư giãn, ngày mai cha sẽ có một áo
dòng khác, tuy nhiên cho phép con nói, rằng họ chưa bao giờ muốn
cắt áo dòng của con." Cha Rua mỉm cười. Những ngày sau đó, một
số gia đình nổi tiếng gửi khăn tắm, bộ đồ sành sứ, vải lanh, quần áo
ngủ, thảm trang trí, đồ nội thất, hy vọng rằng chúng có thể được
ngài sử dụng ít nhất một lần và sau đó được giữ như thánh tích.
Các chuyến viếng thăm kéo dài hai ngày. Ngày 19 tháng Ba, cha
Rua muốn tham gia với những em lao động mừng lễ Thánh Giuse.
Sau đó, ngài đi đến các Nữ tu Salêdiêng để xem một cộng đoàn
Salêdiêng mới mở được dâng cho Thánh Bênêđictô ở Calatrava. Ngày
21 tháng Ba, ngài ngắt ngang chuyến thăm ở Seville để đi đến
trường cao đẳng đầu tiên ở Carmona, sau đó đến Valver del Camino,
nơi có các Nữ tu Salêdiêng, rồi đến những người Salêdiêng và các
Nữ tu ở Ecija, ở cộng đoàn mới tại Montilla, viện Utrera và trường
do các Nữ tu ở Jerez de la Chaontera điều hành, tất cả các thành phố

32.8 Page 318

▲torna in alto
318 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhỏ ở tỉnh Seville.420 Ở Ecija, trong lúc tàu đang vào ga, chuông
thành phố vang rền. Không thiếu một nhân vật quan trọng nào chào
đón ngài. Ngày hôm sau những đám đông người xuất hiện để chia
tay "vị thánh". Ngày 25 tháng Ba tại Utrera, nhà Salêdiêng đầu tiên
được thành lập ở Tây Ban Nha, ngài được chào đón trong thành phố,
họ nói, như thể ngài là một vị vua hay là thành viên của Hoàng Gia.
Cha Rua đã dâng Thánh Lễ Chúa Nhật Lễ Lá, sau đó đi tĩnh tâm với
những người trẻ ba ngày đầu tiên của Tuần Thánh, giải tội, ban
"huấn từ tối" và bài giảng kết thúc. Ngày 30 tháng Ba, Thứ Năm
Tuần Thánh, ngài quay trở lại Seville kịp lúc để chủ trì việc rửa chân
vào buổi tối.
Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, như cha Rinaldi viết, dường như ngài
rất xúc động khi tham dự đoàn rước truyền thống “Chúa Kitô chịu
chết”. Mọi người không ngừng ngưỡng mộ ngài, nhìn vẻ mặt trầm
tư sâu sắc của ngài. Tối Thứ Bảy Tuần Thánh, vào cuối Mùa Chay,
các thiếu niên từ Câu lạc bộ Công giáo tại Nguyện xá Thánh Biển
Đức đến đón ngài. Các cậu bé từ Nguyện xá không rời ngài lấy một
phút. Có một buổi văn nghệ với các bài phát biểu, bài hát, âm nhạc.
Sau đó, họ mời ngài ở lại xem một vở diễn, được cha Phêrô Ricaldone
viết kịch bản. Cha Rua vốn rất ủng hộ công việc các Nguyện xá, thể
hiện sự bình thản với mọi thứ đang diễn ra mà Ceria mô tả như là
“siêu nhân”. Cuối cùng khi đi qua nhà thờ, nơi đây các cha mẹ đang
đợi ngài để chúc lành cho con cái của họ. Những bài thánh ca
Andalucia được hát dưới bầu trời Seville trong vắt tạo nên một buổi
tối vui vẻ và kết thúc bằng một màn trình diễn pháo hoa.
Thứ hai sau Lễ Phục Sinh là màn trình diễn cuối cùng cho những
ngày ngài ở Seville. Nó diễn ra trong một hội trường xinh đẹp ở dinh
thự của Đức Tổng Giám mục Seville. Các cấp chính quyền, tầng lớp
quý tộc, những công dân được kính nể đều ở đó. Vào lúc cuối, Cha
Rua cảm ơn họ bằng tiếng Tây Ban Nha, rồi ngài xin Đức Tổng Giám
mục chúc lành Tu hội Salêdiêng và tất cả mọi người ở đó qua chính
'con người khiêm hạ' của ngài. Đức Tổng Giám mục muốn nói điều
420 Có lẽ không phải tất cả! Cũng đáng chú ý là Valver del Camino ở Huelva,
Montilla ở Córdoba và Jerez de la Frontera ở Cádiz.

32.9 Page 319

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 319
gì đó, trước hết, với cha Rua, sau đó là với các công dân của Seville.
Ngài nói cho cha Rua: “Cha có thể trở về nhà hạnh phúc và hài lòng.
Những người con Salêdiêng của cha đang làm việc rất tốt ở đây và
thành phố nhìn nhận điều này và kính trọng họ”. Sau đó quay sang
người dân ngài nói thêm: “Là một dân tộc anh chị em biết làm thế
nào trân trọng những lợi ích, nhận ra việc phục vụ, xem thấy điều gì
đáng được khen ngợi, hoan nghênh và kính trọng những người tạo
ra nó và đáp ứng những nhu cầu hôm nay. Một dân tộc có nguồn
lực như thế này là một dân tộc tuyệt vời có thể tạo cho mình đời
sống mới”. Cảnh tượng tiếp theo là một trong những cảm xúc không
thể diễn tả. Đức Tổng Giám mục phản đối rằng ngài không thể chấp
nhận lời thỉnh cầu của cha Rua xin chúc lành. Trái lại, cùng với những
người còn lại, ngài muốn Đấng Kế vị Don Bosco ban phép lành. Cha
Rua đã cố gắng để nhận [phép lành trước] bằng cách quỳ xuống,
nhưng Đức Tổng Giám mục đã tử tế buộc ngài phải đứng dậy và chúc
lành cho Đức Cha và những người khác. Kết cục là cả hai đều quỳ
gối. Trong một khoảnh khắc căn phòng rơi vào im lặng trong sự kinh
ngạc. Các nhân chứng nói rằng khi cha Rua nói những lời chúc lành,
bạn có thể nghe thấy rõ tiếng tim ngài đập.
Ở Seville và vùng phụ cận, cha Rua đã khuyến khích những người
Salêdiêng; ngài nói chuyện với các học sinh nội trú, "huấn từ tối" cho
tất cả mọi người; ngài ngồi giải tội mỗi buổi sáng và quan tâm đặc
biệt đến Nguyện xá ngày lễ. Tại Đại hội Bologna ngày 30 tháng
Năm, ngài đã nói nhiều về những lợi ích của Nguyện xá Barcelona
và của những Nguyện xá ở “nơi gần Seville”.
Các trẻ ở khu vực đó được chia thành hai phe, và thường đấu
với nhau bằng súng cao su mà tất cả các em đều biết cách sử
dụng cách khéo léo tuyệt vời. Cảnh sát thường xuyên can thiệp,
nhưng chẳng thành công hoặc chỉ được đôi chút, và thậm chí
đôi khi họ còn bị dính vào trận chiến vì bọn trẻ kéo bè chống
lại họ; trong khi đó một số cảnh khá hoang dã gây khó khăn
cho nơi này, dù không luôn luôn đổ máu. Đó là lúc mọi người
cảm thấy cần giáo dục những thiếu niên. Nguyện xá ngày lễ là
kết quả và những đứa trẻ đã chạy đến nó, thu hút bởi các trò

32.10 Page 320

▲torna in alto
320 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chơi và thú vui, và sau một vài tháng mọi người cảm nhận được
những lợi ích. Một số chiến tích giành được thắng lợi của nền
giáo dục tôn giáo đối với những nhân vật lêu lổng này được
treo quanh bức tượng của Đức Maria, trong nhà nguyện của
Nguyện xá, những súng cao su treo ở đó do những người cải
đạo trẻ tuổi vốn đã từ bỏ trò chơi buồn sầu và nguy hiểm vì
yêu mến Đức Mẹ. Với tôi dường như đây là câu chuyện tuyệt
vời trong lịch sử các Nguyện xá ngày lễ.421
Sáng ngày 4 tháng Tư, cha Rua chia tay Seville giữa những cách
biểu lộ mà chúng ta có thể tưởng tượng. Ngài đã hứa sẽ giảng huấn
đức cho các Cộng Tác viên tại Mura. Ngài đã ở đó nhưng vì lúc đó là
Tuần Thánh nên ngài không thể nói trước công chúng. Ngài quay lại
đó và có thể dành tất cả thời gian cho một số bạn hữu vốn đặc biệt
thích những người Salêdiêng.
Sau đó ngài tiếp tục đến Malaga Andalucia. Những người
Salêdiêng ở đó cũng được ngưỡng mộ vì họ phục vụ giới trẻ vô vị
lợi. Nguyện xá đầy những người trẻ. Từ ngày 7 đến 12 tháng Tư,
cha Rua đến thăm mọi người và biết tất cả mọi người. Các Cộng Tác
viên đã chuẩn bị một buổi tiếp đón long trọng để vinh danh ngài.
Đức Giám mục chủ trì. Khoảng tám trăm người đến, "bông hoa của
thành phố", như cha Ceria viết. Tối ngày 12 tháng Tư khi ngài ra đi
bằng tàu tới Almeria, một đám đông người đi theo ngài ra cảng. Khi
tàu nhổ neo và có thể nhìn thấy cha Rua trên cây cầu, đám đông quỳ
xuống khi một người lớn tiếng xin ngài chúc lành. Ngài chúc lành,
rồi tất cả vẫy tay chào tạm biệt; ngài vẫy tay chào lại.
Cha Rua đến Almeria sáng ngày 13 tháng Tư. Ngài phải lên tàu đi
Oran tại Almeria. Mặc dù không có nhà Salêdiêng ở đó cũng như
không có nhiều Cộng Tác viên, nhưng người ta đã long trọng chào
đón ngài: giáo sĩ và giáo dân. Sĩ quan chỉ huy cảng đưa ngài lên
thuyền của ông ta. Hai mươi xe ngựa hộ tống ngài đến dinh thự của
một Cộng Tác viên giàu có. Nhưng một cơn bão bất ngờ buộc họ
phải trì hoãn chuyến đi tới Oran. Cha Rua trông mệt mỏi đến nỗi cha
421 Trích bởi Amadei II, 535.

33 Pages 321-330

▲torna in alto

33.1 Page 321

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 321
Marenco đề nghị ngài từ bỏ chuyến đi đến châu Phi nhưng ngài nhất
định không làm thất vọng những người đang chờ ngài ở đó. Ngài
tìm một dấu hiệu từ trời. Khi họ đến gần cảng, ngài đã ném một
chiếc mề đay Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu xuống biển. "Nếu gió
lặng ở đây ngày mai, tôi sẽ rời đi". Thực vậy, ngày hôm sau trời
dường như yên ả. Vì vậy, cha Rua bắt đầu chuyến đi. Nhưng ngài đã
thất vọng vì cuộc hành trình đến Algeria bão tố đến nỗi thay vì mất
tám tiếng, tàu mất gần mười chín tiếng mới tới được Oran.
Sau Malaga, cha Marenco có lẽ hơi quá tình cảm, tóm tắt cách
bán đảo Iberia cảm nhận về Cha Rua.
Chúng tôi chuẩn bị nói lời tạm biệt với vùng đất Tây Ban
Nha cao quý, nơi đã cho cha Rua những chứng từ và sự tôn
kính vượt sức tưởng tượng của chúng tôi. Cuộc hành trình
của bề trên chúng ta không kém gì một chiến thắng không
bị gián đoạn. Ở nhiều nơi, ví dụ như tại Carmona, Ecija,
Mantilla, tôi khó có thể tin vào mắt mình. Vì sự nhiệt tình
của toàn thị trấn, và tất cả mọi người tôi tự nhủ với bản thân:
Tên của Don Bosco trong mắt và trái tim của đám đông thật
vĩ đại dường bao.422
Tiền đồn châu Phi
Cha Rua chỉ có thể dành bốn ngày ở châu Phi, hoặc chính xác hơn,
ở Algeria.423 Họ trông ngóng ngài vào thứ bảy ngày 15 tháng Tư.
Cha Rua, cùng với cha Marenco, cập bến sau một đêm khó khăn vào
ngày 16 tháng Sáu lúc 6 giờ sáng. Nhưng ngài đã tỏ ra can đảm theo
sự dũng cảm thông thường của mình. Công cuộc thánh Lu-y ở trung
tâm thành phố đã hy vọng được ngài viếng thăm trước tiên: nhưng
sự chậm trễ đột xuất ấy có nghĩa là Nguyện xá Đức Giêsu Thiếu Niên
trên đỉnh Echmuhl chiếm chỗ này.
422 Thư của G. Marenco gửi D. Belmonte, 11 tháng Tư năm 1899, trong Bollettino
Salesiano, tháng Sáu, 1899, 145.
423 Trong cuộc hành trình này, x. bài báo, có lẽ được Charles Bellamy viết,
«Première visite de Don Rua aux Missions d'Afrique», Bulletin Salésien, tháng Bảy,
1899, 175-180. Các đoạn trích được lấy từ bài báo này.

33.2 Page 322

▲torna in alto
322 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Ngày hôm đó là ngày Rước Lễ lần đầu, và theo phong tục Pháp
ngày này có tầm quan trọng lớn lao trong Nguyện xá. Cha Rua cử
hành Thánh Lễ lúc 8 giờ 30, và như Tập san Salêdiêng diễn tả phần
mở đầu có vẻ tình cảm ngài nói với các em trước khi Rước Lễ một
cách “đơn sơ và phù hợp với độ tuổi và hoàn cảnh của các em”; đức
tin, lòng mộ đạo và tình yêu tràn ra từ miệng ngài. Ngài được chào
đón trong nhà nơi một căn phòng được trang trí bằng hoa loa kèn.
Cha Rua đặc biệt thích một trong những câu nói mà ngài thấy được
viết ở đó. Trên các trang của một cuốn sách lớn mở nửa chừng, bạn
có thể đọc một câu từ sách Giảng Viên (30, 5): “Mortuus est pater... et
quasi non est mortuus, similem enim reliquyt sibi post se”, mà chúng ta
có thể dịch là: “Don Bosco, cha của chúng ta đã chết, nhưng chúng
ta có thể nói rằng ngài không chết, thực ra ngài đã để lại một người
khác trong cha Rua”. Niềm hạnh phúc của cha Rua đặc biệt tuôn tràn
khi bốn người Salêdiêng đầu tiên dành cho Algeria được giới thiệu
cho ngài.
Cỗ bàn đã sẵn ở ngoài trời dành cho bữa tiệc quy tụ gia đình ở
Oran: học sinh, cựu học sinh và các thành viên trong gia đình và các
hội viên từ hai nhà ở Oran. Trời mưa làm xáo trộn ngày lễ một chút
vào buổi chiều. Vì vậy sau đó tất cả họ tụ tập ở nhà nguyện thôn quê
Mater Admirabilis để hát thánh ca và kinh cầu và nghe cha Rua nói
"với sự thân mật kính cẩn". Đến giờ Kinh Tối, những người trẻ quỳ
quanh cha Rua, như sử biên niên nói với chúng ta, “Huấn từ tối của
ngài được giữ như một thánh tích, kết thúc một ngày mà một số
thanh niên nói là ngày tuyệt vời nhất trong tuổi thơ của mình, ngoan
đạo, hạnh phúc, tất cả trong tình thân mật Salêdiêng”.
Ngày thứ hai ở châu Phi được dành cho các chuyến viếng thăm ở
Oran. Ngài cẩn thận kiểm tra ngôi nhà ở Ekmuchl nơi ngài đang ở.
Sau đó ngài ở đường Menerville trong Nguyện xá Thánh Lu-y, làm
ngài nhớ đến các cuộc đàm phán vào năm 1890-91 với Đức Giám
mục Soubrier. Toàn bộ cơ sở đã được trang trí để vinh danh ngài.
Ngài thán phục cách trang trí. Chúng ta có thể tin người viết sử biên
niên khi viết: 'vật trang trí đẹp nhất trong ngôi nhà theo mắt ngài là
đám đông những người trẻ tuổi kéo đến chật ních và họ biểu hiện

33.3 Page 323

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 323
tình cảm nồng nhiệt bằng tiếng la hò và hát xướng'. Cha Rua đã đến
thăm Đức Giám mục mới, Đức Giám mục Cantrel và người tiền nhiệm
của ngài là Đức Giám mục Soubrier vốn là người mà ngài đã thương
lượng lập cơ sở của những người Salêdiêng trong thành phố. Đức
Giám mục Cantrel rất muốn thấy những người Salêdiêng 'đảm trách
một số công việc giáo dục nhiệt thành cho các lớp thuộc giới giàu
có'. Cha Rua có lẽ đang nhớ đến Valsalice lúc Don Bosco sinh tiền,
hứa sẽ suy nghĩ về điều đó.
Thứ ba 17 tháng Tư đã được dành riêng cho các Cộng Tác viên
Salêdiêng. Rất tận tâm với Hiệp hội, cha Rua nhiệt tình muốn làm
quen với họ. Để tránh làm thất vọng quá nhiều người quan trọng,
ngài đã quyết định có hai cuộc họp: một vào buổi sáng tại St. Louis,
Rue Menerville và một vào buổi chiều tại Eckmuhl. Đức cha Cantrel
chủ trì hội nghị buổi sáng. Theo sử biên niên cha Rua nói về Don
Bosco như là công cụ của Chúa Quan phòng, người con đặc ân của
Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, và ngài đã làm điều đó với phong
cách khiêm nhường và dùng từ ngữ đơn giản khiến mọi người xúc
động và cho họ cảm giác rằng họ đang lắng nghe Don Bosco kể
chính câu chuyện đời mình. Dù sao đây cũng là ấn tượng của Đức
Giám mục. Trong bài phát biểu của mình, ngài nói rằng bản thân
ngài rất vui mừng và với toàn thể giáo đoàn đã được nhìn và nghe
cha Rua, một Don Bosco khác, một người con thực sự, tràn đầy tinh
thần của người cha đáng kính của mình và có thể nói, người đã trở
thành hiện thân của Don Bosco. Tại Eckmuhl cuộc họp của các Cộng
Tác viên mang một phong cách giải trí với vở kịch: ‘Con đỡ đầu của
Thánh Lu-y’, xen kẽ với một số tiết mục khác. Cha Rua trò chuyện với
các Cộng Tác viên tại cửa khi họ ra về, tư vấn cho họ, trao ảnh và
chúc lành.
Cha Rua dành sáng ngày thứ tư cho các Nữ tu Salêdiêng ở Mersel
Kabir. Trong làng Thánh Anrê, họ chiếm một tòa nhà tương đối lớn,
ở tầng trệt họ sửa hai phòng lớn thành một nhà nguyện. Trưởng đội
pháo hoa thành phố đã thông báo người kế vị Don Bosco đến bằng
nhiều tiếng nổ ồn ào. Cha Rua thận trọng tuân giữ đúng các Nghi
thức, rồi làm phép nhà nguyện, đặt nó dưới tước hiệu Phù Hộ các

33.4 Page 324

▲torna in alto
324 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Giáo Hữu. Sau đó ngài dâng Thánh Lễ kèm theo lời ca tiếng hát do
ca đoàn của nhà. Sáng hôm đó ngài nhận lời khấn của một Nữ tu trẻ
bước vào Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Vào giờ ăn trưa
thị trưởng của Mers-el-Kebir, người không được khỏe, đã được vị phó
thứ nhất đến đại diện. Cha Rua cảm ơn ông ta vì 'sự tin tưởng và
lòng tốt mà chính quyền thành phố đã dành cho Nữ tu Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu. Vào buổi chiều, sử biên niên kể lại với chúng
ta: ‘tiếng một loạt pháo hoa đã chấm dứt sự kiện chính trong ngày
với độ chính xác đặc biệt, và bây giờ còn to gấp đôi, cha Rua chào
từ biệt các Nữ tu xứng đáng, các học sinh của họ, những công dân
tốt của Mers-el-Kebir và trên hết là linh mục giáo xứ, cảm ơn tất cả
vì buổi tiếp đón lâu giờ và ngài sẽ giữ như một món quà lưu niệm,
một điều gì đó nhiều hơn ngài đã mong đợi nhận được trên đất châu
Phi.
Cha Rua trở lại Eckmuhl; ở đây đang chuẩn bị cho buổi Dọn mình
Chết lành vào ngày hôm sau. Ngài dành thời gian sẵn sàng giải tội
cho người trẻ. Ngày 20 tháng Tư ngài rời Oran. Thánh Lễ mà ngài
cử hành lần đầu tiên ban sáng, có nhạc của Palestrina hát kèm, để
đáp lại mong ước mà ngài đã thường bày tỏ. Chiều tàn, các em học
sinh và các anh em đi đến bến cảng nơi Abd-el-Kader đang đợi cha
Rua và cha Marenco đưa họ đến Marseilles. Buổi chia tay không phải
là không có nước mắt. Hai ngày sau, những người ở Oran nhận được
một bức điện tín:
“Chuyến đi tốt đẹp. Cha Rua trìu mến chúc mừng cha giám đốc,
các hội viên, các nhà hảo tâm, những người trẻ ở Algeria. Chia sẻ
những lời chúc tốt đẹp tương tự -Marenco”.
Và hai ngày sau cha Rua tự tay viết một ghi chú ngắn gởi đến:
Cảng Marseilles ngày 22 tháng Tư năm 1899. Các hội viên,
những người trẻ thân mến, tinh thần cha vẫn còn phấn chấn
về thời gian lưu lại ở Oran, Xin Chúa chúc lành cho tất cả mọi
người! Tạ ơn Thiên Chúa chuyến đi tốt đẹp. Chúng tôi sắp lên
bờ. Chào các hội viên, những người trẻ và những học sinh
trong quá khứ nhân danh người bạn rất trìu mến của bạn
trong Chúa Giêsu và Đức Maria - Cha Micae Rua.

33.5 Page 325

▲torna in alto
Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia | 325
Cuộc hành trình Iberia đã liên tiếp đưa cha Rua đến Catalonia,
xứ Basque, Bồ Đào Nha, Andalusia và xa tận Algeria, đã kết thúc tại
cảng Marseilles. Khắp nơi ngài qua, cuộc thăm viếng của ngài đều
khuấy động cảm giác kính trọng và tôn kính. Một số nhận thấy một
Don Bosco trong ngài, vị thầy mà ngài đã cố gắng hết sức để tranh
đua. Đức Giám mục Oran thậm chí còn nói về “Don Bosco tái hiện
thân” ở cha Rua. Không gì có thể làm ngài xúc động hơn.

33.6 Page 326

▲torna in alto
326 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
23
Các Tổng Tu Nghị
Trong Mười Năm Đầu Tiên
Các Tổng Tu Nghị dưới thời Cha Rua
Tổng Tu Nghị là một yếu tố rất quan trọng đối với một Tu hội, và
do đó cũng quan trọng đối với Bề Trên Tổng quyền. Nó là một cuộc
họp sinh lợi giữa những người thích đáng nhất đối với Tu hội và là
những người thảo luận, đưa ra quyết định vì lợi ích chung để giữ gìn
hoặc củng cố Tu hội. Thuở ban đầu của Tu hội Salêdiêng, các Tổng
Tu Nghị diễn ra ba năm một lần. Trong mười năm đầu tiên khi cha
Rua là Bề Trên Cả, ngài triệu tập bốn Tổng Tu Nghị (1889, 1892,
1895, 1898). Trong mười hai năm sau khi ngài qua đời, chỉ có hai
(1901, 1904).
Bốn Tu Nghị trong thập niên đầu tiên thường bao gồm các thành
viên của Tu Nghị Bề trên, các Giám Tỉnh, tất cả các Giám đốc nhà,
Giáo tập và Tổng đại diện ở Rôma.424 Khoảng cách [không gian] đòi
phải thừa nhận những biện pháp đặc biệt cho các Trung tâm ở Mỹ
Châu. Vì vậy vào năm 1889, sau khi quyết định chỉ có các Giám tỉnh
Mỹ hoặc các đại biểu của họ tham gia Tổng Tu Nghị, cộng với một
Giám đốc cho mỗi Tỉnh, được Giám tỉnh chọn với sự đồng ý của Bề
Trên Cả, chỉ có Giám tỉnh, Gia-cô-bê Costamagna, và hai giám đốc và
các cha xứ, Têphanô Bourlot và Đaminh Albanello cuối cùng đã đến
được Torino. Các Tổng Tu Nghị, luôn luôn ngắn gọn, được tổ chức
tại Valsalice gần nơi an nghỉ cuối cùng của Don Bosco. Các đề xuất
và các tham luận của cha Rua, với cương vị Bề Trên Cả, đã được các
424 Đối với những Tổng Tu Nghị này, tôi dựa vào nhiều biên bản các cuộc họp,
trong FdR 4005D12-4035C10, và những bản tường thuật trong Annali II, 37-47,
238-249, 445-460, 732-742, luôn tìm cách nêu bật những buổi họp không báo
trước của Cha Rua.

33.7 Page 327

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Trong 10 Năm Đầu Tiên | 327
thư ký ghi chép lại trong suốt các phiên họp.
Tổng Tu Nghị Thứ Năm (1889)
Tổng Tu Nghị Thứ Năm của Tu hội Salêdiêng bắt đầu vào buổi tối
thứ hai ngày 2 tháng Chín năm 1889 và kết thúc sáng thứ bảy ngày
7. Có bốn mươi hai thành viên Tổng Tu Nghị. Ngay từ đầu, trước
tiên trong nhà nguyện, sau đó tại phiên họp khai mạc, cha Rua chuẩn
bị cho các tham dự viên cảm thức về những điều mà ngài muốn đưa
ra cho Tu Nghị . Ngài nói, để duy trì tinh thần đúng đắn trong Tu
hội và vì lợi ích của các linh hồn được giao phó cho mình, Tổng Tu
Nghị này nhắm đến sự tiến bộ của mỗi nhà. Vì vậy, cần phải cầu
nguyện để Tổng Tu Nghị được thành công. Vấn đề lớn lúc bấy giờ
là duy trì sao cho hoàn toàn phù hợp với ý tưởng và ý định của Don
Bosco. Cha Rua sợ bất kỳ hình thức đi sai đường nào.
Ngài thốt lên trong phiên họp khai mạc: "Một ý nghĩ làm tôi
đau lòng là Don Bosco không có ở đây ... Tuy nhiên chúng ta
có thể an ủi chính mình; chúng ta ở gần thi hài ngài; cũng như
các thánh tích luôn là một nguồn phúc lành, thì cách đặc biệt,
thi hài Don Bosco cũng thế; nhưng không chỉ thân xác, chính
tinh thần của ngài sẽ hướng dẫn và soi sáng chúng ta trong các
quyết nghị của những ủy ban và khóa họp khác nhau. ... Chúng
ta hãy cầu nguyện, nhưng hãy để mình đặc biệt được những
tình cảm của ngài thông biết. Chúng ta hãy xem xét kỹ ngài có
ý định gì, xem ngài được Chúa hướng dẫn như thế nào trong
các công cuộc của ngài ... Tất cả những gì ngài muốn [làm] là
vì vinh danh Thiên Chúa và vì lợi ích của các linh hồn. Tôi đã
xin Nguyện xá và những người khác cầu nguyện, nhưng tôi xin
anh em đặc biệt cầu nguyện, để không một đam mê nào có thể
che mờ trí tuệ chúng ta, và chúng ta chỉ nhắm vào lợi ích của
giới trẻ và các linh hồn. Chúng ta hãy đặt mình dưới sự chuyển
cầu của Đức Maria rất thánh, Ngai tòa Khôn ngoan, Thánh
Phanxicô Salê, để chúng ta luôn có thể hành động theo tinh
thần của ngài. Với sự trợ giúp này cùng với Don Bosco trợ lực,
mọi sự sẽ diễn tiến tốt đẹp. Chúng ta hãy tin tưởng điều này:

33.8 Page 328

▲torna in alto
328 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tất cả mọi nghị quyết của chúng ta sẽ là vì lợi ích của Giáo Hội,
xã hội dân sự và càng làm vinh danh Thiên Chúa".425
Ngày 3 tháng Chín, vào cuối phiên họp bàn về việc học của các
tư giáo, một vấn đề mà chúng ta đã đề cập đến nhiều (Chương 15),
cha Rua cảm thấy cần phải đưa ra một bài học cho các giám đốc quy
tụ ở đó, khi nói rằng họ phải như đèn hiệu cho các anh em trẻ của
mình. Ngày 4 tháng Chín, một lần nữa ngài lại xen vào cách cư xử
của một giám đốc: khi phải sửa lỗi một người anh em, Giám đốc phải
bình tĩnh; đặc biệt nên tránh những biểu hiện không thích đáng như
đôi khi xảy ra, bởi vì cá nhân đó ghi nhớ suốt đời những điều này.
Trong những cảnh báo này, chúng ta thấy cha Rua là 'vị kinh lược'
của các nhà được sát nhập trong những năm 1870.
Trong suốt phiên họp thứ ba, khi Tổng Tu Nghị đang thảo luận
những ngày nghỉ lễ cho các đệ tử, tập sinh và các hội viên, ngài bước
lên bục phát biểu, nhắc nhớ lại cách Don Bosco luôn khuyên các hội
viên để cho bản thân bận rộn cách hữu ích trong suốt những ngày
nghỉ, như ngài đã làm khi là một tư giáo và với các thiếu niên trong
những thuở ban đầu. Sau đó nảy sinh câu hỏi về các dịp cho các đệ
tử tham dự đợt tĩnh tâm cho những người Salêdiêng trong những
ngày nghỉ sau Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Về việc này cha Rua nói:
“Năm nay có 54 thanh niên từ Nguyện xá [những người đã tham dự
đợt Tĩnh tâm] chỉ có 4 hoặc 5 người tiếp tục sống đời thế tục, số khác
vào chủng viện và 42 người đến với Tu hội. Đợt Tĩnh tâm đã giúp họ
đưa ra quyết định đúng đắn. Nếu họ về nhà trước, bao nhiêu người
có thể đã quay lại?”426 Hôm ấy, ý kiến của ngài thắng thế: các đệ tử
sẽ không đi về nghỉ hè với gia đình của các em ngay lập tức nhưng
tham dự vào đợt tĩnh tâm hè vì những người Salêdiêng.
Buổi sáng ngày 5 tháng Chín, cha Rua lại nói với các giám đốc
một lần nữa, nhấn mạnh một số điểm rõ ràng: người thuộc quyền
phải được đối xử như anh em, giao cho mỗi người nhiệm vụ theo
khả năng của họ; cấm biện pháp bạo lực, và hơn thế nữa, cấm vuốt
425 Báo cáo từ Tổng Tu Nghị Thứ Năm ở Valsalice, FdR 4014B4-5.
426 Báo cáo từ Tổng Tu Nghị Thứ Năm ở Valsalice, FDR 4014C8.

33.9 Page 329

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Trong 10 Năm Đầu Tiên | 329
ve hoặc những biểu hiện tình cảm với người trẻ; họ phải bác ái chăm
sóc các Sư huynh và những người thợ khác trong nhà, và không đối
xử với họ chỉ như những người giúp việc; họ phải quan tâm không
những đến việc dạy dỗ người trẻ mà còn cả đến sức khỏe tinh thần
và thể chất của các em; cuối cùng, Giám đốc phải đích thân tham dự
vào việc nuôi dưỡng ơn gọi, dạy cho giới trẻ cách xưng tội sốt sắng:
"Don Bosco đã dành rất nhiều thời gian cho việc này nên hãy bắt
chước ngài." Cha Rua luôn luôn dõi theo giáo huấn và gương mẫu
của Don Bosco.
Tổng Tu Nghị Thứ Sáu (1892)
Tổng Tu Nghị Thứ Sáu được tổ chức tại Valsalice từ ngày 29 tháng
Tám đến ngày 7 tháng Chín năm 1892. Trong thư triệu tập ngày 12
tháng Ba, cha Rua đã giao phó cho Tổng Tu Nghị này nhiệm vụ
nghiên cứu những cách tốt nhất để bảo đảm Tu hội Salêdiêng được
củng cố và phát triển, vì lợi ích thiêng liêng và toàn bộ của các hội
viên. Lần này Tổng Tu Nghị thực sự trở thành "toàn thể"! Tất cả các
Giám đốc của các nhà đều can dự vào, ngay cả những cộng đoàn
nhỏ nhất. Có lẽ vì thế mà trong suốt Tổng Tu Nghị, vấn đề tham dự
của họ đã được nêu lên. Điều hành viên được chỉ định, cha Phanxicô
Cerruti, đã viết: "Bề Trên Cả đã yêu cầu Tổng Tu Nghị kế tiếp thực
hiện nhiệm vụ trả lời câu hỏi này và đã quyết định rằng năm nay
chúng ta giữ truyền thống của những năm trước, rằng các Giám đốc
của những nhà này sẽ tham dự Tổng Tu Nghị, và việc bầu Tu Nghị
Bề trên, nhưng được chuẩn chước không cần phải đưa một anh em
đã khấn theo". Có sáu mươi chín thành viên Tổng Tu Nghị vào ngày
khai mạc.
Bảy lược đồ đã được đưa ra để Tổng Tu Nghị xem xét, như liệt kê
ở đây: 1) học thần học; 2) duyệt lại và đưa vào một cuốn sách duy
nhất tất cả các nghị quyết của các Tổng Tu Nghị khác nhau; 3) một
thủ bản đặc biệt về việc đạo đức cho những người Salêdiêng và các
thiếu niên, và những tiêu chuẩn biên soạn; 4) những quy chế cho các
nhà dành cho 'ascritti' [tập sinh] và học viện cho các giáo sĩ; 5) các
quy chế đối với 'nhà cung cấp' của Tỉnh và người chịu trách nhiệm
toàn bộ việc điều hành các xưởng thợ; 6) nghiên cứu Thông điệp

33.10 Page 330

▲torna in alto
330 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Rerum novarum của Đức Thánh Cha về vấn đề người lao động và làm
sao áp dụng cụ thể trong lưu xá và Nguyện xá của chúng ta; 7) các
đề xuất khác nhau từ các hội viên. Chương trình này thấy rằng công
việc sẽ bị gián đoạn vào ngày 31 tháng Tám, để bầu các thành viên
vào Tu Nghị Bề trên.
Trong buổi lễ khai mạc, diễn ra trong nhà nguyện tại Valsalice,
cha Rua nói với các thành viên Tổng Tu Nghị. Ngài lưu ý rằng đây là
lần đầu tiên từ khi vắng mặt Don Bosco, họ sẽ có một Hội nghị để
bầu các bề trên, "nhưng kỷ niệm về ngài sống động giữa chúng ta
đến nỗi chúng ta thực sự có thể coi như ngài có mặt". Ngài nói rằng
công cuộc Salêdiêng đã trải qua quá trình mở rộng đáng kể trong
sáu năm qua: giữa năm 1886 và 1892, con số hội viên và các nhà
đã tăng hơn gấp đôi. Ngài có thể thấy rõ ràng bàn tay của Don Bosco
trong việc này; tháng Mười Hai năm 1887, vài ngày trước khi bị bệnh
lần cuối, ngài đã nói với một nhóm Cộng Tác viên: "Anh chị em hãy
cầu nguyện để cha có thể chết lành. Thực ra cha có thể làm được
nhiều hơn cho con cái và những thiếu niên nghèo khổ của cha ở thiên
đàng hơn là ở dưới thế".
Tối ngày 30 tháng Tám, một ngày dành riêng để làm việc trong
các ủy ban, trước khi Chầu Thánh Thể, cha Rua đã cố gắng trả lời
một số chỉ trích đang lan truyền. Vào thời điểm đó, việc phân bổ
nhân sự trong các nhà của Tu hội được các bề trên thượng cấp sắp
xếp, trên thực tế là bởi cha Cerruti, Tổng Cố vấn lo học vụ. Một số
người nghĩ rằng Tu Nghị Bề trên đã quá dễ dàng chấp nhận các đề
xuất cho các công cuộc mới và do đó thấy mình không thể tìm được
nhân sự cần thiết cho những ngôi nhà hiện có. Cha Rua cho mọi
người biết các bề trên thượng cấp mạnh mẽ chống lại các yêu cầu,
ngoại trừ khi các vị có thẩm quyền ở Rôma can thiệp để bắt buộc
thực hiện những yêu cầu này. Theo những người khác, nhân sự được
chỉ định không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của địa
phương: Cha Rua trả lời là, đúng vậy; Hội đồng ấy không thể xem
xét hết mọi tình huống khác nhau.427 Và cuối cùng, những người
427 Về phần chúng tôi, chúng tôi xét thấy đây là lúc giao phó nhiệm vụ này cho
các Giám Tỉnh.

34 Pages 331-340

▲torna in alto

34.1 Page 331

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Trong 10 Năm Đầu Tiên | 331
khác đặt câu hỏi về việc đào luyện các tư giáo. Cha Rua khẳng định
việc đào luyện được thực hiện đúng cách, nhưng căn cứ vào những
lỗi không thể tránh khỏi của các cá nhân thì các nhà có bổn phận
làm gì đó để giúp đỡ những hội viên trẻ tuổi.
Ngày 1 tháng Chín, đối diện với vấn đề gom tất cả các nghị quyết
của các Tổng Tu Nghị vào một cuốn sách, các thành viên Tổng Tu
Nghị xét thấy yêu cầu Bề trên thành lập một ủy ban để thực hiện
việc này thì khôn ngoan hơn. Ngày 2 tháng Chín, suy tư về cuốn thủ
bản các việc đạo đức dành cho các thiếu niên và hội viên đã khiến
các thành viên Tổng Tu Nghị yêu cầu giữ tiếng Latinh cho những
kinh nguyện chung: Pater, Ave, Credo, Angele Dei, Angelus. Cha Rua
đã nắm lấy cơ hội đưa ra một 'lời biện hộ' cho ngôn ngữ này: "Cũng
giống như những kẻ chuyên quyền muốn xóa bỏ ngôn ngữ của một
dân tộc để đổi họ sang chế độ nô lệ, vì vậy kẻ thù của Đức tin Công
giáo muốn xóa bỏ tiếng Latinh để hủy hoại sự hiệp nhất của Giáo
hội. Do đó trong công cuộc của mình, chúng ta phải nhấn mạnh,
thậm chí chống lại thói quen thâm căn cố đế, xen tiếng Latinh vào
bất cứ khi nào có thể, như được sử dụng trong Phụng vụ của Giáo
hội Rôma".428 Vatican II sẽ khai mạc bảy mươi năm sau: có lẽ một số
quyết định của Công đồng này sẽ làm cha Rua bối rối.
Ngày đó, trong khi họ đang tranh luận về các quy định cho Quản
trị viên Tỉnh [Quản Lý] và người điều hành các xưởng thợ trong các
trường kỹ thuật, cha Rua tìm một cách đưa ra một số khuyến nghị
rút ra từ Lời Nhắc Nhở thân tình cho các Giám đốc: "Các Giám đốc được
khuyên phải biết rõ nhân sự của mình, khi gọi riêng các cá nhân và
đọc cho họ nghe phần Quy luật liên quan đến bổn phận của họ, như
vậy khuyên bảo họ phù hợp. Thứ hai là khuyên các giám đốc nên
hết sức chú ý để biết về các mối tương quan luân lý giữa các hộ trực
và giáo viên, giữa họ và học sinh, và giữa học sinh với nhau. Lời
khuyên thứ ba là trong khi bàn hỏi, với Quy luật trong tay, họ đặt
câu hỏi cho những người thuộc cấp và tìm hiểu những khó khăn họ
gặp phải trong các nhiệm vụ của họ. Cuối cùng, khuyên họ liên tục
cổ vũ lòng sùng mộ Đức Maria Rất Thánh và Bí Tích Thánh Thể, hai
428 Tổng Tu Nghị Thứ Sáu – tháng Tám - tháng Chin, 1892, FdR 4019E11-12.

34.2 Page 332

▲torna in alto
332 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nguồn ân sủng vô tận".429
Ngày 3 tháng Chín, khi giới thiệu hội nghị khoáng đại, cha Rua
nói nhiều về chủ đề ơn gọi và cách nuôi dưỡng ơn gọi. Một trong
những điều ngài nói là cần phải trang bị cho người trẻ chống lại tinh
thần thế tục, qua báo chí, sách xấu và bạn xấu, chăm sóc những ơn
gọi triển nở. Khi có cơ hội, ngài khuyên các cha xứ và các linh mục
khác trong các giáo xứ chăm sóc các ơn gọi. Cần phải rất chú ý đến
người trẻ khi các em phấn đấu giữ nhân đức trong sạch: chúng ta có
thể thỏa hiệp đối với những khả năng trí tuệ, nhưng không bao giờ
thỏa hiệp trong lĩnh vực này. Công việc và gương sáng từ người
Salêdiêng là phương thế hiệu quả nhất để thu hút giới trẻ và khuyến
khích các em đi theo đời sống tu sĩ hoặc giáo sĩ. Sau đó, ngài bàn
đến vấn đề các ngày nghỉ, thời gian mà cha Rua, cũng như Don
Bosco trước đây, nhìn với sự nghi ngờ. Ngài nói, nếu chúng ta không
thể bỏ những ngày nghỉ hè, ít nhất hãy cố gắng chia nhỏ một chút.
Giám đốc phải tỏ ra kiên nhẫn và tử tế khi chăm sóc những ơn gọi,
cầu nguyện cho các em, và cam đoan với các em rằng mình đang
cầu nguyện cho các em. Vào năm cuối phổ thông cơ sở, ngài phải
khuyên học sinh chọn bậc sống mà sẽ đem lại cho các em niềm an
ủi nhất vào giờ chết. Nhưng ngài nên can ngăn một thanh niên chọn
đời sống giáo sĩ chỉ vì lợi ích của gia đình mình hoặc vì lợi ích tài
chính ...
Cùng ngày, cuộc thảo luận về các quy chế cho tập viện (vào thời
điểm đó họ thích nói về "nhà cho ascritti" hơn) và học viện, khiến Bề
Trên Cả đưa ra một số hướng dẫn. Nhận diện sớm, trong các nhà,
các ứng viên có khả năng thích hợp để trở thành giáo sĩ hoặc anh em
Salêdiêng, và tổ chức hai buổi huấn đức hàng tháng cho họ quả là
thích hợp. Đối với những em này, việc bắt đầu sử dụng thủ bản các
việc đạo đức [Companion of Youth] là điều tốt, để dạy các em cách cư
xử như những Kitô hữu tốt, nhưng không bao giờ nói về lời khấn hay
Tu hội. Sau đó đến tập viện, gần giống như một cái rây tách trấu
khỏi hạt lúa mì. Tu hội Salêdiêng không dành cho những người sống
thế tục. "Chúng ta cần những thành viên đáng tin cậy, những người
429 Tổng Tu Nghị Thứ Sáu – tháng Tám - tháng Chin, 1892, FdR 4019E12-4020A1.

34.3 Page 333

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Trong 10 Năm Đầu Tiên | 333
đến với chúng ta nhắm đến sự hoàn thiện Kitô hữu".430 Như vậy, Tập
sư chỉ chấp nhận tuyên khấn cũng như các giám đốc chỉ giới thiệu
tiến chức cho những ứng viên được bảo đảm về sự đáng tin cậy luân
lý.
Cha Rua đã kết thúc hội nghị khoáng đại ngày 5 tháng Chín với
lời khích lệ về sự khiêm nhường tập thể: “Chúng ta nên tạ ơn Chúa,
Đấng đã tiếp tục chúc lành cho Tu hội chúng ta và không bao giờ để
nó bị cản trở: nhiều đến mức chúng ta có thể nói nihil
habentes…chúng ta không thiếu gì cả.431 Tất cả điều này có nghĩa là
chúng ta phải nên khiêm nhường và hèn mọn, và tự coi mình là bé
nhỏ nhất giữa các Tu hội. Chúng ta không được chỉ trích nhưng biết
ơn họ, vì cách này hay cách khác tất cả đều giúp đỡ chúng ta ở châu
Âu hay châu Mỹ. Vì vậy chúng ta không bao giờ được chỉ trích và
không bao giờ xem thường các Tu hội ấy. Điều ấy mới có thể mang
lại điều tốt lành và cứu chúng ta khỏi nhiều phiền toái".432
Ngày 6 tháng Chín, trong khóa bế mạc, cha Rua để lại cho các
thành viên Tổng Tu Nghị ba nhiệm vụ được thư ký tóm tắt ngắn gọn:
"1. Cổ xúy Hiệp hội Cộng Tác viên Salêdiêng; 2. Quảng bá và phổ
biến tờ Catholic Readings [Tập san Công giáo]; 3. làm cho mọi người
biết và truyền bá Hội Thánh Tâm Chúa Giêsu".433
Các kết quả của Tổng Tu Nghị Thứ Sáu đã được thông tri cho các
hội viên trong thư luân lưu ngày 11 tháng Mười Một năm 1892.434
Tổng Tu Nghị Thứ Bảy (1895)
Tổng Tu Nghị Thứ Bảy đặc biệt ngắn, diễn ra từ ngày 4 đến ngày
7 tháng Chín năm 1895. Theo biên bản các phiên họp, cha Rua đã
có một ít tham luận. Vào đầu mỗi khóa họp, ngài đọc và nhận xét
ngắn gọn một đoạn văn từ Những Nhắc Nhở thân tình của Don Bosco
cho các giám đốc, một thích ứng hơi mở rộng về lời khuyên ngài đã
430 Tổng Tu Nghị Thứ Sáu – tháng Tám - tháng Chin, 1892, FdR 4020A7.
431 Phỏng theo 2 Cor. 6,10: «Tamquam nihil habentes et omnia possidentes».
432 Tổng Tu Nghị Thứ Sáu – tháng Tám - tháng Chin, 1892, FdR 4020B5-6.
433 Tổng Tu Nghị Thứ Sáu – tháng Tám - tháng Chin, 1892, FdR 4020B7-8.
434 «Relazione del sesto Capitolo Generale e delle nuove Ispettorie», in L.C., 85-92.

34.4 Page 334

▲torna in alto
334 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhận được khi được cử đến Mirabello làm Giám đốc.
Khi xét đến vấn đề dạy đạo trong các trường học Salêdiêng, cha
Rua yêu cầu, như Don Bosco đã làm trước đó, phải dạy giáo lý và
đọc ad litteram, từng chữ một, và tránh giải thích dài dòng. Vấn đề
thời gian dành cho việc dạy đạo của các thiếu niên lao động đã gây
nhiều tranh luận. Cha Rua không can thiệp trong những cuộc tranh
luận này. Chỉ có một lưu ý ghi lại ngài hối tiếc rằng trong một số
nhà, đặc biệt là ở Nguyện xá ở Torino, việc dạy đạo đã giảm xuống
còn một giờ một tuần và chỉ trong sáu tháng của năm học. Tuy nhiên,
ngài quan sát thấy rằng khác với các thể chế đòi hỏi khắt khe khác
được các thành viên của Tổng Tu Nghị chỉ ra, những người Salêdiêng
sử dụng các phương tiện khác để bảo đảm việc dạy đạo cho người
trẻ: huấn từ tối, giảng ngày Chúa Nhật, khích lệ trong lớp học, v.v.
Ngài nói, nhờ vậy “việc dạy đạo của chúng ta đầy đủ như những cơ
sở khác". Cuối cùng, khi nói đến các Cộng Tác viên và câu hỏi phát
sinh từ sự đóng góp của các nhà cho các chi phí của Tập san Salêdiêng,
ngài nhất định xin các Giám đốc chỉ đặt số tiền tối thiểu là một lira
một năm cho mỗi số.
Ngày 7 tháng Chín, trong khóa họp kết thúc, cha Rua đọc bức thư
của một người ngưỡng mộ đã tham gia Đại hội tại Bologna. Thư bày
tỏ hy vọng rằng người Salêdiêng sẽ tiếp tục tỏa sáng nhờ khiêm
nhường, trong sạch và giàu lòng bác ái. Biên bản của cuộc họp cuối
cùng được chín mươi sáu thành viên Tổng Tu Nghị ký.
Tổng Tu Nghị Thứ Tám (1898)
Tổng Tu Nghị Thứ Tám quy tụ hai trăm mười tám thành viên. Nó
được tổ chức tại Valsalice từ ngày 29 tháng Tám đến ngày 7 tháng
Chín năm 1898.
Tổng Tu Nghị này được chuẩn bị suốt hơn bảy tháng, dưới sự điều
hành của Phanxicô Cerruti. Tất cả các thành viên tham dự khóa họp
khai mạc vào tối ngày 29, dưới sự chủ tọa của cha Rua. Có các Bề
Trên Thượng cấp (ngoại trừ cha Lazzero bị bệnh), các Đức Giám mục
Gioan Cagliero và Giacobê Costamagna là đại diện của Bề Trên Cả ở
hai phía của Nam Mỹ, Tổng đại diện [tại Rôma], Caesar Cagliero, Tập

34.5 Page 335

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Trong 10 Năm Đầu Tiên | 335
sư, Giulio Barberis, vị đại diện cho các Nữ tu Salêdiêng, cha Gioan
Marenco, 10 Giám tỉnh, 124 giám đốc, và 71 hội viên đại biểu (các
cộng thể có ít hơn sáu anh em không có quyền bầu người đi cùng
Giám đốc). Công việc được chia thành mười ủy ban. Sẽ đề cập đến
ba chủ đề: a) làm thế nào sống kiên trì trong ơn gọi; b) sắp xếp việc
giảng dạy triết học và thần học như thế nào; c) làm thế nào để những
người Salêdiêng giữ nguyên vẹn tinh thần Don Bosco. Đó là những
chủ đề đặc biệt tâm huyết với cha Rua, nhưng biên bản không ghi
lại tham luận của ngài vào những ngày diễn ra các cuộc thảo luận
này (ngày 31 tháng Tám, từ ngày 1 đến ngày 2 tháng Chín). Ngày
30 tháng Tám được dành riêng cho việc bầu các thành viên Tu Nghị
Bề trên. Nhiệm vụ sáu năm, bắt đầu vào năm 1892, kết thúc vào
ngày 31 tháng Tám. Bản thân cha Rua muốn đệ trình cuộc bỏ phiếu
cho nhiệm vụ làm Bề Trên Cả của mình.
Cha Rua được tái đắc cử làm Bề Trên Cả
Thực vậy, năm tháng trôi qua và thế kỷ 19 gần kết thúc. Cha Rua
đang nghĩ đến người kế vị của mình. Năm 1888 Tòa Thánh đã thừa
nhận ngài mười hai năm. Ngài sẽ kết thúc sự ủy nhiệm ấy năm 1900.
Nhưng ngài có lý do chính đáng để muốn kết thúc sớm hơn.435 Ngài
trình bày những lý do này trong một thư luân lưu ngày 20 tháng
Giêng năm 1898. Ngài nói rằng nhiệm vụ mười hai năm của ngài sẽ
kết thúc vào ngày 11 tháng Hai năm 1900. Tuy nhiên, ngài nói tiếp:
Năm nay, người cha yêu quý của chúng ta, Don Bosco, hoàn
thành giai đoạn thứ hai mười hai năm với cương vị Bề Trên Cả,
từ năm 1874, khi Tòa Thánh chấp thuận Hiến Luật của chúng
ta. Đức Thánh Cha Lê-ô XIII, đã chọn tôi kế vị ngài, trong suốt
thời gian mười hai năm thứ hai của ngài, và tôi hoàn tất nhiệm
vụ của mình trong năm nay, khi mười hai năm đã hết. Nếu tôi
phải hoàn tất chức vụ trong mười hai năm, thì cuộc bầu cử Bề
Trên Cả sẽ diễn ra vào một thời điểm bất tiện, điều đó sẽ gây
ra những khó khăn nghiêm trọng cho các nhà của chúng ta. Vì
vậy, tôi mời các thành viên của Tổng Tu Nghị Thứ Tám tổ chức
435 Với đoạn văn này tôi theo, Annali II, 732-737, trích dẫn từ đây.

34.6 Page 336

▲torna in alto
336 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cuộc bầu cử Bề Trên Cả cùng một lúc với các cuộc bầu cử cho
các thành viên khác của Tu Nghị Bề trên.436
Ngài có quyền không thi hành chức vụ hai năm. Tuy nhiên, để
tiến hành một cách hoàn toàn bình thường và không tạo cảm giác
về sự thất bại trong nhiệm vụ được Đức Thánh Cha giao phó, ngày
4 tháng Mười Một năm 1884, cha Rua yêu cầu Tổng Đại diện ở
Rôma của ngài, Caesar Cagliero, nói chuyện với Đức Thánh Cha về
việc này hoặc Vị Chủ tịch của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu
hoặc thậm chí nếu cần, với những người khác, để chấp thuận biện
pháp mà ngài đề xuất đơn thuần chỉ vì sự tiện lợi cho chúng ta. Vị
Tổng Đại diện gửi thỉnh nguyện lên Đức Giáo Hoàng với câu kết như
sau: "Cha Rua nhất định trở lại vấn đề này và gửi đến Đức Thánh
Cha, không phải là ngài bị cách chức, mà để tránh những vấn đề
nghiêm trọng nảy sinh từ việc quy tụ 300 anh em từ khắp thế giới,
tốn kém rất nhiều tiền cho rất nhiều người để thực hiện cuộc hành
trình này". Câu trả lời đến ngày 20 tháng Tám thông qua Đức Hồng
y Parocchi, Vị Bảo trợ của Tu hội. Nó thông báo cho cha Rua rằng
Đức Thánh Cha: "attentis specialibus casus adiunctis attentoque insuperu
consensu Rectoris Maioris Sodalium Salesianorum" [xem xét tính chất đặc
biệt của biện pháp và cũng xét sự đồng ý của Bề trên Tổng quyền Dòng
Salêdiêng], chấp thuận mọi năng quyền thích hợp và cần thiết. Bảy
ngày sau, Ngoại trưởng Rampolla, trong một bức thư gửi cho vị Tổng
Đại diện, chuyển một phép lành đặc biệt từ Đức Thánh Cha cho cha
Rua:
Đức Thánh Cha đã vui thích khi biết cuộc họp của tất cả các
giám đốc và hội viên có quyền bầu Bề Trên Cả và các thành
viên của Tu Nghị Bề trên Thượng cấp sẽ diễn ra tại Torino vào
ngày 29 tháng Tám tới. Ngài cũng đã thích thú biết rằng sau
đó Tổng Tu Nghị của những người Salêdiêng của Don Bosco sẽ
diễn ra. Vì muốn tỏ dấu thiện chí đối với Tu hội, Đức Thánh
Cha vui mừng ban phép lành Tòa Thánh cho tất cả các hội viên
trong cả hai cuộc họp, nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ muôn
436 Thư luân lưu ngày 20 tháng Giêng, 1898, trong L.C., 162-175.

34.7 Page 337

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Trong 10 Năm Đầu Tiên | 337
phúc lành trên họ, để họ có thể làm hết sức mình để vinh quang
Thiên Chúa thêm rạng ngời và vì lợi ích của Giáo Hội.
Với cách này không ai có thể trách cha Rua về sáng kiến của ngài.
Khi đã nhận được phép lành của Đức Giáo Hoàng, thậm chí trông
ngài còn hạnh phúc hơn.
Sáng ngày 30 tháng Tám, sau khi khẩn cầu Chúa Thánh Thần, cha
Rua trình bày trường hợp của mình theo lời lẽ mà chúng ta đã biết.
Sau đó, ngài tiếp tục đọc một đoạn trong Quy luật và những suy nghĩ
cân nhắc của Tổng Tu Nghị liên quan đến việc bầu cử, cả hai Đức
Giám mục Cagliero và Costamagna đều có một bài phát biểu ngắn.
Cagliero, người không thích những thay đổi trong Tu Nghị Bề trên,
đã yêu cầu các thành viên của Tổng Tu Nghị tôn trọng "các đạo luật
xưa" của Tu hội. Và Costamagna đã chấp nhận điều này. Tổng Quản
Lý Belmonte chủ trì. Hai Giám mục đến ngồi tại bàn chủ tịch. Khi
được yêu cầu lên trên, cha Rua dứt khoát từ chối và ngồi ở hàng ghế
đầu với các thư ký của phiên họp. Họ đã hát Veni Creator và giữa sự
thinh lặng đầy ý thức, Đức Giám mục Cagliero đọc bức thư của Đức
Hồng y Rampolla nói về Đức Giáo Hoàng ban phép lành trên hội
nghị. Sau đó, điều phối viên điểm danh và 217 trong số 227 thành
viên của Tổng Tu Nghị từ ngày hôm trước đáp lại có mặt, (10 người
vắng mặt vì lý do chính đáng). Một ghi chú từ cha Rua được đọc lên:
ngài thông báo hai Giám mục không đủ tư cách bầu cử và người hội
viên được đề cử cho vai trò của Bề Trên Cả không được già quá, điều
này sẽ cho phép vị Bề trên thực hiện một vai trò khó khăn trong
những hoàn cảnh tốt nhất.
Cuộc bầu cử bao gồm ba người kiểm phiếu và hai thư ký. Hội nghị
đã được thông báo rằng đa số tuyệt đối là 110 phiếu. Cha Rua đã
được bầu ngay lập tức với 213 phiếu. Chỉ thiếu bốn phiếu để làm
cho nó thành một cuộc bỏ phiếu nhất trí. Sau đó chúng tôi được biết
rằng hai anh em, do bị ấn tượng bởi ghi chú của cha Rua, đã chọn
vị Cố vấn Bertello và người thứ ba, một đại biểu sư huynh từ
Montevideo (Uruguay), đã chỉ viết trên lá phiếu "Don Bosco muôn
năm". Lá phiếu thứ tư chọn cho cha Gioan Marenco, lúc đó là Đại
diện cho các Nữ tu Salêdiêng, chỉ có thể là của cha Rua.

34.8 Page 338

▲torna in alto
338 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Vào cuối cuộc bầu cử cho các thành viên khác của Tu Nghị Bề trên,
cha Rua đã bước lên bục cám ơn những người có mặt vì đã đồng ý
tái cử ngài. Ngài nhìn thấy trong việc này chỉ là lòng tôn kính dành
cho Don Bosco, người đã chọn ngài làm vị đại diện và là một dấu
hiệu của lòng tận tụy đối với Đức Giáo Hoàng, người đã chọn ngài
là người kế vị cho Don Bosco. Ngài thúc giục hội nghị duy trì những
tình cảm này vì đó sẽ bảo đảm hiệu quả là sự thịnh vượng cho toàn
Tu hội.
Ngày 3 tháng Chín, tất cả các thành viên của Tổng Tu Nghị tham
gia vào nghi thức làm phép viên đá đầu tiên cho nhà thờ mới cần
được xây dựng tại Valsalice "như một sự kính trọng quốc tế đối với
Don Bosco", theo từ ngữ của ủy ban xúc tiến sự kiện này. Buổi lễ
diễn ra với sự hiện diện của Đức Hồng y Manara, Giám mục Ancona,
Đức Tổng Giám mục Torino, sáu Giám mục khác và nhiều nhân vật
dân sự. Lễ hội khép lại những ngày tuyệt vời của Tổng Tu Nghị Thứ
Tám.

34.9 Page 339

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 339
24
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng
Các Giám đốc Salêdiêng như là vị giải tội của người bề dưới
(thuộc quyền)
Như thế cha Rua bắt đầu nhiệm vụ mười hai năm thứ hai của mình
mà thường sẽ được tôi luyện bởi những thử thách nặng nề. Chúng ta
hãy bắt đầu với vấn đề ‘Giám đốc-Cha giải tội’.437
Để hiểu vấn đề này, vốn buộc cha Rua phải bãi bỏ một truyền
thống đã ăn sâu trong Tu hội, chúng ta cần quay trở lại Nguyện xá
thuở ban đầu. Don Bosco, linh mục duy nhất, cũng là cha giải tội
cho những ai sống với ngài. Sau đó, các linh mục khác đến tham gia
với ngài; trong khi ngài không ngần ngại sử dụng các cha giải tội
bên ngoài, phần lớn các cậu bé và các anh em tiếp tục đi xưng tội
với Don Bosco. Việc ngài là bề trên đã không ngăn trở người thuộc
quyền tâm sự những bí mật lương tâm với ngài, vì trong cách ngài
thực thi quyền hành, ngài tỏ ra là một người cha hơn là một bề trên.
Vào thập niên 1860, khi ngài bắt đầu thành lập các trường nội trú
[collegi], các giám đốc, được huấn luyện theo tinh thần của ngài,
cũng hành xử tương tự; họ biết cách làm cho mọi người yêu mến và
tin tưởng; họ thực thi quyền hành theo cách của một người cha. Họ
rất thích thú với những câu hỏi tu đức, nhưng trong con mắt của các
anh em dường như họ có một quyền lực thiêng liêng được tạo nên
từ một lòng tốt bao dung, điều đó khiến mọi người tin tưởng. Như
vậy mỗi Giám đốc tiên vàn là cha giải tội cho cộng đoàn. Cũng giống
như Don Bosco, qua lời nói và gương mẫu cá nhân, đã gợi ý một sự
phòng ngừa, mà ngài nhắc đến trong hai đoạn từ di chúc thiêng
437 Về vấn đề Hiệu trưởng Salêdiêng Rector làm cha giải tội, tôi theo sát Ceria, Vita,
338-348. Tài liệu Salêdiêng có thể tìm thấy tất cả trong Summarium additionale
trong 30 trang, gần cuối quyển có tên Positio 1947.

34.10 Page 340

▲torna in alto
340 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
liêng của mình, hai điều không được tách rời nếu chúng ta muốn
hiểu suy nghĩ thâm sâu của ngài:
Giám đốc hầu như là cha giải tội thông thường cho các hội viên.
Nhưng ngài thận trọng để tự do cho bất kỳ ai muốn đi xưng
tội với người khác. Tuy vậy phải hiểu rằng các cha giải tội đặc
biệt như vậy phải được bề trên biết và chấp thuận theo Quy
luật của chúng ta.
Vì bất cứ ai tìm kiếm một cha giải tội đặc biệt cho thấy họ ít tin
tưởng vào giám đốc, là người vốn phải biết để ý và đặc biệt
tuân thủ các quy tắc khác và không giao cho người hội viên
những gánh nặng nhất định mà có thể vượt quá sức lực đạo
đức hoặc thể chất của họ.438
Vì vậy, mặc dù người Salêdiêng có quyền tự do không thể phủ
nhận để chọn một cha giải tội mà không phải là giám đốc của mình,
thì theo tinh thần Don Bosco, sự tự do này rất hạn chế. Bất cứ ai
không xưng tội với giám đốc của mình thì có phần khả nghi.
Cách thức này, chắc chắn nguy hiểm khi các cộng đoàn mới nổi
lên khắp mọi nơi, tiếp diễn trong mười hai năm sau khi thánh nhân
qua đời. Giám đốc nghe bề dưới và học sinh trong nhà xưng tội.
Những phàn nàn bắt đầu nảy sinh theo thời gian, có lẽ ban đầu
ngay từ chính những người Salêdiêng. Ngày 26 tháng Chín năm
1896, Đức Hồng y Parocchi viết một lá thư cho cha Rua phàn nàn về
sự thiếu tự do trong các nhà của người Salêdiêng về sự lựa chọn các
cha giải tội.439 Cha Rua bào chữa cho mình nói rằng trong các nhà
của người Salêdiêng thực ra có nhiều cha giải tội khác nhau.440 Sau
đó, Văn phòng Tòa Thánh yêu cầu các biện pháp phòng ngừa của
cha Rua được tuân thủ chặt chẽ trong Tu hội Salêdiêng.441 Nhưng
438 F. Motto, Memorie dal 1841 al 1884-5-6 pel Sac. Gio. Bosco a’ suoi figliuoli salesiani,
in RSS 4 (1985) 117.
439 Được tóm tắt trong Annali III, 166.
440 Thư của Cha M. Rua gửi Đức Hồng Y L. M. Parocchi, ngày 6 tháng Mười, 1896,
trong Annali III, 166.
441 Annali III, 167.

35 Pages 341-350

▲torna in alto

35.1 Page 341

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 341
cảnh giác với lời cảnh báo ấy, Bề Trên Cả đề nghị các Hiệu trưởng,
thông qua vị Phó Tổng Bề trên, cha Belmonte, mời các cha giải tội
ngoại thường đến nhà mỗi tháng, hoặc thậm chí tốt hơn nữa là mỗi
hai tuần.442 Cách thức tự do lương tâm này dường như được bảo
đảm. Nhưng Rôma lại nghĩ khác.
Sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh (5 tháng 7 năm 1899)
Giáo Hội bắt buộc các người Salêdiêng thay đổi cách giải quyết
vấn đề. Theo một lá thư của cha Tổng Đại diện Marenco gửi cho Đức
Giám mục Cagliero, lý do là: Tòa Thánh nhận thấy sự lan truyền có
tầm mức toàn cầu của Tu Hội Salêdiêng, không muốn một việc thực
hành được đưa vào mà không hoàn toàn phù hợp với tinh thần của
Giáo hội.443 Nói thật ra, Rôma sợ ba điều: a) trong các trường nội trú
Salêdiêng, quyền tự do của các thiếu niên đi xưng tội có thể gây bất
lợi cho sự toàn vẹn bí tích; b) các cấp trên bị ràng buộc bởi bí mật
của tòa giải tội có thể ít tự do hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ của
họ; c) rằng họ có thể bị nghi ngờ sử dụng thông tin thu được từ tòa
giải tội. Đó là sự khôn ngoan đơn thuần và đơn giản.
Toà Thánh tiến hành theo từng giai đoạn. Đặc biệt, với sắc lệnh
của Văn phòng Tòa Thánh ngày 5 tháng Bảy năm 1899, cấm bất kỳ
cấp trên, lớn hay nhỏ, giải tội những người thuộc cấp và học sinh cư
trú trong nhà của họ trong các cộng đoàn tu trì, chủng viện hoặc các
trường cao đẳng của Rôma. Sắc lệnh liên quan riêng biệt đến thành
phố Rôma, nhưng nó cũng được đưa vào trong các giáo phận khác.
Ví dụ như Đức Hồng y Giám mục của Frascati, ngay lập tức mở rộng
nó trong phạm vi quyền hạn của mình. Do đó, Giám đốc Salêdiêng
của lưu xá Thánh Tâm ở Rôma và Giám đốc trường nội trú tại Frascati,
phải ngừng giải tội trong nhà. Trong khi đó tin đồn lan ra rằng một
điều khoản triệt để hơn sắp được ban hành.
Cha Rua cảm thấy có bổn phận phải chấp nhận quan điểm này,
442 Thư luân lưu từ Cha Dominic Belmonte, ngày 29 tháng Ba, 1897, in FdR
4067E1-3.
443 Thư của Cha G. Marenco gửi Đức Giám mục G. Cagliero, Rôma, ngày 27 tháng
Sáu, 1901, trong Ceria, Vita, 339.

35.2 Page 342

▲torna in alto
342 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hơn thế nữa vì sắc lệnh được phát hành trên một số tạp chí chuyên
ngành. Ngày 29 tháng Mười Một năm 1899, ngài đã viết một thư
luân lưu dài cho các Giám tỉnh về bí tích hòa giải, trong đó các
nguyên tắc của Don Bosco nổi lên rõ ràng.444 Ngài giới thiệu nó bằng
cách cho là văn bản của Tòa Thánh chỉ nhắc đến việc xưng tội của
học sinh [alumni] với bề trên. Ngài nhắc họ rằng theo hai sắc lệnh
giáo hoàng trước đây, cha giải tội thông thường cho các tập sinh là
tập sư và rằng các bề trên dòng tu có thể nghe người thuộc quyền
xưng tội nếu họ tự động xin. Đối với phần còn lại, vì sắc lệnh được
đề cập không bắt buộc ở bên ngoài Rôma, các giám đốc có thể tiếp
tục giải tội như trước đây. Tuy nhiên, ngài đã ban hành bảy chỉ thị
về vấn đề này: không thực thi quyền hành trong "những vấn đề
nghiêm trọng"; để người khác chăm sóc kỷ luật; ủy thác cho Phó Bề
trên nhiệm vụ tiếp xúc với phụ huynh sinh viên; không tham gia vào
việc cho điểm hạnh kiểm; không đọc điểm này nơi công cộng; mời
các cha giải tội bên ngoài đến nhà vào mỗi thứ bảy và sắp xếp các
cha ở nơi mà người trẻ có thể đến mà giám đốc không nhìn thấy;
thu phục tấm lòng của người phụ thuộc với lòng tốt và tử tế và nhẫn
nại bác ái.
Ở điểm này ngài tiếp tục nói các giám đốc có trách nhiệm đối với
các hội viên, song không bỏ quên các thiếu niên. Ngài nói, những vị
này phải "hướng dẫn các hội viên khác trên đường tiến tới sự hoàn
thiện, phải như người gác đêm trông coi người trẻ được giao phó
cho họ, phải canh giữ tinh thần của Don Bosco, phải giải thích một
cách có thẩm quyền về ý định của các bề trên, vốn thực sự là những
người biểu thị cho quyền bính của họ." Vì vậy, giám đốc là người
đầu tiên chịu trách nhiệm về bước tiến của người thuộc quyền tới sự
trọn lành. Nếu để mặc họ, nhiều người không biết làm thế nào để
tiến bộ. “Lệnh truyền của Đấng Cứu Thế đặc biệt viết cho anh em:
Euntes docete. Hãy đi và giảng dạy sự hiểu biết của mọi sự hiểu biết,
sự hiểu biết của các thánh, chỉ một loại hiểu biết thực sự cần thiết,
việc dạy dỗ mà không thể và không được giao phó cho người khác.
444 Bản gốc được in có thể đọc trong FdR 3973E4-3974B7; x. L.C., 190-206 (nhưng
văn bản được tường thuật trong L.C. đã bị cắt một cách lạ kỳ).

35.3 Page 343

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 343
Hãy dạy thực hành sự hoàn thiện trong các buổi huấn đức, xưng tội
và thổ lộ (hạn từ ngày xưa nói về việc bàn hỏi, đàm thoại thân mật
rendiconto, một hạn từ cổ điển trong bối cảnh Salêdiêng); hãy dạy
điều đó trong mọi loại đối thoại mà Don Bosco đã có". Như vậy,
giám đốc cộng thể phải chăm sóc đặc biệt những người trẻ tuyên
khấn. "Đừng ngạc nhiên khi thấy họ có khuyết điểm, hoặc nếu anh
em cứ phải nói đi nói lại một chuyện: anh em biết họ không đột ngột
trở nên hoàn thiện đâu".
Rõ ràng là việc Xưng tội chỉ là một công cụ trong số những công
cụ khác trong tay của Giám đốc. Ví dụ, cha Rua nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của việc thổ lộ (bàn hỏi) hơn Don Bosco đã làm. Tuy
nhiên, trong những ngày cuối cùng của thế kỷ 19, ngài tiếp tục kiên
quyết nhấn mạnh về sự trung thành với truyền thống được thừa kế
bởi Vị Sáng lập, người muốn giám đốc trở thành cha giải tội thông
thường của các hội viên để bảo đảm bước tiến thiêng liêng.
Sắc lệnh ngày 24 tháng 4 năm 1901
Cha Rua cố gắng kéo dài thời gian. Chính ý tưởng phá bỏ một
truyền thống rất thân thiết với Don Bosco, kéo dài hơn sáu mươi
năm, khiến ngài cảm thấy khủng khiếp. Đối mặt với sắc lệnh từ Rôma
được trải rộng đối với toàn Tu hội, sự nản chí nào đó đã được cảm
nhận giữa các hội viên, đặc biệt là những người cao niên. Thực vậy,
Rôma đang để mắt đến việc thực hành của người Salêdiêng. Ngày
26 tháng Mười Một năm 1900, Đức Hồng y Gotti, vị Chủ tịch Thánh
Bộ các Giám mục và Dòng Tu, đã than phiền với cha Tổng Đại diện
Marenco rằng bên ngoài Rôma, giám đốc Salêdiêng buộc phải nghe
bề dưới của họ xưng tội và sự thổ lộ liên quan đến những vấn đề
riêng tư.445
Vào năm 1901, ngay sau khi kết thúc những ngày lễ Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu, tin tức từ Rôma đưa tới rằng một biện pháp từ Văn
phòng Tòa Thánh đã sẵn sàng: tuyệt đối cấm các bề trên Salêdiêng
nghe người dưới xưng tội. Chẳng mấy chốc nó đến. Nó đề ngày 24
tháng Tư, nhưng chỉ được chuyển tới vị Tổng Đại diện Salêdiêng vào
445 Annali III, 170.

35.4 Page 344

▲torna in alto
344 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngày 29 tháng Năm.446 Nó được thể hiện bằng các hạn từ nghiêm
khắc. Chúng ta có thể đọc trong văn bản đính kèm: "Ủy viên Văn
phòng Tòa Thánh, khi đệ trình sắc lệnh xác thực ngày 24 tháng Tư
năm 1901, yêu cầu cha Tổng Đại diện của người Salêdiêng cho ngài
biết càng sớm càng tốt bằng văn bản rằng sắc lệnh này không những
được Tu hội chấp nhận mà còn được triển khai nhanh chóng và đầy
đủ trong tất cả các nhà của Tu hội nói trên".447 Khi đã có văn bản,
cha Rua nhanh chóng yêu cầu cha Tổng Đại diện gửi tuyên bố sau
đến Văn phòng Tòa Thánh: "Con có vinh dự báo cho Đức Cha biết
rằng con đã trao cho Bề Trên Cả sắc lệnh của Đức Cha ngày 24 tháng
Tư từ Tòa Tối Cao Rôma và nó không những đã được Tu hội chấp
nhận mà còn sẽ được gấp rút thực hiện đầy đủ trong tất cả các nhà
theo yêu cầu của cùng sắc lệnh này".
Nhưng cha Rua quan tâm và do dự về việc nguy cơ khiêu khích
Văn phòng Tòa Thánh. Ngay lập tức ngài hỏi liệu việc truyền đạt sắc
lệnh có thể được hoãn lại cho đến Tổng Tu Nghị tiếp theo vào tháng
chín hay không. Ngày 22 tháng Sáu, ngài được yêu cầu thực hiện
việc truyền đạt sine mora, không chậm trễ. Rồi ngài dùng một cách
tiếp cận khác. Liệu sine mora được hiểu theo nghĩa nghiêm ngặt hay
nó có thể được làm tương thích với mệnh lệnh chứa trong cùng một
sắc lệnh để truyền đạt intra annum (trong vòng một năm) việc thực
hiện sắc lệnh đối với Tu hội Salêdiêng? Như vậy liệu có hợp pháp để
trì hoãn việc truyền đạt sắc lệnh cho toàn Tu hội cho đến sau khi kết
thúc Tổng Tu Nghị tiếp theo không?
Trong khi đó, cha Rua giảng các bài huấn đức ngắn cho các hội
viên tại Nguyện xá, trong Nhà thờ Thánh Phanxicô Salê. Nhiều người
ngạc nhiên vì có lúc thấy vị thư ký thay thế ngài ngồi trong tòa giải
tội. Ngài biện hộ bằng cách kể câu chuyện của hai sắc lệnh, một của
Rôma và một mở rộng cho toàn Tu hội. Các anh em hỏi ngài: Don
446 Sắc lệnh Quod a Suprema của văn phòng Tòa Thánh có thể đọc trong Summarium
additionale, 2-4.
447 Phần này được bổ sung, đề ngày 24 tháng Năm, 1901, trong Summarium
additionale, 5. Việc trao đổi thư từ vào tháng Năm, 1901 có thể tìm thấy trong
Summarium additionale, 5-9.

35.5 Page 345

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 345
Bosco sẽ làm gì trong hoàn cảnh tương tự? Chắc chắn ngài sẽ vâng
lời ngay lập tức. Và đây là ngụ ý của ngài khi tự vắng mặt trong tòa
giải tội. Vì vậy ngài yêu cầu đừng bị đặt vào tình huống khó xử khi
được xin giải tội. Sau đó ngài đọc sắc lệnh ngày 24 tháng Tư bằng
tiếng Latinh và liền ngay sau đó bằng tiếng Ý. Không vẽ vời thêm
nữa, ngài dâng lời cầu nguyện cuối cùng và để cho hội nghị tiếp
diễn.
Ngày 6 tháng Bảy, ngài mở rộng thông báo chính thức cho toàn
Tu hội qua các Giám tỉnh. Thư luân lưu của ngài yêu cầu mỗi giám
đốc quy tụ các anh em khấn và đọc to sắc lệnh để mọi người có thể
hiểu được; sau đó không giải thích thêm để giải thích sắc lệnh cho
những người không hiểu tiếng Latinh; văn bản phải được giữ nghiêm
túc vì nó đến từ thẩm quyền cao nhất của Giáo Hội. Và ngài kết luận:
Cho đến bây giờ theo Tổng Tu Nghị đã bàn thảo và xem xét
kỹ lưỡng, chúng ta đã dường như giữ đường lối phù hợp nhất
với hoàn cảnh của chúng ta: giờ đây người mà Thiên Chúa đã
yêu cầu để hướng dẫn mọi người, các vị lãnh đạo, nói với chúng
ta rằng chúng ta phải thay đổi; chúng ta nhìn nhận và hoàn
toàn tôn trọng những gì đã được quy định và sẽ sẵn sàng thực
hiện đầy đủ, như thế là bắt chước Don Bosco, người cha tốt
lành của chúng ta vốn vâng phục và tôn kính thực hiện bất kỳ
chỉ thị nào từ Tòa Thánh. Chúng ta sẽ không hỏi tại sao lại đưa
ra một mệnh lệnh như vậy, người nào hay sự kiện nào có thể
đã gây ra nó: chúng ta xác quyết rằng nó đến từ Chúa Quan
phòng yêu thương, là chính Đức Giêsu, Đấng đã rủ lòng nói với
chúng ta qua vị Đại Diện của Người, vì vậy chúng ta hãy chú
tâm trung thành thực hiện những lệnh truyền này cách sâu sắc
nhất.448
Không mấy quan trọng. Đang khi đó cha Rua thiết lập một nghiên
cứu thần học mà sẽ gây nhiều khó nhọc cho ngài. Hai khó khăn đã
được dự đoán trong việc thực hiện ngay quyết định của Rôma. Làm
thế nào để tìm một cha giải tội trong mỗi trường với những phẩm
448 Ceria, Vita, 344-345.

35.6 Page 346

▲torna in alto
346 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chất cần thiết và không vướng bận bổn phận vốn có thể không tương
thích với tinh thần chung của sắc lệnh? Làm thế nào để vượt qua mối
ác cảm được nhiều hội viên cảm nhận, đặc biệt là những người lớn
tuổi, với một biến cố sống sượng như vậy? Ngài nhờ cha Lu-y
Piscetta, một nhà đạo đức học rất được ngưỡng mộ, nghiên cứu vấn
đề này. Ngài tham khảo ý kiến của Đức Cha Phụ tá Đức Tổng Giám
mục Torino, Gioan Tẩy giả Bertagna, người mà như cha Rua viết, "đã
hơn bốn mươi năm dạy môn luân lý giải nố cho các linh mục để
chuẩn bị cho mục vụ giải tội, được mọi người ca ngợi". Sau khi suy
nghĩ chín chắn, cha Piscetta giao các kết luận của mình cho cha Rua,
người đã nhanh chóng cho in ra. Ngày 15 tháng Bẩy năm 1901, ngài
gửi các kết luận đến các Giám tỉnh, cùng với một thư luân lưu giải
thích xuất xứ của chúng.449
Mặc dù có biện pháp phòng ngừa, những câu trả lời của Piscetta
rơi vào tay của Văn phòng Tòa Thánh và họ coi đó là một vấn đề
thực sự rất nghiêm trọng. Cha Tổng Đại diện Salêdiêng ở Rôma ngay
lập tức được Ủy viên của Văn phòng Tòa Thánh triệu tập và được
thẩm vấn cặn kẽ: Thánh Bộ thấy dường như cha Rua đang cố gắng
bằng mọi cách tránh thực hiện đầy đủ sắc lệnh; ngài sẽ bị khiển trách
vì muốn giải thích một tài liệu như vậy, vì công việc này được nghiêm
ngặt dành riêng cho Văn phòng Tòa Thánh. Ủy viên trình bày bằng
ngôn từ nghiêm trọng và buộc cha Tổng Đại diện thông báo cho cha
Rua những lời giải thích của nhà thần học phải được thu hồi ngay,
sau khi chính Toà Thánh đã trả lời các câu hỏi nêu ra. Tất cả những
điều này sẽ không xảy ra nếu cha Rua lưu ý rằng việc giải thích các
sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh chỉ dành cho những người ban
hành các sắc lệnh đó. Mặc dù có ý định tốt muốn cho mọi việc suôn
sẻ, ngài đang gây ấn tượng là nổi loạn, và sẽ phải chịu hậu quả của
việc này. Ngài giữ bình tĩnh và đã viết cho các Giám tỉnh thu hồi
những câu trả lời của cha Piscetta ngày 15 tháng Tám :
449 Bản gốc trong FdR 3974E7-10. Thư luân lưu này gửi tới các Giám Tỉnh, mà đính
kèm «Soluzione di alcuni casi relativi al Decreto 24 Aprile 1901», được Sac. L.
Piscetta ký tên, và không phải là một phần của bộ sưu tập các thư luân lưu được
hiệu đính vào năm 1910.

35.7 Page 347

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 347
Tôi có tin vui để truyền đạt: Tôi biết được rằng Bộ lo việc Tố
tụng tối cao và phổ quát [Congregation of the Supreme and
Universal Inquisition] sẽ cung cấp cho chúng ta giải pháp chính
thức cho những nghi ngờ khác nhau phát sinh từ việc thực hiện
Sắc lệnh Quod a suprema ngày 24 tháng Tư năm nay. Kỳ vọng
vào văn bản rất được mong đợi này, tôi thu hồi các giải pháp
được tôi viết và in và bất cứ điều gì tôi đã nói để trả lời các câu
hỏi trong quá khứ về lập luận này. Chúng ta hãy cảm ơn Chúa
vì Ngài rủ lòng ban cho chúng ta một vị hướng dẫn chắc chắn
và chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện để Ngài giúp chúng ta
luôn trung tín trong việc thực hiện những giáo lý của Ngài.
Nhưng kỳ vọng hạnh phúc này không kéo dài lâu. Các câu hỏi
được đệ trình đến bất cứ ai phải đưa ra một ý kiến và việc này tạo ra
hiệu ứng bất ngờ khi chính cha Rua được mời về Rôma. Ngài đi ngay
lập tức và khi đã đến nơi chính cá nhân ngài phải chịu sự khiển trách
mà trước đó ngài đã được thông qua cha Tổng Đại diện. Ngài cũng
có ý tưởng rằng ngài đang được lệnh phải rời Rôma ngay lập tức.
Cách đối xử khủng khiếp này dành cho ngài ở Rôma khiến ngực ngài
sưng tấy và bệnh viêm mắt của ngài càng thêm nặng, căn bệnh mà
ngài đã chịu đựng trong vài năm. Chỉ có Thiên Chúa mới biết ngài
chịu đau khổ đạo đức nặng nề biết bao trong dịp đó, chắc chắn
khủng khiếp hơn đau khổ thể lý.
Từ ngày 1 đến ngày 5 tháng Chín, Tổng Tu Nghị Thứ Chín của Tu
hội sẽ diễn ra tại Valsalice. Ba ngày trước khi khai mạc, Văn phòng
Tòa Thánh gửi các giải pháp cho những khó khăn, đề ngày 21 tháng
Tám. Họ lặp lại những ý định trước đó theo văn phong thậm chí còn
cưỡng chế hơn. Cha Rua lập tức ra lệnh cho in một ngàn bản câu trả
lời của Rôma. Ngài muốn chúng được phân phát cho các thành viên
của Tổng Tu Nghị. Ngài yêu cầu đọc văn bản đó cho các thành viên
của Tổng Tu Nghị. Cha Tổng Đại diện Marenco đọc lên khi bắt đầu
cuộc họp. Sau đó, như biên bản ghi, cha Rua nói ngắn gọn về các
câu hỏi và câu trả lời, thú nhận rằng ngài không biết gì về các vấn
đề liên quan đến các sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh vốn phải
được chính Văn phòng Tòa Thánh độc quyền giải quyết. Vì vậy ngài

35.8 Page 348

▲torna in alto
348 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thu hồi các giải pháp đã đưa ra trước đây và đề nghị rằng: "Chúng
ta phải loại bỏ hoàn toàn bất kỳ giả thiết ác ý nào. [Sắc lệnh] đến từ
Đức Giáo Hoàng, do đó từ Thiên Chúa, vì vậy chúng ta phải tuyệt
đối và mau chóng phục tùng và cũng tạ ơn Thiên Chúa đã soi sáng
cho chúng ta qua các Bề trên tối cao chúng ta; hãy quy cho một sắc
lệnh như vậy một hành động nhân từ đặc biệt, nhằm đưa chúng ta
đi theo đường lối phù hợp với các Tu hội khác và các Hội Dòng tương
tự như chúng ta."450
Phải thực thi các mệnh lệnh. Trong khoảng thời gian một năm,
bắt đầu từ ngày công bố sắc lệnh - do đó, đến ngày 24 tháng Tư
năm 1902 - họ cần phải trình cho Văn phòng Tòa Thánh một bản
sao về những nghị quyết của các Tổng Tu Nghị mà các điểm liên
quan đến việc xưng tội và cha giải tội đã được sửa chữa. Không có
đủ thời gian. Ngài xin và được thêm thời gian. Nhưng trong thư luân
lưu ngày 9 tháng Ba năm 1902,451 cha Rua đã cẩn thận tư vấn các
anh em rằng sự chậm trễ trong việc in các tài liệu đã được sửa chữa
không miễn cho họ theo bất kỳ cách nào việc thi hành trọn vẹn sắc
lệnh.
Các thiếu niên thích nghi không gặp bất kỳ vấn đề gì. Trái lại,
nhiều người Salêdiêng đã khấn nhận thấy khó đến xưng tội với các
linh mục thường là cấp dưới của họ. Dưới đây là một ví dụ rút ra từ
biên bản của một cuộc họp của Tổng Tu Nghị vào năm 1905. Ngày
16 tháng Hai, Ủy viên Văn phòng Tòa Thánh gọi cha Tổng Đại diện
Marenco để thông báo cho ngài rằng trong một nhà Salêdiêng, "các
cá nhân buộc theo luân lý phải đi xưng tội với người nào mà không
hưởng được một sự tin tưởng thông thường; rằng trong bất kỳ nghi
ngờ nào, như thường lệ, Văn phòng Tòa Thánh tìm đến Đấng Bản
quyền để lấy thông tin, để xác nhận mọi thứ, và sau đó Văn phòng
Tòa Thánh sẽ yêu cầu Giám mục cung cấp".452 Về phần mình, cha
450 Có thể tìm thấy những câu hỏi được in trong FdR 3983D5-7; trong FdR 3983D8
chúng tôi tìm thấy những câu hồi đáp được Đức Giáo Hoàng chấp thuận và đề
ngày 21 tháng Tám .
451 FdR 3983E1-3984A2; L.C., 269-285.
452 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 27 tháng 2, 1905, trong FdR 4244E4-
5.

35.9 Page 349

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 349
Rua đã trả lời vắn tắt những phản đối đưa ra cho ngài. Rõ ràng ngài
muốn tránh bất kỳ cuộc thảo luận nào, vì ngài muốn hoàn toàn và
trọn vẹn vâng phục những quyết định của Rôma.
Dâng hiến Tu hội Salêdiêng cho Thánh Tâm Chúa Giêsu
Cha Rua đã bắt đầu năm đầu tiên đầy vất vả của thế kỷ 20 với
một hành động mà ta có thể đánh giá là một trong những việc quan
trọng nhất của ngài khi đương nhiệm.453
Trong nhiều năm, ngài đã suy nghĩ về việc hoàn thành ước muốn
của người Salêdiêng anh hùng Anrê Beltrami (1870-1897); ở cuối
cuốn sách Beltrami viết về vị tông đồ của Thánh Tâm, Magarita Maria
Alacoque, đã viết: "Chúng tôi muốn Đấng Cứu Thế hiền dịu của
chúng ta và Đức Maria Mẹ Rất Thánh của Người, luôn luôn coi Tu
hội Salêdiêng là một người con yêu dấu và điểm trang nó với những
loại hoa của những phúc lành đặc biệt nhất. Và mặc dù tiếng nói của
riêng tôi không nhiệt thành lắm, tôi muốn Tu hội Salêdiêng được
long trọng dâng hiến cho Thánh Tâm, từ đó nó sẽ rút được những
ân sủng mới của sự sống đời đời". Vào năm 1899, cha Rua hy vọng
rằng mỗi người Salêdiêng sẽ đích thân tận hiến mình cho Thánh Tâm.
Nhưng ngài biết về lời thề của cha Beltrami và muốn thực hiện nó.
Thậm chí nhiều hơn thế vào thời điểm Thánh Tâm được sùng kính
mạnh mẽ, ngài đã được yêu cầu từ nhiều phía, đặc biệt là từ các học
viện, thực hiện một cử chỉ đặc biệt. Sau khi đã suy nghĩ kỹ và nghe
Đức Hồng y Bảo trợ khuyên bảo về cơ hội và cách thức tận hiến toàn
Tu hội Salêdiêng cho Thánh Tâm, ngài xét thấy đây là lúc hành
động.454 Trong thư luân lưu ngày 21 tháng Mười Một năm 1900,
ngài viết cho người Salêdiêng: "Bây giờ cha muốn mỗi người lại tận
hiến cách rất đặc biệt cho Thánh Tâm; thật vậy, cha muốn mọi giám
đốc dâng hiến toàn nhà mà ngài coi sóc và mời các thiếu niên cũng
thực hiện việc dâng hiến chính bản thân các em cách thánh thiện
cũng như hướng dẫn các em về hành động tuyệt vời mà cha sắp thực
453 Đoạn văn này về việc tận hiến cho Thánh Tâm, tôi theo sát Ceria, Vita, 332-337.
454 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 27 tháng Mười Một, 1900, trong FdR
4242C7.

35.10 Page 350

▲torna in alto
350 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hiện và tạo cho các em mọi cơ hội được chuẩn bị kỹ lưỡng".455
Ngài đề xuất cử hành hành vi công khai vào tối ngày 31 tháng
Mười Hai năm 1900, vào đầu thế kỷ mới. Và ngài đã chỉ ra công
thức sẽ được dùng:
Lạy Chúa Giêsu, chúng con đã thuộc về Ngài theo quyền lợi vì
Ngài đã cứu chuộc chúng con bằng Bửu Huyết của Ngài, nhưng
chúng con cũng muốn thuộc về Ngài qua tự nguyện lựa chọn
và bằng sự tận hiến tuyệt đối: nhà của chúng con đã thuộc về
Ngài theo quyền lợi vì Ngài là Chủ, nhưng chúng con còn muốn
nó thuộc về Ngài, và chỉ thuộc về Ngài mà thôi, do chúng con
tự nguyện mong muốn như thế; chúng con dâng hiến chúng
cho Ngài: Tu hội chúng con đã thuộc về Ngài theo quyền lợi vì
Ngài truyền cảm hứng cho Tu hội, chính Ngài thành lập Tu hội,
đã cho Tu hội xuất hiện, chúng con có thể nói, từ chính Thánh
Tâm Ngài. Vì vậy, chúng con muốn xác nhận quyền của Ngài;
chúng con muốn điều đó, qua việc chúng con dâng hiến cho
Ngài, để trở thành một đền thờ trong đó chúng con có thể chân
thật thân thưa lên Chúa, là Chủ và Đấng Cứu độ chúng con, Đức
Giêsu Kitô ngự trị! Vâng, Lạy Chúa Giêsu, xin chinh phục mọi
khó khăn, ngự trị giữa chúng con: Đền thờ đó thuộc quyền
Ngài; Ngài xứng đáng với đền thờ đó, chúng con cũng đều ước
muốn như thế.456
Ngài cũng yêu cầu phải chuẩn bị việc tận hiến long trọng này
bằng tam nhật cầu nguyện và rao giảng, bắt đầu với lễ các Thánh
Anh Hài vào ngày 28 tháng Mười Hai, ngày giỗ Thánh Phanxicô Salê.
Cha Rua muốn mọi người tham gia vào hành vi này: các thiếu niên,
tập sinh, các hội viên, các bề trên và số lượng Cộng Tác viên đông
nhất có thể. Ngài nhắc rằng Đức Giáo Hoàng đã cho phép, tối ngày
31 tháng Mười Hai, cử hành Lễ trọng vào lúc nửa đêm, và đặt Mình
Thánh Chúa. Vì vậy nhất thiết phải quy tụ lại nửa giờ để Chầu Thánh
Thể, và sau mười lăm phút mọi người sẽ tuyên lại lời hứa bí tích Rửa
Tội, sau đó các hội viên sẽ lặp lại lời khấn. Tiếp đến mỗi người sẽ tận
455 L.C., 223-224.
456 L.C., 224.

36 Pages 351-360

▲torna in alto

36.1 Page 351

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 351
hiến bản thân, dâng hiến nhà và tận hiến toàn nhân loại cho Thánh
Tâm Chúa Giêsu, theo công thức được soạn năm trước. Đồng thời tại
Torino cha Rua và Tu Nghị Bề trên sẽ tận hiến toàn Tu hội. Sau Thánh
Lễ và ban Phép lành Bí tích cực trọng, hát Te Deum và đọc những lời
cầu nguyện khác do Đức Giáo Hoàng và các Giám mục quy định cho
dịp này. Biến cố này có thể được thực hiện vào sáng hôm sau tại các
Nguyện xá ngày lễ.457
Là người đứng đầu Tu hội, cha Rua muốn có một công thức đặc
biệt, được chấp thuận hợp lệ. Ngày 6 tháng Mười Hai, ngài viết thư
cho Đức Lêô XIII:
Sự thúc đẩy mà Đức Thánh Cha đã ban cho lòng sùng kính
Thánh Tâm Chúa Giêsu và từ năm ngoái lệnh truyền phải tận
hiến tất cả các giáo phận và dân tộc cho Trái Tim Rất Thánh đã
dấy trong chúng con niềm mong muốn thực hiện việc tận hiến
đặc biệt trọng thể của Tu hội Thánh Phanxicô Salê, được sáng
lập bởi người cha không thể nào quên của chúng con, Don
Bosco, và dâng hiến tất cả các công cuộc và những người phụ
thuộc vào chúng con theo bất kỳ cách nào, vào đêm chia tách
thế kỷ sắp tàn với thế kỷ mới, một đêm mà qua lòng nhân ái
mục tử của Đức Thánh Cha, chúng con có thể cử hành Thánh
Lễ. Tin tưởng rằng điều này sẽ làm vui lòng trái tim của ngài
vốn bừng cháy lòng sùng kính Thánh Tâm cực thánh Chúa Giêsu
mà ngài làm vị Đại diện, xin cho phép chúng con được trình
lên ngài một công thức cho sự tận hiến này, để, cùng với sự
chúc lành của ngài, nó có thể ngọt ngào hơn và thu hút dồi dào
ân sủng và ân huệ mà chúng con cần để làm việc truyền bá
Nước Trời của Chúa Giêsu Kitô và phần rỗi các linh hồn mau
mắn hơn.458
Tòa Thánh chấp thuận lời cha Rua yêu cầu, khi đáp lời: "Đức Thánh
Cha đã nhiệt thành ca ngợi đề xuất sùng đạo của cha, và hết lòng
chúc lành cho cha". Do đó, ngày 31 tháng Mười Hai năm 1900, trong
457 Cf. L.C., 222-227.
458 Ceria, Vita, 335.

36.2 Page 352

▲torna in alto
352 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
khi tất cả các nhà Salêdiêng bắt đầu với sự tận hiến, thì cha Rua, phủ
phục với các thành viên khác của Tu Nghị Bề trên trước Thánh Thể
được đặt trên bàn thờ của Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu, đọc to
công thức đặc biệt với mọi người tham dự đầy nhiệt huyết. Qua đó
ngài đã dâng hiến con người, nhà cửa, các công cuộc của Tu hội
Salêdiêng cho Thánh Tâm, cùng với Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu, Hiệp Hội các Cộng Tác viên, giới trẻ được giao phó cho
người Salêdiêng và các Nữ tu.459
Cuối thư luân lưu cha Rua lưu ý rằng hành vi dâng hiến thì chốc
lát, nhưng kết quả của nó phải kéo dài. Chính vì thế ngài nghĩ là giới
thiệu cho những người Salêdiêng nhiều việc thực hành đạo đức nhất
định được Giáo hội phê chuẩn và "nhờ đó mà được làm cho phong
phú với nhiều ân xá" quả là thích hợp. Vì vậy, với lòng sốt mến đạo
đức, ngài đề nghị rằng Lễ Thánh Tâm hàng năm phải được cử hành
long trọng ở tất cả các nhà; rằng một buổi lễ đặc biệt được tổ chức
mỗi thứ sáu đầu tháng, khích lệ mỗi hội viên và từng thiếu niên thực
hiện việc "hiệp lễ đền tạ" trong ngày đó; để anh em tán thành việc
"thực hành Chín chức vụ" (hoặc chín việc dành cho Thánh Tâm: Tôn
thờ, Yêu mến, Hiến tế, Môn đệ, Tôi tớ, Cổ vũ, Nài xin, Nhiệt thành,
Sửa chữa). Ngài mời gọi mỗi cộng đoàn tham gia vào "Hội những
người canh thức vinh dự" (Confraternity of the Honor Guards). Ngài đề
nghị một Giờ Thánh (đêm thứ Năm, để tưởng nhớ Chúa Giêsu cầu
nguyện trong vườn Giêtsêmani) được lập ra trong các tập viện và học
viện. Ngài không thể tưởng tượng rằng tất cả các việc thực hành này
sẽ bị bỏ đi trong khoảng một vài thập kỷ, thậm chí tầm quan trọng
của chúng, được minh họa trong tài liệu dài "Chỉ thị về việc tôn sùng
Thánh Tâm Chúa Giêsu" mà đi kèm với thư luân lưu,460 sẽ không
được các thế hệ tương lai trân trọng. Một cha Rua điềm tĩnh, giống
như nhiều người đương thời của mình, có thể rất nhiệt tình khi liên
459 Il Công thức sẽ được Bề trên Tổng quyền và bề trên của Tổng hội kêu gọi để dâng
hiến toàn bộ Hội Sùng đạo và tất cả các công trình của nó cho Thánh Tâm, được đính
kèm vào thư luân lưu; có thể tìm thấy nó trong L.C., 255-257.
460 L.C., 228-254. Tác giả của chỉ thị này, được viết theo văn phong uyên bác,
không được biết đến.

36.3 Page 353

▲torna in alto
Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng | 353
quan đến việc tôn vinh Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Nghi lễ ngày 31 tháng Mười Hai năm 1900 đã mở ra một thế kỷ
cho thấy Tu hội Salêdiêng phát triển tuyệt vời, nhưng cũng phải đau
khổ nhiều. Những đau khổ không phải chờ lâu. Năm 1901 đối với
những người Salêdiêng Pháp là thời điểm của "sự bách hại."

36.4 Page 354

▲torna in alto
354 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
25
VỤ VIỆC Tại Pháp
Kỷ niệm hai mươi lăm năm công cuộc Salêdiêng ở Pháp
Ngôi nhà Salêdiêng đầu tiên ở Pháp được thành lập tại Nice vào
cuối năm 1875. Năm 1901, nó kỷ niệm 25 năm tồn tại. Cha Giám
đốc Lu-y Cartier muốn tổ chức mừng ngân khánh vào những ngày
đầu tháng Hai, với sự hiện diện của Bề Trên Cả. Cha Cartier xét thấy
cha Rua có thể mừng ngân khánh sự hiện diện của người Salêdiêng
tại Pháp cùng thời điểm đó, một sự hiện diện lúc ấy đang triển nở.
Cuốn Niên giám chung năm 1900 cho chúng ta biết rằng các Tỉnh
Paris và Marseilles gộp lại có 18 nhà, 212 anh em và 94 tập sinh.
Không may, mối quan hệ giữa hai Tỉnh không được thắm thiết.
Đặc biệt là Giám tỉnh ở Paris, cha Giuse Bologna sôi nổi, không có
nhiều thời gian cho Giám tỉnh ở Marseilles, cha Phêrô Ferrer, một
con người kín đáo và tỉ mỉ. Bên cạnh đó, xu thế chính trị khó khăn,
trong khi luật chính phủ soạn thảo về các Hội Dòng bị ngưng lại,
nên việc người Salêdiêng mừng lễ rõ ràng là không nên. Chẳng hạn,
lúc đó, Tu hội có nguồn gốc từ Ý đã làm dấy lên hận thù nào đó
chống lại cơ sở tại Dinan ở Brittany và thỉnh thoảng cũng ở Paris. Có
nỗi lo sợ rằng sự hiện diện của cha Rua tại các ngày lễ mừng có thể
được coi là một hình thức khiêu khích. Ngày 9 tháng Giêng năm
1901, trong một bức thư gửi cho cha Cartier, cha Bologna tỏ ra rất
dè dặt và nói rằng, về phần mình, tham dự vào các lễ hội không phải
lúc với cha. Do đó áp lực đặt lên cha Bề Trên Cả Rua.
Quan điểm của ngài, được ghi dấu bằng sự tế nhị tu trì và sự thận
trọng khôn ngoan, không hề sợ hãi, được thể hiện trong một lá thư
quan trọng gửi tới cha Cartier ngày 19 tháng Giêng:

36.5 Page 355

▲torna in alto
Vụ Việc Tại Pháp | 355
Họ đang viết thư cho tôi từ nhiều nơi khác nhau ở Pháp về
những lễ hội mừng kỷ niệm tại Nice: một số người nói rằng các
lễ hội có thể quá tốn kém và những chi phí này có thể khiến
một số nhà hảo tâm lạnh nhạt với chúng ta; một số nói rằng
vào lúc mà luật ban hành trên các Hội Dòng còn đang được
thảo luận thì có những lễ hội như thế này sẽ gây phản tác dụng;
một số nói rằng chúng ta nên hỏi ý kiến của Đức Khâm sứ ở
Paris. Trừ phi không đếm xỉa đến những nhận xét này, tôi nghĩ
các lễ hội có thể là một lời cảm tạ Thiên Chúa và cũng tri ân các
nhà hảo tâm của chúng ta; tuy nhiên, chúng ta nên tránh gây
chú ý hết mức có thể, đặc biệt là trên báo chí; hạn chế chi tiêu
cũng là điều tốt; và nếu một số người phải đến từ xa thì cũng
thích hợp khi tìm mọi cách giảm giá vé từ ngành đường sắt:
nếu cha giữ mọi thứ hạn chế theo cách này để tạo ra ý tưởng
về một lễ hội đơn giản về sự tận tụy và trong gia đình, tôi hy
vọng không ai sẽ nói bất cứ điều gì và tôi cũng tin không cần
phải xin phép hoặc xin chỉ bảo gì cả. …
Tôi để cho hai Giám tỉnh biết rằng tôi muốn các ngài đi cùng
tôi đến Nice: Tôi hy vọng các ngài cho tôi niềm an ủi này. Tôi
nói riêng với cha điều này, vì cha thể hiện một mong muốn
đáng khen là hiệp nhất miền Bắc và miền Nam.
Xin Thiên Chúa giúp đỡ chúng ta; xin Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu, Đấng đã biệt đãi nước Pháp cách tỏ tường vào những thời
điểm khác nhau trong ba mươi năm qua, bảo vệ nó một lần
nữa trong những hoàn cảnh khó khăn này. Xin Don Bosco,
người rất yêu mến quốc gia này, cũng cầu bầu cho nó.
Thân mến trong Đức Giêsu và Mẹ Maria
Cha Micae Rua
Tái bút: Xin báo cho cha biết là tôi sẽ đưa theo cha
Bertello461, vị tân Cố vấn lo về các Trường Kỹ thuật.
Như vậy, từ ngày 3 đến ngày 8 tháng Hai, các lễ hội diễn ra một
461 FdR 3881B4-5.

36.6 Page 356

▲torna in alto
356 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cách nghiêm chỉnh và không có hậu quả đáng tiếc. Hầu như tất cả
các giám đốc đã tham dự. Ngay cả cha Bologna, có phần dịu lại đôi
chút, cũng tham dự với các hội viên ngày 4 tháng Hai.
Cha Rua đến Nice tối mồng 2 tháng Hai. Lễ hội bắt đầu vào ngày
Chúa nhật mồng 3, được ngài chủ trì, với một ngày gia đình quy tụ
những cựu học sinh lẫn các học sinh hiện hành từ 'Sự bảo trợ' của
Thánh Phêrô. Vị bề trên tốt lành tỏ ra kín đáo và lánh mặt tại các
buổi cử hành mừng lễ hội. Tên của ngài không xuất hiện trong
chương trình dành cho các sự kiện công cộng diễn ra từ ngày 5 đến
ngày 8 tháng Hai, ngoại trừ một cuộc họp của ủy ban và bạn bè của
công cuộc, được tổ chức bên trong tòa nhà chiều ngày 5 tháng Hai.
Các sự kiện diễn ra trong thành phố, ngài không can dự.462
Vào các buổi sáng thứ ba ngày mồng 5 và thứ tư ngày mồng 6,
cha Rua nói chuyện với các giám đốc các nhà ở Pháp. Thời gian còn
lại ngài dành cho nhà đó. Các người Salêdiêng, học sinh và cựu học
sinh trân trọng sự tiếp xúc nồng nhiệt của ngài, gợi cho họ nhớ đến
Don Bosco luôn thân thương với họ. Cựu học sinh đã viết các sự kiện
lặp đi lặp lại thường xuyên:
Lý do lớn nhất tạo cho chúng tôi niềm hạnh phúc là ở gần cha
Rua, tận hưởng sự hiện diện của ngài, những cuộc trò chuyện
của ngài. Ngài được tôn kính và yêu mến trong Tu hội
Salêdiêng như Don Bosco đã được: một lời khuyên, một lời phát
biểu, đôi khi chỉ là một cái liếc mắt cũng làm người anh em
Salêdiêng hoặc cựu học sinh thấy được khuyến khích. ... Khi cha
Rua băng qua sân, rất khó tìm được một khoảng trống trong
đám đông học sinh quanh ngài; có một cuộc thi dành cho
những người có thể nắm lấy tay ngài hoặc đến gần ngài nhất.
Cha hạnh phúc với những cách biểu lộ tình cảm này, mà cũng
như đánh cắp thời gian quý báu, và chỉ các đòi buộc của Quy
luật hoặc khi khách xuất hiện mới mang ngài đi được. ...
462 Chương trình này được tường thuật trong XXVème anniversaire de l’Oeuvre de
Don Bosco en France et de la fondation du Patronage St Pierre à Nice, par S. B. ancien
élève du Patronage, Nice, Imprimerie de la Société Industrielle, 1902, 27.

36.7 Page 357

▲torna in alto
Vụ Việc Tại Pháp | 357
Suốt cả ngày người ra kẻ vào liên tục trước cửa phòng cha đáng
kính: các giáo viên và học sinh rất vui được mở lòng ra với ngài.
Nhiều người bên ngoài được hưởng lợi từ nhiệt tâm linh mục
và kinh nghiệm của ngài, hạnh phúc khi nhận phép lành của
ngài. Sau lời cầu nguyện, cha Rua đã ban huấn từ tối theo
phong tục của Tu hội Salêdiêng. Các thiếu niên chăm chú lắng
nghe lời ngài đến nỗi không gì có thể làm các em chia trí được.
Bạn có thể thấy điều này từ sự yên lặng của các em, các em
nhìn chằm chằm cha Rua: bạn có thể thấy rằng các em coi
người cha tốt lành không phải là người giảng thuyết bình
thường, nhưng các em nghĩ đó là Don Bosco.
Những lễ hội chính thức kết thúc tối ngày 8 tháng Hai. Cha Rua
rời Nguyện xá Thánh Phêrô tại Nice sáng hôm sau. Như người viết
biên niên giải thích: "các thiếu niên xếp thành hai hàng dưới mái
vòm và ngài đi giữa các em. Các em vui sướng hôn tay ngài lần cuối,
rồi các em trở lại những công việc thường lệ".463 Đây là lần cuối cùng
cha Rua có thể công khai chào thăm các con mình ở Pháp.
Luật của nước Pháp về các Tu hội
Tuy nhiên, ngài đã rời Nice với tâm trạng hơi lo lắng về tương lai
của toàn bộ công cuộc ở Pháp mà ngài vừa tổ chức lễ kỷ niệm 25
năm. Một năm trước, ngài đã bắt đầu rất lo lắng cho nó. Điều gì sẽ
xảy ra nếu các kế hoạch của Chính phủ thuộc nền Cộng hòa thứ ba
dành cho các Tu hội được thực hiện? Torino đã tìm kiếm một giải
pháp pháp lý phòng ngừa cho các biện pháp thù địch dường như
sắp xảy ra. Ngày 26 tháng Sáu năm 1900, khi bắt đầu những ngày
nghỉ học, cha Rua đã mời cha Cartier đến Torino cùng với hai cố vấn
dân thường, luật sư Gaston Fabre và ông Vinh Sơn Levrot. Họ đã nói
chuyện với các cha Giám tỉnh ở Pháp.464 Nhưng có lẽ bị ảnh hưởng
bởi bạn bè cánh hữu của mình, cha Giám tỉnh Bologna và Perrot,
cùng với Charles Bellamy, bề trên ở Algeria, có ý kiến khác. Cha Rua
nhượng bộ theo quan điểm của các vị, ít nhất là trong thời gian đó.
463 XXVème anniversaire..., 125-128.
464 Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Torino, ngày 26 tháng Sáu, 1900, trong
FdR 3881A1.

36.8 Page 358

▲torna in alto
358 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Vì vậy, ngày 19 tháng Bảy, ngài đã viết một bức thư khác cho cha
Lu-y Cartier về tình hình này:
Cha Cartier thân mến, cảm ơn lòng tốt của cha liên quan đến
vụ việc ban hành luật sắp xảy ra này. Tuy nhiên tôi cần phải
thông báo cho cha biết rằng khi được hỏi, cha Bologna, cha
Perrot và cha Bellamy có quan điểm rằng họ không cần phải
đến đây hoặc ở nơi khác, để nói về nó. Họ hy vọng việc ban
hành luật sẽ qua sửa đổi như vậy để trở thành hầu như vô hại
hoặc sẽ cho phép những cách thức mới. Không cần thiết làm
phiền những người bạn tốt này [Fabre và Levrot], trừ khi có nhu
cầu khẩn cấp nào khác. Tuy nhiên về phần chúng ta, cũng cám
ơn họ...465
Vì lo lắng, nên ngày 1 tháng Tám, ngài trở lại với vấn đề của cuộc
họp Torino, mà, rốt cục có thể được tổ chức kín đáo.466 Theo cha Rua
phán đoán, cách tốt nhất - mà Don Bosco đã sử dụng thành công -
là từ chối để thành giống như tu sĩ. Áp dụng logic này, những người
Salêdiêng không phải là một phần của một Dòng Tu, mà là một "Hội
Từ thiện". Họ là một Hiệp hội gồm các giáo sĩ và giáo dân phục vụ
cho các mục đích nhân đạo. Trong các cuộc thẩm vấn được thực hiện
tại Nice, tốt hơn là giới thiệu những người Salêdiêng như một "Hội
gồm các linh mục và trưởng giả tự do" («Société de prêtres et de
bourgeois libres»), được cha Cartier ghi chú ngày 3 tháng Giêng năm
1901, rất đúng tiếng Pháp nhưng dễ làm cho lầm lẫn, vì bạn có thể
đọc từ bourgeois thành từ tiếng Ý borghesi, có nghĩa là công dân,
hoặc thường dân.467
Ngày tháng trôi qua, luật pháp của Chính phủ Pháp về các Hiệp
hội sắp thành hình. Một trong các kế hoạch, được trình bày ngày 14
tháng Mười Một năm 1899, phân biệt hai loại hiệp hội. Theo nghĩa
465 Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Torino, ngày 19 tháng Bảy, 1900, trong
FdR 3881A3-4.
466 Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Torino, ngày 1 tháng Tám, 1900, trong
FdR 3881A5-7.
467 Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Torino, ngày 3 tháng Giêng, 1901,
trong FdR 3881B3.

36.9 Page 359

▲torna in alto
Vụ Việc Tại Pháp | 359
rộng, các hợp đồng của các hiệp hội có thể được tự do soạn thảo
bằng tờ khai được đưa cho Quận trưởng; nhưng các hiệp hội theo lối
nói trại được gọi là "trưởng giả nhỏ", "đưa đến việc từ chối các quyền
thương mại", bị cấm, trừ khi được chính phủ cho phép.468
Luật này được Tổng thống Cộng hòa, Emile Loubet, ban hành
ngày 1 tháng Bảy năm 1901. Trong khi luật rất tự do cho xã hội dân
sự, nó trở nên hạn chế trong đoạn văn dài thứ ba, nhắm hoàn toàn
vào các Tu hội. Các Hiệp hội này đặt ra những vấn đề nghiêm trọng
cho Nhà Nước Pháp, vào thời điểm đó rõ ràng là chống giáo sĩ. Ta
đọc thấy: "Không có Dòng Tu nào có thể tồn tại mà không có phép
hợp pháp, vốn sẽ quyết định cách thức hoạt động của nó. Không
viện nào có thể được thành lập ngoại trừ nghị định rõ ràng của Hội
Đồng Nhà Nước. Hội Đồng Bộ Trưởng có thể ban hành các nghị định
giải tán một Hội Dòng hoặc đóng cửa bất kỳ Tu Viện nào "(khoản
13). Những người đứng sau pháp chế đó thấy rằng các Hội Dòng sẽ
thử một hình thức gian trá nào đó. Hai mươi năm trước những gian
trá đã thành công, với sự khinh miệt của các chính trị gia cánh tả. Vì
vậy, luật được tăng cường để tránh sơ hở: "Không ai được phép điều
hành, trực tiếp hoặc thông qua một người khác, một viện giảng dạy
dưới bất kỳ hình thức nào, cũng như không tham gia giảng dạy nếu
họ không thuộc về một Hội Dòng được cho phép"; những kẻ vi phạm
sẽ bị trừng phạt, và các viện liên quan có thể bị đóng cửa (điều khoản
14). "Bất kỳ Hội Dòng nào được thành lập mà không được phép sẽ
bị tuyên bố là bất hợp pháp. Những người liên quan sẽ bị trừng
phạt... Hình phạt áp dụng cho những người sáng lập hoặc các quản
trị viên sẽ tăng gấp đôi" (điều khoản 16). Một điều khoản tuyên bố
vô hiệu lực tất cả các hành vi giữa người sống hoặc di chúc của họ,
để xem xét hoặc miễn phí, thực hiện trực tiếp và gián tiếp, đối tượng
cho phép thành lập các hiệp hội một cách hợp pháp hoặc bất hợp
pháp để trốn tránh các quy định của Đạo luật (điều khoản 17). Cuối
cùng, theo điều khoản 18, các Hội Dòng hiện tại chưa được cho phép
trước đây, vốn là trường hợp của hầu hết các Tu hội, nam hay nữ, và
468 X. cuối cùng J.-P. Machelot, La République contre les libertés, Paris, 1976, trang
369-370.

36.10 Page 360

▲torna in alto
360 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đặc biệt là những người Salêdiêng và các Nữ tu Salêdiêng, trong
vòng ba tháng, cần phải xin phép để tiếp tục tồn tại; nếu không, tài
sản của họ sẽ bị đem bán, có nghĩa là bị tịch thu và thanh lý.
Sách lược của người Salêdiêng đối phó với luật mới
Những người Salêdiêng có thẩm quyền, cha Rua đứng đầu, phải
quyết định hành động thế nào trước ngày 1 tháng Mười. Tháng Bảy,
tháng Tám và tháng Chín năm 1901 rất quan trọng đối với Bề Trên
Cả và các Giám tỉnh ở Pháp. Chỉ có thể ra quyết định ở Torino, dưới
sự kiểm soát của cha Rua. Không làm gì sẽ là tự kết án cho mình chết
nhanh chóng. Sau khi luật được ban hành, cha Rua viết cho cha Lu-
y Cartier:
... Liên quan đến luật mới cho các Hội Dòng, lấy được thông
tin chính xác từ các Hội Dòng và những người làm luật hiểu cặn
kẽ tình hình này là điều tốt cho cha và sau đó đến đây ngay sau
Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời, mang theo cha một số người bạn
tốt mà cha tin là phù hợp nhất để soi sáng vấn đề hóc búa
này... Hãy cố gắng chuẩn bị kỹ mọi điểm và nhất trí với cha
Perrot về ngày giờ đến.469
Thực vậy, các quyết định phải được thực hiện khẩn cấp, yêu cầu
xin phép phải được đệ trình trễ nhất vào những ngày đầu tháng
Mười. Hai tuần sau, cha Rua nói với cha Cartier rằng cuộc họp được
đôn lên ngày 29 tháng Bảy và chúng ta có tên của "người bạn thân
mến" đó: "Cha hãy xem liệu có thể đến với Luật sư Favre [Fabre] và
bất kỳ ai khác mà cha nghĩ là thích hợp".470 Luật sư Gaston Fabre
cuối cùng sẽ trở thành cố vấn pháp lý chính của cha Lu-y Cartier và
sau đó cũng của những người Salêdiêng, về vấn đề các Tu Hội trong
suốt giai đoạn đầu của cuộc tranh luận.
Vào mùa hè năm 1901, hai cuộc họp được tổ chức tại Torino về
469 Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Torino, ngày 5 tháng Bảy, 1901, trong
FdR 3881C1.
470 Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Torino, ngày 22 tháng Bảy, 1901, trong
FdR 3881C2.

37 Pages 361-370

▲torna in alto

37.1 Page 361

▲torna in alto
Vụ Việc Tại Pháp | 361
vấn đề này, dưới sự điều hành của cha Rua.471 Cuộc họp thứ nhất, từ
ngày 31 tháng Bảy đến ngày 2 tháng Tám, vì chịu ảnh hưởng bởi
những người bạn tốt của cha Bologna, nên đã đồng ý rằng nhân
danh tất cả các nhà Salêdiêng trong nước (bao gồm Algeria), cần
phải xin được phép tồn tại dưới các hình thức cần thiết, cho một Tu
hội Don Bosco với trung tâm chính ở Paris. Trong trường hợp này,
cha Rua thể hiện niềm tin mạnh mẽ vào những người con tại Pháp
của mình bằng cách cho phép họ tạo ra một Tu hội khác với Tu hội
của ngài. Nhưng vào đầu tháng Chín, trong cuộc họp thứ hai, mọi
thứ đã thay đổi.
Vào thời điểm đó, tất cả các giám đốc của các nhà ở Pháp đều ở
Torino dự Tổng Tu Nghị Thứ Chín. Họ cùng nhau thảo luận các vụ
việc. Một sự kiện mới nổi lên: Giám đốc nhà Salêdiêng tại
Montpellier, Paul Babled, đã nhận được một lá thư từ Đức Giám mục
thành phố, de Cabrières (1830-1921), người đang tư vấn chống lại
yêu cầu xin phép. Theo ngài nếu nó được chấp nhận nó sẽ gây ra đủ
loại vấn đề. Ngài đề xuất những người Salêdiêng Pháp "được hoàn
tục", một biện pháp đã được chính Thánh Bộ các Giám mục và Dòng
Tu xem xét trong một bức thư gửi cho các bề trên của các Hội Dòng
ngày 10 tháng Bảy năm 1901. Ý kiến của Đức Giám mục de Cabrières
có giá trị với những người Salêdiêng, đặc biệt là những người ở miền
Nam nước Pháp, những người luôn được ngài quý mến. Với sự hỗ
trợ của cha Lu-y Cartier, đề nghị của ngài, mà mọi người đều thấy là
thuận lợi, đã thắng phiếu: Đầu tháng Chín hai mươi hai giám đốc có
mặt nói rằng họ ủng hộ việc hoàn tục. Cha Rua đã đồng ý, với điều
kiện là Rôma chấp thuận. Cha Lu-y Cartier ngay lập tức đến Rôma và
trở về với mọi sự cho phép có được từ Đức Hồng y Bảo trợ Parocchi
của Tu hội Salêdiêng, và Đức Hồng y Gotti, Chủ tịch của Thánh Bộ
các Giám mục và Dòng Tu.
Những người Salêdiêng Pháp đưa ra sáu quyết định trong hội nghị
471 Những nguồn để tái cấu trúc sự kiện này được tìm thấy trong ASC, Nice dossier.
Liên quan đến đoạn của Pháp, x. chương được ghi lại trong Annali III, 124-143;
cũng x. F. Desramaut, Don Bosco à Nice. La vie d’une école professionelle catholique
entre 1875 et 1919, Paris, Apostolat des Éditions, 1980, 103-116.

37.2 Page 362

▲torna in alto
362 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
bởi vì sự hoàn tục của họ. 1) việc hoàn tục: tất cả các linh mục và
người Salêdiêng có chức thánh (các phụ phó tế và các thầy phó tế)
phải trình bày lời xin hoàn tục của họ cho cha Rua, ngài sẽ cấp cho.
Các sư huynh sẽ được coi là những thành viên được thuê mướn và sẽ
ký một biên nhận hàng tháng về tiền lương (giả). Các Nữ tu sẽ mặc
thường phục, kín đáo, mặc dù không phải là đồng phục, vì những lý
do dễ hiểu. Trong những nhà không tự trị của họ, có nghĩa là những
nhà gắn liền với công cuộc Salêdiêng, họ sẽ chính thức nhận được
tiền lương và trong các căn nhà tự trị của họ, họ sẽ được chính thức
được coi là giáo viên ở các trường tự do. 2) Tập viện: hai tập viện ở
Pháp (Saint-Pierre des Canons và Rueil) sẽ trở thành một và những
tập sinh được gửi ra nước ngoài. 3) Tài sản: bất động sản luôn phụ
thuộc vào xã hội dân sự, trong khi động sản sẽ được giao cho các
Giám đốc tương ứng của các công cuộc. 4) Thư tín: thư cho các bề
trên hoặc do các bề trên viết sẽ được để trong một phong bì đôi và
gửi đến các điểm đến đã thỏa thuận. Điều này dường như là một
cách dễ dàng để che giấu danh tính của những người viết thư thay
vì là "Cha" hoặc "anh em" sẽ chỉ là "Ông", "bạn bè" hoặc "chú bác".
5) Tập san Salêdiêng cũng phải xét đến sự tục hóa,472 tuy nhiên, trấn
an các Cộng Tác viên về việc tiếp tục công cuộc Salêdiêng tại Pháp.
6) Cuối cùng, cuốn niên giám chung của Tu hội sẽ không nói gì về
công cuộc Salêdiêng tại Pháp. Sự thù địch của Chính phủ đã buộc
người Salêdiêng phải hoạt động bí mật.
Sau đó, một bất hạnh mới và nghiêm trọng xảy đến: trong một lá
thư ngày 6 tháng Chín năm 1901, Đức Hồng y Tổng Giám mục cao
niên của Paris, François Richard (1819-1908) - người sẽ chấp nhận
cha Giuse Bologna, Giám tỉnh Paris và giám đốc công cuộc tại Paris
vào trong số các giáo sĩ của mình - đã lên tiếng chống lại việc tục
hóa để được cấp phép. Quan điểm thống nhất đạt được trước sự kiện
giờ đây đã tan rã. Cha Lu-y Cartier không thay đổi ý định; nhóm các
giám đốc từ miền Nam hợp ý ủng hộ cha. Cha Rua cũng tiếp tục thúc
đẩy sự tục hóa. Ở Tỉnh phía Bắc, cha Angelo Bologna, giám đốc của
ngôi nhà quan trọng ở Lille và anh trai của cha Giám tỉnh ở Paris,
472 «Heure d’angoisse», trong Bulletin Salésien, tháng Mười, 1901.

37.3 Page 363

▲torna in alto
Vụ Việc Tại Pháp | 363
cũng làm vậy, phân phát cho các hội viên các huấn lệnh của Rôma
đã chính thức tục hóa họ. Nhưng cha Giám tỉnh ở miền Bắc, người
theo chính sách hòa giải với chính quyền và muốn giữ quan hệ tốt
với Đức Giám mục của mình, đang theo đuổi cách thức của Đức Hồng
y Richard và dần thu hút phần còn lại của Tỉnh theo quan điểm này.
Trở về nhà để đưa ra những quyết định cuối cùng để xin cấp phép,
ngài muốn trình bày một mặt trận Salêdiêng thống nhất bằng mọi
giá, qua một mánh khóe ở phút cuối cùng, mà ngài đã giấu kín, ngài
cố gắng gộp cả khu vực phía nam trong đơn xin cấp phép của mình.
Cha Bologna thậm chí còn bắt cha Rua hành động sớm hơn. Ngày 1
tháng Mười, ngày trước khi phải nộp đơn xin cấp phép, ngài gửi điện
tín: "Micae Rua, Torino: Câu hỏi liệu phải xin đơn cấp phép cho tất
cả các nhà hay chỉ những nhà ở miền bắc". Văn khố của Salêdiêng
đã giữ bức điện tín này với câu trả lời khôn ngoan ngắn gọn từ Bề
trên Tổng Quyền: "Chỉ xin cấp phép cho miền Bắc". Cha Rua đã
không thay đổi ý định của mình và do đó giúp đỡ cho cha Giám tỉnh
ở miền Nam rất nhiều, bởi đó mà ngài được cứu. Kiểu từ chối này
không làm cha Bologna nhụt chí, ngài cố gây áp lực với cha Giám
tỉnh ở Marseilles nhưng không thành công. Một bản tóm tắt nỗ lực
của ngài, đề cao cha Rua, xuất hiện trong một bức thư mà Giám tỉnh
Phêrô Perrot viết cho cha Lu-y Cartier ngày 4 tháng Mười :
... Nếu hôm nay tôi đã gửi cho cha một bức điện, đó là vì tôi
được biết từ một lá thư từ cha Bologna gửi đến ngày hôm qua
lúc 3 giờ chiều, với sự cho phép của cha Rua, xin cấp phép cho
miền Bắc và ủy thác cho tôi cũng làm như vậy. Cha đã trả lời
không và tôi tin rằng cha đúng. Tôi đã hỏi các giám đốc, chỉ để
được rõ ràng tuyệt đối, nhận thấy thời gian bị hạn chế và tôi
không thể kêu gọi mọi người lại với nhau. Chúng tôi sẽ không
thay đổi quyết định đã được đưa ra.
P. Perrot.
Cha Giám tỉnh ở Paris theo cùng đường lối. Từ Torino cha Rua
không thể làm gì khác ngoài việc xem các sự kiện tiến triển. Tu hội
Salêdiêng mới, với các trung tâm khác nhau đã đăng ký đúng lúc, tất
cả đều phụ thuộc vào Tỉnh Giáo xứ, ban đầu dường như đã giành

37.4 Page 364

▲torna in alto
364 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
được sự ủng hộ ở mức nào đó. Trong khi Chính phủ đệ trình phần
lớn các yêu cầu xin phép tới Hạ nghị viện – cơ quan chống giáo sĩ
nhiều hơn - và chia các yêu cầu thành các nhóm với cấp độ thụt lùi
(các thầy tu giáo viên, các thầy tu giảng thuyết, các thầy tu doanh
nhân ...), yêu cầu của cha Bologna đã được gửi đến Thượng viện
cùng với năm hiệp hội tu sĩ khác. Emile Combes, người đã trở thành
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đã tự mình giải quyết vấn đề này ngày
2 tháng Mười Hai năm 1902. Nhưng ông liên kết yêu cầu của người
Salêdiêng với những lời vu khống về việc bóc lột lao động trẻ em
của các tu sĩ vốn là những thành viên của một hội dòng nước ngoài
và ý thức hệ mà họ đang truyền đạt cho các học sinh. Ông tin rằng
người Salêdiêng có hại cho ngành kinh doanh và công nghiệp tư
nhân, vì vậy ông cần từ chối yêu cầu xin cấp phép của họ. Những
người Salêdiêng (Lu-y Cartier và Giuse Bologna) phản đối trong hai
ấn phẩm ngắn nhằm cố gắng thay đổi quan điểm của ông. Họ đã
không thành công.
Sau đó, vụ việc Salêdiêng đi đến Thượng viện. Mặc dù những kỷ
niệm thuận lợi được những học sinh và bạn bè trong quá khứ ở Lille,
Dinan, Oran và Paris truyền đi; mặc dù một cuộc tranh luận rất đúng
đắn đã diễn ra trong hai phiên họp ngày 3 và 4 tháng Bảy năm 1903,
và điều này có thể đã làm thay đổi tình cảnh nếu ít có tính bè phái
hơn, cuộc bỏ phiếu cuối cùng chống lại người Salêdiêng. Ngày 4
tháng Bảy, 98 thượng nghị sĩ đã tuyên bố ủng hộ việc áp dụng luật,
do đó được phép, nhưng một trăm năm mươi tám người đã bỏ phiếu
chống. Tờ Journal Officiel kết luận: "Thượng viện đã không chấp
thuận". Những người Salêdiêng ở miền Bắc nước Pháp đã bị đánh
bại. Trong suốt mùa hè tất cả các nhà đã được dọn sạch (Paris, Lille,
Dinan, Mordreuc, Rueil, Ruitz, Coigneux, Saint-Denis). Chúng ta thấy
họ vượt ra khỏi nước Pháp, trong một hoặc một ngôi nhà khác với
một nhóm trẻ mồ côi: Thụy Sĩ, Bỉ, Guernesey, Ý và một số lãnh thổ
truyền giáo. Những người khác đã tị nạn xuống miền Nam.
Những nhà ở miền Nam, mà các thành viên của họ đã chính thức
được "hoàn tục" và quan điểm pháp lý, không còn phụ thuộc vào sự
cai quản từ Torino, theo con đường riêng của họ. Các công cuộc nhỏ

37.5 Page 365

▲torna in alto
Vụ Việc Tại Pháp | 365
hơn (Nizas, Montmorot) mau chóng biến mất. Một trong số đó
(Rômans) đã thành công trong việc được các cơ quan dân sự công
nhận dưới vỏ bọc của một chính quyền được tuyên bố là "thế tục".
Đối với những nhà quan trọng hơn - Nice, Marseilles, la Navarre và
Montpellier - mặc dù được các quản trị viên dân thường thiết lập, họ
đã tồn tại được nhưng với giá phải trả là những cuộc lục soát và bị
đòi ra hầu tòa vì đã tái lập bất hợp pháp một hội dòng tôn giáo, kết
quả là phải chịu nộp phạt, bán tài sản và các vấn đề khác. Nhưng họ
không ngã lòng. Vào những năm cuối cùng thời cha Rua làm Bề Trên
Cả, lãnh thổ Pháp vẫn thấy các công cuộc người Salêdiêng hoạt động
với những nam nữ tu sĩ thực sự, tất cả đều được chính thức tục hóa.
Bề Trên Cả không thể làm được gì hơn cho các nhà. Những vấn
đề nghiêm trọng nhất của ngài xuất phát từ các cha Giám tỉnh Phêrô
Perrot và Giuse Bologna. Những vấn đề này phức tạp đến mức chúng
ta cần trình bày chúng trong một chương riêng. Và sau đó chúng ta
sẽ hiểu phương pháp cai quản của cha Rua, vì ngài là nhân vật chủ
chốt trong những sự kiện này.

37.6 Page 366

▲torna in alto
366 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
26
Cuộc Khủng Hoảng
của các Giám Tỉnh Pháp
Cha Giám tỉnh Phêrô Perrot mất quyền
Tình trạng xáo trộn của Tu hội Salêdiêng ở Pháp đã đặt hai cha
Giám tỉnh, Perrot và Bologna, trong một tình huống cho đến giờ
chưa biết phải làm sao và sẽ là nguyên nhân khiến Bề Trên Cả cực kỳ
bối rối. Những diễn tiến sau khi các ngài rời khỏi chức vụ có vẻ đi
quá đà nhưng chúng cho chúng ta biết rõ hơn phương pháp cai quản
của cha Rua. Chúng ta bắt đầu ở phía nam, ở đó nố của cha Giám
tỉnh Perrot ngày càng dễ bùng nổ hơn.473
Cha Giám tỉnh đáng thương Giuse Bologna đã có được quốc tịch
Pháp. Vì vậy sau cuộc bỏ phiếu tai họa tháng Bảy năm 1903, ngài
có thể sống trong một căn hộ ở Paris với tư cách là một cựu nhân
viên Salêdiêng, để cố gắng giúp đỡ các tu sĩ Pháp thuộc tỉnh của ngài
bị phân tán đi khắp nơi, ở Pháp, Guernsey, Thụy Sĩ, Bỉ và ở Ý. Điều
này lại không như thế với cha Giám tỉnh Phêrô Perrot ở Marseille,
ngài cùng với tất cả những người Salêdiêng Ý ở tỉnh miền nam đã
phải trở về Ý, quê hương ngài. Vào năm 1904, lúc ấy rõ ràng đã
sống lưu vong không còn ở Pháp, ngài sống ở Bordighera trên bờ
biển Liguria giữa San Remo và Ventimiglia, ở một nơi được gọi là Il
Torrione, những người Salêdiêng điều hành một ngôi trường và coi
sóc một giáo xứ. Từ đó, cha Giám tỉnh của tỉnh miền nam, đã tìm
cách chăm sóc những hội viên của ngài. Tuy nhiên, cha Rua hiểu
rằng đây là một nhiệm vụ bất khả thi và nghĩ đến người thay thế
ngài trên đất Pháp.
473 Ở đây tôi dựa vào bài tường thuật của tôi, Les crises des inspecteurs de Chaance
(1904-1906) trong RSS 16 (1997) 7-56 (trích ở dưới: Les crises...

37.7 Page 367

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 367
Vào năm 1904, việc ngôi nhà ở Montpellier bị chính thức đóng
cửa làm cho cha Phaolô Virion được tự do; ngài đã trở thành giám
đốc ở đó sau khi Phaolô Babled qua đời năm 1901. Phaolô Virion
(1859-1931) là một người Pháp từ Alasace; ngài thận trọng và là một
quản trị viên giỏi. Biên bản cuộc họp của Tu Nghị Bề trên ngày 12
tháng Giêng năm đó, do cha Rua chủ trì, thông tri cho chúng ta rằng:
‘Hội đồng quyết định giao cho cha Virion đi kinh lý những anh em
ở miền nam nước Pháp, vì bây giờ cha Perrot không thể đến Pháp.
Ngài sẽ được thông báo về sự sắp đặt này.’474 Thẩm quyền bắt đầu
vuột khỏi tay cha Perrot. Ngài cố gắng níu kéo bằng cách tập hợp
quanh ngài tất cả các hội viên buộc phải sống lưu vong ở Ý. Tại sao
ngài không bắt chước Cha Giám tỉnh Paris, người đã thành lập trung
tâm tỉnh của ngài tại nhà Salêdiêng ở Bỉ tại Tournai, gần biên giới
Pháp? Ngày 25 tháng Sáu năm 1904, biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề
trên ghi lại: ‘Cha Perrot đề nghị đối với tỉnh phía Nam nước Pháp
một phần nhà của Bordighera được dành riêng để tập hợp những
người có thể đến từ Pháp và rằng educatorio [trường học] được chuyển
đến trường nội trú của Varazze gần Savona. ‘Hội đồng không chấp
thuận.’ Ta có thể hiểu nó từ chối chuyển trường học đi để chào đón
các hội viên vốn có nhiều khả năng được sắp đặt tới trường học khác
có những học sinh Pháp.
Từ ngày 23 tháng Tám đến ngày 13 tháng Chín năm 1904, một
Tổng Tu Nghị quan trọng được tổ chức tại Torino-Valsalice (chúng ta
sẽ nói về nó sau này). Lần đầu tiên mỗi tỉnh đã bầu một đại biểu cho
Giám tỉnh như một thành viên theo quyền của Tổng Tu Nghị. Ở Pháp,
Angelo Bologna sẽ đi cùng anh trai của mình, Giám tỉnh ở phía Bắc.
Ở miền Nam, Phaolô Virion được chọn, điều đó hoàn toàn phù hợp
với ý cha Rua; ngài đã viết cho cha tại Strasburg lá thư trìu mến sau
đây:
Torino, 4-VIII-1904
474 Tất cả những cuộc thảo luận thấu đáo của Tu Nghị Bề trên trong suốt thời Don
Rua có thể được tìm thấy theo ngày tháng tương ứng trong FdR 4240D8-4250D7.

37.8 Page 368

▲torna in alto
368 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Cha Virion thân mến,
Tôi đã nghe nói cha được bầu để đi cùng cha Giám tỉnh. Trong
hoàn cảnh này, tôi nghĩ ở vài ngày tại Dilbeck, gần Brussels,
thì tốt cho cha để kiểm tra công trình của học viện ở đó.
[Virion là một kiến trúc sư chuyên nghiệp] và sau đó đi với
Giám tỉnh đến [Torino]. Ở đây chúng ta sẽ nói về Montpellier
và Marseille và quyết định tương lai.
Cho tôi gửi lời hỏi thăm bà cố của cha và bạn bè của chúng
ta và tôi cầu xin Thiên Chúa cho cha mọi phúc lành.
Bạn thân mến của cha,
Cha Micae Rua.475
Cha Rua đang chuẩn bị cho cha Virion những trách nhiệm mới.
Cha Perrot bị bãi nhiệm
Cha Perrot đã thường xuyên tham dự Tổng Tu Nghị ở Valsalice.
Ngày 3 tháng Chín, cùng với cha Bologna, ngài được mời đến một
cuộc họp với Tu Nghị Bề trên để thảo luận về tính khả thi đóng cửa
các nhà ở miền nam nước Pháp. Biên bản rất ngắn gọn: ‘Giám mục
Montpellier đồng ý việc rút người Salêdiêng khỏi giáo phận của ngài.
Một số biện pháp tạm thời được soạn thảo để sắp đặt nhân sự trong
những nhà vẫn còn hiện hữu.’
Cha Giám tỉnh Perrot có thể vẫn gánh vác trách nhiệm mà ngài
phải vật lộn để hoàn thành không? Phần lớn mọi người trong Tu
Nghị Bề trên không nghĩ vậy. Quan điểm này được cha Phaolô
Albera, Linh hướng và là người tiền nhiệm của cha Perrot tại
Marseilles, ủng hộ đặc biệt. Mười ngày sau khi bế mạc Tổng Tu Nghị,
Tu Nghị Bề trên phải đối mặt với đề nghị ‘bãi nhiệm chức Giám tỉnh
thuộc tỉnh miền Nam nước Pháp của cha Phêrô Perrot, vì nhiệm khóa
sáu năm của Cha được Quy luật ấn định đã hết hạn.’ Biên bản tiếp
tục với một nhận xét phải được ghi nhớ xuyên suốt toàn bộ sự kiện
này. ‘Cha Rua muốn cha Perrot được tái xác nhận. Một cuộc bỏ phiếu
kín được tổ chức. Với bốn phiếu thuận một phiếu chống, cha Perrot
475 Văn khố tỉnh Salêdiêng, Paris, hồ sơ Paul Virion.

37.9 Page 369

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 369
bị bãi nhiệm chức Giám tỉnh. Mọi người quyết định đặt ai đó chỉ để
phụ trách vị trí của ngài.’ Chỉ có cha Rua đã phản đối đề nghị.
Người phụ trách này là Phaolô Virion khi ngày hôm sau ngài nhận
được một lá thư giới thiệu trên danh nghĩa của cha Rua và một lá
thư ngắn với con dấu của Tu hội Salêdiêng. Lá thư đầu tiên được viết
trên hết cho Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và thông báo cho họ:
‘Xét thấy cha Perrot đã hoàn tất nhiệm kỳ Giám tỉnh của ngài, cha
Virion đã được chọn để thay thế ngài trong bất cứ việc gì liên quan
đến Tu hội chúng ta và trong việc coi sóc nhân sự của cả hai dòng
nam nữ ở tỉnh miền Nam nước Pháp trước đây. Lá thứ hai đề ngày
27 tháng Chín năm 1904, tuyên bố cha Phaolô Virion được đặt phụ
trách những công việc của Tu hội Thánh Phanxicô Salê và như vậy đã
được cha Rua giao phó cho lòng tốt của các Cộng Tác viên và các nhà
hảo tâm của các công cuộc Salêdiêng.476 Rốt cục, các người Salêdiêng
phải được thông báo. Ngày 28 tháng Chín, trong một thư luân lưu
rõ ràng dành riêng cho ‘các hội viên Salêdiêng ở miền nam nước
Pháp’, cha Rua thông báo với họ rằng việc bỏ phiếu tái xác nhận cho
cha Perrot làm Giám tỉnh không được tán thành và do đó nhiệm vụ
của ngài đã kết thúc.477
Tin tức không làm cha Perrot hài lòng vì ngài không nhìn thấy
điều gì thỏa đáng được đề xuất trong việc thay đổi. Ngài mệt mỏi vì
chờ đợi ở Bordighera và quyết định lên tiếng ở Torino. Bắt đầu một
tháng sau khi đề cử người hội viên phụ trách, cha Rua bị ngài phản
đối tới tấp. Mười hai lá thư của ngài gửi cho Bề Trên Cả trong khoảng
thời gian từ ngày 20 tháng Mười đến ngày 30 tháng Mười Hai đã
được lưu giữ. Thư lặp đi lặp lại rằng ngài sẽ chỉ chấp nhận một trách
nhiệm có phẩm giá ngang bằng với một phẩm giá mà họ đã tước
đoạt của ngài. Việc linh hướng cho một nhà quan trọng ở Ý không
đủ; ngài không cảm thấy như đang dẫn đầu một chuyến thám hiểm
truyền giáo đến Viễn Đông .v.v.. Sau những bức thư đầu tiên này,
cha Rua, vốn chia sẻ những nỗi đau của cha Perrot, được yêu cầu
476 Hai tài liệu viết tay này của Don Rua được tìm thấy trong văn khố tỉnh Salêdiêng
ở Paris: hồ sơ Paul Virion.
477 Bản viết tay của Don Rua trong FdR 3984C9-10.

37.10 Page 370

▲torna in alto
370 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
không trả lời ngài nữa; thư ký của Tu Nghị Bề trên sẽ chịu trách
nhiệm trả lời. Biên bản của Tu Nghị Bề trên ngày 6 tháng Mười Hai
đã tóm tắt những trao đổi giữa Bordighera và Torino:
... Cha Perrot đã viết vài lần rằng ngài muốn được giao trách
nhiệm tương đương với địa vị mà ngài đã có trước đây; ví dụ
như Vị Kinh lý của các Nữ tu ở Tây Ban Nha - một điều mà
không thể được cấp cho ngài. Cha Rua gợi ý việc linh hướng
cho nhà ở Sampierdarena nhưng điều đó không phù hợp với
mong muốn của ngài; giúp đỡ những người di cư Ý ở Naples
- quá mệt mỏi với sức khỏe của ngài; dẫn đầu sứ mệnh đến
Trung Quốc thì ngài trả lời rằng ngài không còn trẻ nữa và
kết thúc bằng việc đe dọa cầu viện đến Rôma. Cha Rinaldi đề
xuất ngài chức vụ thư ký cho Đức Giám mục Cagliero. Cha Rua
kết luận rằng ngài sẽ đề xuất nó và sau đó để cha Perrot làm
những gì ngài nghĩ. Tuy nhiên, người sưu tập tài liệu nói
thêm, điều đó chỉ cho thấy rằng ngài thực sự không xứng
đáng với trách nhiệm mà ngài đã có.
Cha Perrot cố chấp. Tháng Giêng năm 1905 có thêm bốn lá thư
đến Torino từ Bordighera: hai lá được gửi đến cha Rua và hai lá gửi
cho Cố vấn Celestine Durando. Những lời ngài than phiền khiến các
thành viên của Tu Nghị Bề trên phát cáu. Trong biên bản ngày 1
tháng Hai năm 1905, chúng ta đọc thấy: ‘Cha Durando được giao
nhiệm vụ viết thư cho cha Perrot rằng Hội đồng không còn gì để nói
thêm ngoài những gì đã được viết và ngài nên làm bất cứ điều gì
ngài thích.’ Tuy nhiên, nguyên Giám tỉnh không chịu im lặng. Vào
ngày 3, 5 và 24 tháng Hai, và sau đó ngày 5 tháng Ba, ngài tiếp tục
chiến dịch phục hồi bằng những lá thư gửi cho cha Durando. Ngài
giận dữ với cách đối xử khác dành cho Giám tỉnh miền Bắc nước
Pháp, cha Bologna, người chống lại ý kiến của đa số các hội viên, đã
từ chối sự lựa chọn thế tục và yêu cầu xin chính phủ cấp phép cho
tỉnh của ngài, do đó mất tất cả các nhà. Ngài cũng được bổ nhiệm
vào năm 1898 nhưng việc hết hạn vào năm 1904 đã không là đòn
chí tử với ngài; ngài không phải trả giá cho tước hiệu lẫn quyền lực
qua sự thất bại của mình.

38 Pages 371-380

▲torna in alto

38.1 Page 371

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 371
Cha Perrot bào chữa bốc đồng và cầu viện Rôma
Lúc này là năm 1905. Giám tỉnh 'bãi nhiệm' giờ đây yêu cầu thẩm
định pháp lý cho trường hợp của ngài được hai nhà thần học soạn
ra, mà theo quan điểm của ngài, thực tế họ sẽ là các luật sư của ngài.
Đó là Cố vấn Giuse Bertello và nhà thần học luân lý Lu-y Piscetta. Từ
họ, ngài có được một bản kiến nghị mà sẽ khiến cho cha Rua cực kỳ
bối rối.
Như bây giờ cha Perrot tin rằng ngài có thể khẳng định thì nếu
ngài đã được chính thức bầu làm Giám tỉnh trong 6 năm chỉ vào ngày
19 tháng Ba năm 1902, ngày xác nhận nhiệm vụ của ngài theo giáo
luật, sau đó ngài là nạn nhân của một cách xử trí bất công và có thể
yêu cầu phục hồi chức vụ hoặc một vị trí tương đương. Theo quan
điểm của ngài, sự phán xét của các nhà thần học ủng hộ ngài về một
số điểm cơ bản mà ngài giải thích như sau: ‘Lần bổ nhiệm đầu tiên
(năm 1898) không hợp lệ; do đó chỉ có lần bổ nhiệm năm 1902 là
hợp lệ. Một điều cần thiết nghiêm trọng được yêu cầu là cách chức
ngài. Bề Trên Cả có nghĩa vụ giữ danh dự cho người hội viên. Khuyên
răn, ad suavius regimen (để đạt được một thỏa thuận một cách thân
thiện), để cho ngài biết lý do bị cách chức.’478 Vụ việc trở nên khó
chịu. Cha Rua tránh tự mình quyết định cách thế xử lý tình huống
này. Ngày 5 tháng Ba, biên bản họp Tu Nghị Bề trên cẩn thận viết
xuống quan điểm của các Bề trên:
Sau những bức thư của cha Perrot ngày 24 tháng Hai và 3
tháng Ba, Hội đồng giao trách nhiệm cho thư ký [Calogero
Gusmano] trả lời: a) rằng trong thư của ngài ngày 5 tháng
Hai, ngài tự đề xuất một cuộc tư vấn thần học, ngài đề ra
những câu hỏi và cho tên của hai nhà thần học mà ngài mong
muốn được tư vấn, kết luận rằng: ‘Mặc dù cách tiến hành này
chỉ cung cấp cho tôi một sự bảo đảm tương đối, tuy nhiên,
tôi hài lòng với nó’. Các Bề trên thực hiện mong muốn của
ngài theo trong thư; b) rằng trong hồi đáp của ngài cho câu
478 Theo hồi ký do Cha Perrot ghi: ‘Trong buổi huấn đức tối hôm qua...’ trong ASC,
hồ sơ Peter Perrot. Một vài lá thư của Perrot vốn được nhắc đến ở đây được tìm
thấy trong cùng hồ sơ này.

38.2 Page 372

▲torna in alto
372 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
trả lời của hai nhà thần học, ngài nói thêm, ‘Bây giờ, cha Rua
là người có tiếng nói sau cùng'; c) rằng cha Rua không muốn
hành động một mình mà cùng với Hội đồng của mình, muốn
mời gọi ngài từ bỏ suy nghĩ về chức Giám tỉnh hoặc bất kỳ vị
trí nào có phẩm giá tương đương và phục tùng vô điều kiện
trong sự vâng lời các Bề trên hợp pháp của mình.479
Cha Perrot trả lời rằng ngài chưa bao giờ không vâng lời vì ngài
đã không được lệnh phải làm bất cứ điều gì. Với phản ứng này, ngài
tự làm hại mình thêm. Ngày 10 tháng Tư, cha Phanxicô Cerruti, cố
vấn lo học vụ, được giao đề nghị (hay đúng hơn là áp đặt) cha Perrot
rằng ngài đảm nhận việc linh hướng cho nhà ở Oulx, gần biên giới
Pháp.480 Lá thư vâng lời được gửi vào ngày hôm sau. Vị Giám tỉnh
‘bãi nhiệm’, hy vọng trở lại hệ thống tôn ti của Tu hội mình, coi đó
là sự giả vờ. Nguyện xá Thánh Tâm được thành lập tại Oulx năm
1895, là một nhà nhỏ có ba hoặc bốn anh em nằm lọt giữa các chân
đồi của dãy núi Alps. Vì vậy ngài không đi và gửi lần lượt hai lá thư
phản đối tới cha Rua. Hội đồng chán nản với sự kháng cự của ngài
và ngày 18 tháng Tư đã ban hành một tối hậu thư qua thư ký
Gusmano, yêu cầu ngài tùng phục trong vòng hai tuần, có nghĩa là
vào đầu tháng Năm.481 Với cõi lòng đang bị xáo trộn, ông bạn đáng
thương chịu nhượng bộ. Ngày 4 tháng Năm, ngài viết từ Oulx, thông
báo ngài vâng phục. Nhưng ngài không hoàn toàn chịu nhượng bộ
và thực hiện lời đe dọa cầu viện đến Tòa Thánh bằng cách gửi một
bức thư cho Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu trong đó ngài yêu
cầu được phục hồi chức vụ tương đương với chức vụ mà trước đó
ngài bị tước đoạt cách bất công. Bộ báo đã nhận được thư. Thật
không may cho cha Perrot, thư đã có những ý tưởng rất đơn giản về
sự vâng lời mà người tu sĩ có trách nhiệm với bề trên của mình trong
hiệu lực lời khấn của họ. Trường hợp của cha Perrot không được chấp
nhận. Lời cầu viện của ngài bị trả lại chỉ với một từ đủ nghĩa rõ ràng:
remittatur (bị bác).
479 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, 5 tháng Ba, 1905, trong FdR 4244E7.
480 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, 10 tháng Tư, 1905, trong FdR 4245A1.
481 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, 18 tháng Tư, 1905, trong FdR 4245A3.

38.3 Page 373

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 373
Tuy nhiên, với lòng tốt, cha Rua muốn kéo dài nhiệm vụ của vị
Giám tỉnh miền Nam nước Pháp, biểu lộ sự thông cảm nên đã về phe
với ngài. Thánh Bộ Rôma vừa mới trả lời than phiền cho người gửi
thư ở Oulx khi một sự cầu viện khác đến từ Torino, kèm theo một lá
thư của Bề Trên Cả và sự tư vấn của các cha Bertello và Piscetta. Động
thái đối nghịch này từ quyền bính mà chỉ vừa mới được tuyên bố
trong quyền của mình, yêu cầu phán xét có lợi cho việc được xem
xét lại, làm Thánh Bộ Rôma phát cáu. Hồ sơ đã được chuyển cho
chuyên gia Gennaro Bucceroni, người có lẽ là tác giả của việc từ chối
khiếu nại pháp lý đầu tiên. Ông tóm tắt giải pháp của mình cho vị
đại diện các bề trên của người Salêdiêng ở Rôma. Cha Tôma Laureri
(1859-1918) là người thay thế cho cha Tổng Đại diện Gioan Marenco
(1853-1921) tại Vatican. Vị chuyên gia triệu tập ngài và bộc lộ cách
xét xử với một sự tàn bạo nào đó (nếu bạn có thể đánh giá từ bản
tường thuật mà chúng tôi có). Cha Perrot là một pessimo religioso
(một tu sĩ rất tệ hại) và sai lầm nghiêm trọng (torto marcio); đây là ý
nghĩa câu trả lời mà Thánh Bộ Rôma sẽ gửi đến Torino. Sau đó, vị
chuyên gia đã thuyết giảng một bài học cho những người Salêdiêng
có thẩm quyền, nghĩa là cho cá nhân cha Rua. Sự nhu nhược quá
mức của ngài và việc lập một tòa án để xét xử vụ kiện đã tạo ra một
ấn tượng không thuận lợi về phía Thánh Bộ Rôma. Cha Laureri được
mời nói cho Bề trên: 1) không viết thêm bất cứ điều gì cho cha Perrot
vì làm vậy ngài tự làm hại mình; 2) không đưa ra bất kỳ trách nhiệm
chỉ thị nào đối với người anh em này cho đến cuối đời; 3) không
phạm sai lầm nữa khi để cho các khiếu nại của hội viên được các tư
vấn Salêdiêng phán xét, Bề trên hãy lấy quyết định và cho phép bất
cứ ai muốn có thể nại đến Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu.482
Cha Rua nhận lời mắng mỏ trong im lặng.
Vì cha Perrot, chắc chắn ngài không có mong ước lặp lại lỗi đã
phạm vào năm 1901 trong vấn đề ‘Giám đốc-cha giải tội’. Dù sao đi
nữa, ngay cả trước khi Rôma có lệnh không giao phó cho ngài bất
kỳ trách nhiệm hướng dẫn nào, cha Rua đã bổ nhiệm ngài làm ‘cha
482 Tất cả theo biên bản phiên họp Tu Nghị Bề trên, 11 tháng Mười, trong đó thư
của Cha Laureri được đem ra nhận xét.

38.4 Page 374

▲torna in alto
374 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
giải tội của các hội viên và hộ trực trong giáo xứ’ tại Bordighera, bắt
ngài đến đó trong vòng hai tuần kế tiếp. Như mọi khi, ngài chống
lại nó. Bài sai đã được cha cố vấn Phanxicô Cerutti ký; cha Perrot vặn
lại chỉ có Bề Trên Cả mới có thể ban hành mệnh lệnh trong toàn bộ
Tu hội. Ngay lập tức, Hội đồng quyết định không trả lời cho đến khi
ngài đến nơi. Sau ba tuần, cha giải tội mới cho Bordighera vẫn không
nhượng bộ. Dứt khoát là ngài sai, và sự ngoan cố của ngài biểu hiện
ngài là kẻ nổi loạn có khả năng phải chịu phạt theo giáo luật. Sự
phán xét của cha Bucceroni làm ngài lo lắng. Trong các cuộc họp từ
ngày 23 đến 25 tháng Mười năm 1905, cha thư ký của Tu Nghị Bề
trên được yêu cầu thông báo cho Thánh Bộ các Giám mục và Dòng
Tu toàn bộ sự vụ và viết thư cho cha Perrot nói rằng ngài phải đến
vị trí công tác trước ngày Lễ Các Thánh. Nếu không thực thi thì từ
ngày 9 tháng Mười Một, nguyên Giám tỉnh miền Nam nước Pháp sẽ
bị treo chén, cha Perrot mạnh mẽ tin rằng ‘danh dự’ của mình đã bị
xúc phạm, nhưng ngài là một linh mục tốt. Ngài trả lời rằng ngài sẽ
tùng phục, nhưng ngài cũng sẽ gửi lời cầu viện thứ ba tới Rôma.
Thực vậy, ngày 31 tháng Mười, ngài trở về Bordighera. Tại đó, ngày
2 tháng Mười Một, ngài viết cho cha Rua, giải thích hoàn cảnh của
mình.
Phần còn lại của những thành tích của cha Perrot không liên quan
đến lịch sử của chúng ta về cha Rua, người đã giữ vững quyết định
cuối cùng của mình. Ngài viết và in một bản tường thuật dài để tự
biện minh, trong đó ngài cho rằng cha Albera và cha Bologna chịu
trách nhiệm về việc sa thải bất thường của ngài vào năm 1904.483
Năm tháng trôi qua. Với việc bầu Phaolô Albera làm Bề Trên Cả vào
năm 1910, ngài mất hết hy vọng được phục chức. Vào năm 1914,
lợi dụng chiến tranh, ngài trở về Pháp, tới nhà La Navarre mà ngài
đã thành lập năm 1878. Ngài là một cha giải tội được quý trọng và
qua đời một cách bình an ngày 24 tháng Hai năm 1928.
483 Bản tường thuật của Cha Perrot: ‘ Nella conferenza di ieri sera...’ được in vào
năm 1906 (trong 12 trang 2 mặt), tên của các kẻ thù ngài bị để khoảng trắng và
sau đó tác giả viết tay điền vào, x. ASC, hồ sơ Peter Perrot.

38.5 Page 375

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 375
Cha Bologna tái thiết lập tỉnh miền Bắc nước Pháp
Bây giờ chúng ta quay sang đồng nghiệp của cha Perrot, Giám
tỉnh miền Bắc nước Pháp, cha Giuse Bologna, người sống qua một
cuộc khủng hoảng tương tự giữa năm 1905 và 1906. Một con người
năng động, luôn sôi sục với các dự án mới, ngài không bao giờ cam
chịu tỉnh Salêdiêng của mình bị biến mất vào tháng Bảy năm 1903.
Ngài có một căn hộ ở Paris ở Rue Montparnasse; với sự đồng ý
của Torino, ngài đã có thể thành lập trung tâm tỉnh dòng trong nhà
Bỉ thuộc Tournai, gần biên giới Pháp.484 Ngài nghĩ rằng tiền từ các
nhà hảo tâm ở Pháp phải được gửi cho ngài và chủ bút tờ Tập san
Salêdiêng ở Torino phải cho độc giả biết điều này. Một cuộc cãi vã
bắt đầu với người chủ bút khi ông không chịu theo lệnh đó. Hơn
nữa, cha Bologna coi người thuộc quyền của riêng mình không chỉ
là các tập sinh và các hội viên phân tán khắp nước Pháp mà còn cả
những người đã trốn sang Ý, Bỉ, Bồ Đào Nha và Anh. Cha Cerruti
Tổng Cố Vấn lo về học vụ, người chịu trách nhiệm tổng thể về nhân
sự, không phản đối những quyết định của ngài trong những năm
học 1903-1904 và 1904-1905 nhưng đã có thái độ cứng rắn vào đầu
năm học 1905-1906. Sự rối loạn bị thể chế hóa này làm ngài rất bực
mình. Ngài cho Hội đồng biết trong các cuộc họp xen kẽ giữa ngày
2 và 11 tháng Mười năm 1905. Do đó biên bản tóm tắt cuộc tranh
luận: ‘Cha Cerruti hỏi cha Giuse Bologna lệ thuộc hay không lệ thuộc
các Bề trên; ngài lưu ý rằng ngài làm tất cả mọi thứ để tách các hội
viên thuộc pháp lý của mình khỏi các Bề trên. Cha Rua muốn một
người trong Hội đồng đi và quan sát chi tiết mọi thứ rồi tường trình
lại trước khi đưa ra bất cứ quyết định dứt khoát nào về cha
Bologna.’485 Không biết đến việc này, Giám tỉnh miền Bắc nước Pháp
có nguy cơ chia sẻ số phận của đồng nghiệp ở phía Nam.
Khi được hỏi về các sự nghiệp gần đây của mình, ngài tự bào chữa
cho mình. Ngài đã thiết lập doanh nghiệp in ở Paris mà không được
phép. Quả đúng vậy! Nhưng đó là để tận dụng máy móc từ nhà
484 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, 10 tháng Mười, 1904, trong FdR 4244B12.
485 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, 2 tháng Mười, 1904, trong FdR 4245C3.

38.6 Page 376

▲torna in alto
376 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Salêdiêng ở Lille đã bị đóng cửa. Lời ngài giải thích đã được ghi
lại.486 Ngày tháng trôi qua, ngài tiếp tục vì ngài nghĩ tốt nhất là cơ
cấu lại tỉnh của mình bắt đầu từ nhà ở Tournai. Ngài cần người. Theo
ngài, 80 hội viên vẫn phụ thuộc vào ngài. Ngài viết thư cho người
Pháp sống lưu vong ở Ý, Bồ Đào Nha và có lẽ ở nơi khác, gọi họ trở
lại để phục vụ trong tỉnh gốc của họ. Ngài xét thấy bắt buộc phải có
một tập viện dưới quyền kiểm soát của ngài, vì ngài rất hối tiếc vào
năm 1903-1904 ngài không được tham khảo về những công việc và
nơi đến của những tập sinh đã được chuyển đến Ý. Sau khi đóng cửa
một tập viện dành cho người Pháp ở Avigliana và sự kết hợp của các
ứng sinh Pháp và Đức tại Lombriasco, vào năm 1905, các thỉnh sinh
của Pháp từ miền Bắc đã được chuyển hướng tới tập viện của tỉnh Bỉ
tại Hechtel. Họ đã hoạt động tốt ở đó nhưng bên ngoài pháp lý của
Giám tỉnh Paris, người cho rằng nhất thiết phải cứu chữa thất bại
này.
Ngày 12 tháng Tư năm 1906, ngài chia sẻ với cha Rua dự án đáng
kinh ngạc mới nhất của mình. Ngài vừa nhóm họp lại Ban cố vấn
Tỉnh của mình nhân một chuyến viếng thăm Tournai. Chỉ có cha
Pourveer, Hiệu trưởng Guernsey vắng mặt. Các cuộc thảo luận liên
quan đến những lợi ích chính của các Tỉnh. Lợi dụng thái độ thiện
chí của một phụ nữ giàu có, các cố vấn có mặt dự tính thuê 600 franc
một năm một bất động sản đẹp gồm một căn nhà rộng rãi và một
khu vườn rộng lớn, nằm ở Froyennes, cách Tournai khoảng 25 phút,
gần biên giới Pháp. ‘Chúng tôi nghĩ đến việc triệu hồi các tập sinh
của chúng tôi và đặt các em ở đó vào năm tới, nghĩa là vào tháng
chín.’ Ngài minh họa lợi thế địa điểm: vườn rau cung cấp sản phẩm
tươi cho tập viện và cho Tournai, khả năng cho nhóm 'Con Đức
Maria' (ơn gọi muộn) ở trọ, một công viên yên bình và râm mát, một
xe điện bên ngoài ngôi nhà chỉ mất mười phút để đến ga địa phương
hoặc hai mươi lăm phút để đến Nguyện xá Thánh Charles ở Tournai.
Người phụ nữ chắc chắn có thiện chí với người Salêdiêng và có thể
mong đợi nhiều hơn nữa. Đồ đạc và trang thiết bị được thu hồi từ
Lille sẽ đủ và sẽ không phải gánh nghĩa vụ tài chính mới nào. Các
486 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, 18 tháng 12, 1905, trong FdR 4245D8.

38.7 Page 377

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 377
khoản phí được trả vào lúc này cho các tập sinh ở Hechtel sẽ giúp
trang trải chi phí tại Froyennes. Có các tập sinh ‘gần bên' dường như
là sự cần thiết không thể phủ nhận đối với cha Giám tỉnh Bologna.
Việc tạo ra trung tâm này sẽ không liên quan đến bất kỳ thủ tục đặc
biệt nào của giáo hội, như tập viện tại Rueil, bị đình chỉ hoạt động
vào năm 1903, đơn giản sẽ được chính thức chuyển giao cho
Froyennes. Ban Cố vấn đó dự kiến mười tập sinh cho 1906-1907.
Cha Henri Crespel sẽ là một giám tập xuất sắc, v.v. Cha Bologna trình
bày và tán dương dự án của mình trong một bản thảo bảy trang!487
Tu Nghị Bề trên đọc bức thư của ngài trong một bầu khí ngờ vực
mà các doanh nghiệp của ông, thường được coi là kỳ dị, đã gợi lên.
Ý ngài muốn tạo ra một tập viện tại Bỉ cho riêng tỉnh của ngài sẽ
khiến ngài suy thoái. Cha Rua tư vấn riêng cha Rinaldi Phó Tổng Bề
trên và cha Albera Giám linh. Sau đó, ngày 22 tháng Năm, Tu Nghị
Bề trên đã tranh luận để đưa ra câu trả lời. Những lợi thế tuyệt vời
của địa điểm như được cha Bologna mô tả không làm họ hứng thú.
‘Đối với đề xuất của cha Bologna muốn mở một tập viện gần Tournai,
cha thư ký sẽ trả lời rằng Tu Nghị Bề trên không thấy thuận tiện; và
rằng ngài tiếp tục gửi tập sinh của mình đến Hechtel nơi các em có
thể được huấn luyện tốt hơn và nơi các tập sinh hiện tại đang hạnh
phúc.’ Bản văn tiếp tục với một cụm từ đe dọa cho vị Giám tỉnh quá
táo bạo: ‘Cha Rua mời gọi Hội đồng cầu nguyện và xem liệu đây có
phải là tình huống triệu hồi cha Bologna về Ý hay không.’488
Sự cách chức đau đớn của cha Bologna
Vị linh mục liên hệ không hề mường tượng tới cơn bão do đề nghị
cuối cùng của ngài đã gây ra. Năm ngày sau cuộc họp Torino, từ căn
hộ của mình ở Paris, ngài viết thư cho cha Rua. Sau khi xử lý các vấn
đề pháp lý và tài chính gặp phải tại Lille và Dinan, và sau khi thông
báo rằng ở Paris họ đang đề nghị thành lập một Nguyện xá với điều
kiện duy nhất là có một linh mục phù hợp, ngài lưu ý điểm thứ năm
487 Thư của G. Bologna gửi M. Rua, Tournai, 12 tháng Tư, 1906, trong
FdRn3636E9-3637A3; được hiệu đính trong ‘Les crises...’, 45-47.
488 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 22 tháng Năm, 1906, trong FdR
2947A3-4.

38.8 Page 378

▲torna in alto
378 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
trong lá thư rằng cạnh tranh quyền lợi của Hội Dòng Oblates of the
Assumption có nghĩa là ngài buộc phải ký hợp đồng với bất động
sản tại Froyennes.489
Lúc đó lá thư của cha thư ký đến nhưng không thuyết phục được
ngài rút lại. Ngài tin rằng Tu Nghị Bề trên không được cập nhật đầy
đủ về tình hình của tỉnh miền Bắc nước Pháp. Để giải thích, ngày 1
tháng Sáu năm 1906, ngài đã gửi một bản ghi nhớ gồm ba trang
dài, được chia thành hai mươi mốt điểm và được đặt tên là ‘Tỉnh
Dòng của Thánh Denis, miền Bắc nước Pháp. Tập viện’. Đó là kết quả
của việc ngài suy nghĩ rằng tuyệt đối cần phải có một tập viện trong
tỉnh của ngài. Ngài viết rằng, đầu tiên và quan trọng nhất, tỉnh Dòng
tiếp tục tồn tại ‘trong mắt của Giáo hội và Tu hội'. Thứ hai, nó có
một tập viện được giáo luật thiết lập theo sắc lệnh ngày 20 tháng
Giêng năm 1902 và được thành lập tại Rueil, trong giáo phận
Versailles. Nó đã được chuyển đến Avigliana ở Ý nhưng đã bị đóng
cửa mà không đưa ra bất kỳ lời giải thích nào. Phải tìm một sự thay
thế. Tự tin vào vị trí của mình, ngài đã kết thúc bản ghi nhớ với một
đề xuất thiếu suy nghĩ: ‘điểm 21 - Những lý do đưa ra trong thư của
Thư ký thuộc Tu Nghị Bề trên dẫn đến việc từ chối cho phép là vô
căn cứ và chỉ chứng tỏ rằng Hội đồng không được cung cấp đủ thông
tin để đưa ra phán quyết là phù hợp hay không, với kiến thức của họ
về việc này.’490 Phản ứng có vẻ không khéo léo này là một động thái
sai lầm của cha Bologna.
Tu Nghị Bề trên đã không gạt bỏ những phản đối của ngài mà
không suy xét chúng. Ngày 12 tháng Sáu, Hội đồng hoãn bất kỳ
cuộc thảo luận thấu đáo nào về sự quản trị Salêdiêng ở Pháp tới cuộc
họp sau đó.491 Nhưng mọi việc đã ngã ngũ. Quyết định được thông
qua ngày 19 tháng Sáu trong một phiên họp dành riêng cho trường
hợp Bologna. Sau đây là biên bản của cuộc họp quyết định đó.
489 Thư của G. Bologna gửi M. Rua, Paris, ngày 27 tháng Năm, 1906, trong FdR
3637A4-7; được hiệu đính trong ‘Les crises...’ 47-48
490 Bản ghi nhớ này, ngày 1 tháng Sáu, 1906 được tìm thấy trong in FdR 3640A7-
9; được hiệu đính trong ‘Les crises...’, 48-50.
491 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 12 tháng Sáu, 1906, trong FdR 3947A8.

38.9 Page 379

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 379
Cha Rua và cha Albera chia sẻ rằng cha Bologna viết thư cho các
hội viên người Pháp ở Bồ Đào Nha, Ý và những nơi khác, mời họ trở
về Pháp và nói với họ về những công trình mới mà ngài muốn mở.
Người ta nhắc đến bản ghi nhớ được cha Bologna và Ban Cố vấn
ngài viết; nó thiếu tôn trọng Tu Nghị Bề trên. Tu Nghị Bề Trên quyết
định:
1. Nhà ở Tournai, thuộc tỉnh dòng Bỉ và tạm thời giao cho cha
Bologna, một lần nữa được trả lại cho Bỉ.
2. Cha Phaolô Virion, cho đến nay chỉ là linh mục phụ trách tỉnh,
được bổ nhiệm làm Giám tỉnh miền Nam nước Pháp: đề nghị
được thực hiện bằng việc bỏ phiếu bí mật với kết quả sáu
phiếu thuận.
3. Với sáu phiếu thuận, cha Phaolô Virion, Giám Tỉnh miền Nam
nước Pháp, tạm thời chịu trách nhiệm tỉnh phía Bắc.
Với kết quả trên, ghi nhận thêm rằng cha Rua sẽ mời cha
Bologna về Torino, thông tin theo bất cứ cách nào mà ngài
nghĩ phù hợp với quyết định đã được thực hiện, và giao cho
cha Bologna chức vụ mà ngài cho là tốt nhất. Không ai trong
các Bề trên được thảo luận với ngài về những lý do mà ngài
bị cách chức Giám tỉnh, chỉ đơn thuần nói rằng một quyết
định như vậy được cho là tốt nhất cho Tu hội. Điều này sẽ
tránh được nhiều trở ngại.492
Do đó, cha Giuse Bologna bị sa thải khỏi chức vụ và được cha
Phaolô Virion thay thế. Kết luận của biên bản có thể gây ngạc nhiên,
nhưng có một lý do. Cách cư xử đáng bị chỉ trích của cha Bologna đã
gây ra những biện pháp này, như có thể suy ra từ những dòng đầu
tiên của biên bản. Nhưng các thành viên của Hội đồng không thể
tiết lộ cho bất cứ ai, ít nhất là đối với người có liên quan. Do đó,
động cơ của việc xét xử vẫn bí mật. Rõ ràng Torino lo sợ một cuộc
tranh luận phức tạp, không chỉ với chính Giám tỉnh bị sa thải, mà còn
với Ban cố vấn của ngài, các hội viên và bạn bè của ngài ở Pháp. Có
492 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 19 tháng Sáu, 1906, trong FdR 3947A9-
10.

38.10 Page 380

▲torna in alto
380 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
một khía cạnh đảo ngược và bất lợi của vấn đề này. Mặc dù sự im
lặng thuận tiện cho các bề trên, nhưng nó khiến cha Bologna tức
điên lên, ngài buộc phải phục tùng điều mà đối với ngài rõ ràng là
một sự trừng phạt, mà không thể giải thích cho chính mình hoặc cho
người khác về những lý do đằng sau nó. Ngài lên tiếng về chuyện
này sau ba tháng.
Sau khi được cha Rua triệu hồi về Torino để được thông báo về
các quyết định, cha Bologna ở lại đó khoảng mười ngày vào tháng
Bảy. Vào ngày 13, Tu Nghị Bề trên giao nhiệm vụ cho vị cố vấn lo
về học vụ, cha Cerruti, và cha Rocca, Quản lý, giải thích cho ngài
rằng nhà ở Tournai, nơi ngài đã thiết lập trung tâm tỉnh của ngài, sẽ
được hoàn trả lại Tỉnh Dòng Bỉ. Hơn nữa, các anh em gốc Pháp, đang
phân tán ở các tỉnh khác, về pháp lý không còn thuộc về ngài nữa.
Các bề trên không nghĩ đình chỉ hoạt động của tỉnh miền Bắc nước
Pháp là thích hợp, nhưng vì trong hoàn cảnh hiện tại, hai Giám tỉnh
không còn cần thiết cho đất nước này, Giám tỉnh ở miền Nam sẽ chịu
trách nhiệm miền Bắc.493 Bốn ngày sau, cha Cerruti báo cáo với Hội
đồng về cuộc trò chuyện ngài với cha Bologna: ngài hiểu rằng cha
Bologna phục tùng và miễn cưỡng đồng ý rút khỏi tỉnh miền Bắc
nước Pháp. Cha Rua có trong tay một số ghi chú được cha Bologna
vạch ra sau cuộc nói chuyện với cha Cerruti, không quá lạc quan. Tuy
nhiên, ngài hy vọng thuyết phục được vị Giám tỉnh bị sa thải. Cha
Rua thấy dường như thay vì bổ nhiệm như một Giám tỉnh ở Ý, ngài
sẵn sàng chấp nhận một vị trí trong Nguyện xá ở Valdocco.494
Cha Bologna khẳng định rằng ngài đã bị cách chức mà không có
lý do rõ ràng và viết một lời kháng nghị chống việc bị cách chức.
Ngài yêu cầu một quy trình chính thức đúng với thứ mà Tu Nghị Bề
trên tìm cách tránh. Trong trường hợp này, Hội đồng muốn thể hiện
sự dứt khoát của mình. Biên bản ngày 27 tháng Bảy thông báo: ‘Cha
Rua sẽ viết cho cha Giuse Bologna biết rằng Tu Nghị Bề trên đã suy
xét những gì ngài viết; tuy nhiên họ đã nhất trí quyết định rằng sau
khi bàn giao cho cha Virion bất cứ điều gì ngài phải làm, cha Bologna
493 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 13 tháng Bảy, 1906, trong FdR 3947B4.
494 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 17 tháng Bảy, 1906, trong FdR 3947B4.

39 Pages 381-390

▲torna in alto

39.1 Page 381

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 381
đến Torino nơi ngài được trông đợi vào tháng mười.495
Cuối tháng Bảy, cha Bologna trở về Paris, thất vọng và giận dữ.
Các thành viên của Tu Nghị Bề trên đã tôn trọng sự dè dặt vốn đã
được ra chỉ thị nhưng sự thân mật trong các cuộc chuyện trò đã bị
ảnh hưởng. Vị Giám tỉnh thất vọng không còn tìm thấy sự ấm áp của
bầu khí Salêdiêng mà ngài luôn trải nghiệm được ở Torino. Những
người đã thường xuyên trấn an, an ủi và xoa dịu ngài giờ đây làm
ngài đau khổ. Ngày 29 tháng Bảy, ngài viết một bức thư dài 15 trang
bằng tiếng Pháp cho cha Albera:
Hội đồng dường như không dự đoán trước những hậu quả to
lớn dính líu đến việc chuyển giao tôi tại thời điểm này. Tại
Torino, tôi cảm thấy rằng bây giờ tôi đã trở thành một kẻ xa lạ.
Trong mười ngày đến với một hoặc hai thành viên của Hội
đồng, tôi không nghe ai nói được một lời thân ái nào. Không
ai công khai tiết lộ cho tôi biết họ đang nghĩ gì. Vậy tôi đã làm
gì? Tôi không xin ân huệ, chỉ là việc tuân thủ chính xác những
gì mà Quy luật, các Quy định và Quy tắc xác định và quy định.
Tôi có nhiều thứ khẩn cấp phải làm và tôi không biết cách biện
hộ sự trì hoãn mà sẽ gây bất lợi cho nhiều người. Nếu tôi vẫn
được phép thực hiện một yêu cầu, với cả tấm lòng tôi xin được
ban cho tâm trí bình an bằng cách cứ để mọi thứ như hiện tại
ít nhất cho đến khi hết nhiệm kỳ sáu năm của tôi.
Vậy là ngài nghĩ rằng ngài đã được xác nhận lại trong sáu năm
vào năm 1904, năm mà nhiệm kỳ sáu năm đầu tiên của ngài hết
hạn.
Ngài bị cáo buộc điều gì? Liệu ngài, người đã làm mọi thứ trong
khả năng của mình cho Tu hội, đã trở nên không xứng đáng? Ngài
có thể nói gì với các anh em? Liệu họ có thể không làm nhục ngài
như cha Perrot, người nổi loạn của Bordighera sao?
Dù không có cớ nào, tôi có phải để cho tất cả các anh em Pháp
của chúng tôi tin rằng tôi bị coi là không xứng đáng, như một
cách biểu hiện của cha Rua đã gần như khiến tôi hiểu như vậy
495 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 27 tháng Bảy, 1906, trong FdR 3947B6.

39.2 Page 382

▲torna in alto
382 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hay không? Abbiamo già smosso quell D. Perrot [Chúng ta đã thay
đổi cha Perrot] - Tôi không muốn bị so sánh với ngài và tôi
không thể để mình có ý nghĩ rằng tôi đang bị trừng phạt vì
lương tâm của tôi đã không làm cho bản thân mình ra bất xứng;
còn nếu người ta tin điều ngược lại, thì tôi yêu cầu được thuyết
phục bởi một vụ kiện tụng. Phải có cảnh báo sơ bộ; tôi chưa
bao giờ nhận được bất kỳ cảnh báo nào và tôi không tin rằng
tôi đáng bị. Ý định vững chắc của tôi là không bao giờ làm
gương xấu cho bất cứ ai. Đó là lý do tại sao tôi giữ cho bản
thân mình tất cả mọi thứ mà tôi viết và tôi không nói với bất
cứ ai về những gì tôi cảm thấy bắt buộc phải viết.
Sớm hay muộn ngài sẽ phải biện hộ cho bản thân ít nhất là với
Ban Cố Vấn ngài, mà như lời ngài nói trong một thư gửi đi, sẽ họp
vào ngày 27 tháng Bảy ‘để dàn xếp các vấn đề trong tầm tay.’ Trong
thời gian này ít ra ngài sẽ không nói gì cả. Ngài sẽ cố gắng hạn chế
tham dự các sự kiện: ‘Nghĩ đến tình hình trước mắt được tạo ra cho
người Salêdiêng trong vòng mười hay mười lăm năm, tôi nghĩ rằng
lịch sử sẽ có nhiều việc phải làm để hợp pháp hóa sự can thiệp hiện
tại của Tu Nghị Bề trên trong các vấn đề liên quan đến các tỉnh của
Pháp. Các tỉnh phải được để lại chút quyền tự chủ mà chúng có theo
Quy luật.’
Khi ngài đề cập đến ‘vụ kiện tụng’, Torino tưởng tượng rằng ngài
sẽ trình bày khiếu nại của mình với Rôma. Nhưng Bologna không
phải là Perrot. Ngài không muốn gây đau đớn cho bất cứ ai. Ngài
gây nhiều sự chú ý nhưng ngài thực sự là một người rất tốt và làm
mọi thứ rõ ràng trong bức thư gửi cho Cha Albera:
Nếu tôi yêu cầu ‘vụ kiện tụng’ để cho tôi biết những lý do
dẫn đến việc cách chức tôi tamquam indignus, tôi ngụ ý nội bộ
trong Tu hội và tôi chưa bao giờ đề cập đến Rôma. Tôi đã nói
với cha rằng tôi mong ước không mang lại rắc rối cho bất cứ
ai; nhưng tôi cũng có quyền tự bảo vệ bởi vì, theo tôi, sự thay
đổi dành cho tôi không có lý do đầy đủ; đối với tôi, tất cả
mang dáng dấp của một hình phạt; tôi không thể chấp nhận

39.3 Page 383

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 383
nó mà không có xét xử.496
Ngài rất khó chấp nhận việc Tournai, trung tâm tỉnh nơi ngài đã
ban hành chỉ thị của mình cho các hội viên Pháp bị phân tán ở khắp
nơi, phải bị trả một cách đột ngột cho Tỉnh Dòng Bỉ. Theo ngài, để
duy trì các nhà của mình, ngài cần cung cấp các hội viên mà được
người ta hỏi xin ngài. Ngày 1 tháng Tám, ngài viết cho cha Barberis:
‘Tôi cầu xin cha, tôi van cha gửi lại cho chúng tôi những người vẫn
còn ở Ivrea. Năm ngoái tôi đã hỏi cha về Moitel; cha đã không để
cho cậu ấy đến với tôi, và sau đó cha gửi cậu ấy tới miền Nam.’497
Ngày 6 tháng Tám năm 1906, cha Bologna đã gửi thư phản đối
có lý lẽ nhất của mình cho Bề Trên Cả. Trong đó có chỗ cha Rua đọc
thấy: ‘Vì nhà của Tournai là nhà của tỉnh và các điều kiện hiện tại
giống như ở thời điểm được giao cho Tỉnh, nó không thể bị lấy đi
mà không cần thời gian cần thiết để kháng cáo, nghĩa là, ít nhất ba
năm sau khi diffida (thông báo dự định).’ Vì việc chuyển nhà tới Tỉnh
Dòng Bỉ có nghĩa là, cho nhân sự của ngài, một sự thay đổi đất nước,
họ sẽ có quyền được tư vấn. Cha Bologna viết tiếp, nếu ngài đã vượt
qua yêu cầu này, chính ngài sẽ giữ giám đốc Patarelli và bốn linh
mục Pháp khác. Hơn nữa, sợ rằng sẽ không kiểm soát được nhân sự,
ngài tuyên bố ‘Hãy để mỗi người nhận ra trách nhiệm của mình.’
Vào thời điểm đó, như ngài thâm tín rằng mưu mẹo nhằm làm
biến mất công cuộc Salêdiêng ở Pháp, chắc chắn ngài không muốn
bất kỳ một Virion nào giám sát ngài trước khi kết thúc nhiệm kỳ của
mình mà ngài tin rằng phải được kéo dài cho đến năm 1910. Don
Bosco sẽ nghĩ gì về việc phá đổ một công cuộc như vậy? ‘Chẳng ích
lợi gì khi gửi cho tôi cha Virion hoặc bất kỳ ai khác trước khi tôi mãn
nhiệm. Tôi phải coi mình là tội phạm nếu tôi không dồn hết sức ngăn
chặn sự phá hủy công trình của Don Bosco ở Pháp. Tôi vẫn có thể
nghe người cha tốt của chúng ta, tại Marseilles, kêu lên, ‘Che è difficile
infrancescare una Congregazione.! [Thật khó để ‘Pháp hóa’ một Tu hội!]
496 Thư của G. Bologna gửi P. Albera, Paris, ngày 29 tháng Bảy, 1906, trong FdR
3640B7-C3, được hiệu đính trong ‘Les crises...’, 50-51.
497 Thư của G. Bologna gửi G. Barberis, s. L., ngày 1 tháng Tám, 1906, trong FdR
3640A11-12; được hiệu đính trong ‘Les crises...’, 52.

39.4 Page 384

▲torna in alto
384 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Don Bosco yêu nước Pháp và Pháp đã phục vụ Tu hội của ngài. Don
Bosco gieo hạt giống và chúng tôi đã tưới cánh đồng này được 29
năm.’ Cách mạng thu hút ngài, vì việc tách khỏi trung tâm là điều
dự đoán được sau luật năm 1901 về việc tục hóa người Salêdiêng ở
Pháp. Ngài viết cho cha Rua: ‘Tôi có một cơn cám dỗ khủng khiếp,
là dùng những lá thư proscioglimento của cha [litt. giải thoát - hiểu -
khỏi lời khấn] và các bức thư tục hóa từ Rôma, để chăm sóc, trên
danh nghĩa của chúng ta, những công cuộc vẫn còn ở Pháp và chúng
ta phải trả giá rất đắt để thành lập chúng.’ Nhưng vào thời điểm
này, tinh thần của người tu sĩ trung thành, nổi lên trên hết. ‘Dẫu vậy,
tôi hy vọng rằng tôi sẽ không bị đẩy đến mức cùng cực này. Nếu tôi
phải chăm chú lắng nghe các thủ tục được sử dụng để đưa tôi đến
lúc này với sự ghê tởm và phẫn nộ, mà không có một chút rõ ràng
hay cởi mở, tôi sợ rằng tôi phạm phải điều ngu xuẩn nào đó.’ Ngài
kết thư với lời cầu nguyện này: ‘Xin Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và
Don Bosco đến trợ giúp con. J. Bologna’498
Sự cay đắng của ngài không giảm bớt trong các tuần vào tháng
Bảy– tháng Tám năm 1906. Ngài viện đến các quy tắc giáo luật để
giải thích về việc sa thải ngài và sửa đổi các tỉnh dòng. Đối với ngài
dường như có một kiểu âm mưu chống lại các công cuộc Salêdiêng
ở Pháp. Ngài viết cho cha Rua vào ngày 17 tháng Tám: ‘Mục đích
dường như họ muốn theo đuổi là phá hủy công cuộc của người
Salêdiêng tại Pháp. Cha hãy nhớ điều này. Chúng tôi được đón nhận
tại Avigliana, sau đó tại Lombriasco nhưng chỉ có quyền lực của Giám
tỉnh được lén lút gán cho ngài, họ đã lấy đi nhân sự của ngài mà đến
thời điểm đó phụ thuộc vào ngài. Cha Albera đã thực thi quyền lực
và tỉnh bị rã tan, và cú đánh mà họ vẫn muốn giáng xuống sẽ kết
thúc bằng cách tiêu diệt nó hoàn toàn. Thật hết sức xấu hổ.’ Ngài
lên án Tu Nghị Bề trên là ngoan cố. Ngài hỏi: ‘Tất cả sự phản đối
được nêu ra trong Tu Nghị Bề trên xuất phát từ đâu?’ Và ngài trả lời:
‘Từ thực tế là tôi đã nhất mực bảo vệ lợi ích của công cuộc ở Pháp,
không từ đâu khác.’ Lá thư gồm mười ba đoạn của ngài gửi cho Bề
498 Thư của G. Bologna gửi M. Rua, Tournai, ngày 6 tháng Tám, 1906, trong FdR
3647B5-9.

39.5 Page 385

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 385
Trên Cả ngày 17 tháng Tám cũng kịch liệt ngang nhau. Ngài kết thư
rất cộc lốc: ‘Tôi dám hy vọng rằng họ sẽ tìm thấy một sự biện hộ vào
việc tôi cầu viện để bảo vệ các quy tắc của Giáo hội xét thấy rằng
dường như họ đã đối xử với tôi như thể tôi đã khiến bản thân không
xứng đáng với Tu hội, một điều mà tôi hoàn toàn không tin. J.
Bologna.’499
Torino đọc và hiểu rõ ngài buộc tội lại. Cha Rua và cha Albera,
những người chất vấn chính, vốn yêu mến cộng tác viên dũng cảm
này, đau khổ khi thấy ngài đau khổ. Những con người hành động
này đã không giữ một cuốn nhật ký để nếu cần, có thể tiết lộ nỗi
đau của họ. Nhưng, liên quan đến trật tự tốt đẹp chung, Tu Nghị Bề
trên đã giữ nhiệm vụ của mình là làm theo đúng quy tắc tình hình ở
miền Bắc nước Pháp. Vấn đề Tournai phải được giải quyết trước khi
khai giảng năm học. Ở Bỉ, cha Giám tỉnh Phanxicô Scaloni (1861-
1926) muốn biết ngài phải làm thế nào để kiềm chế cảm xúc. Ngày
11 tháng Chín, Hội đồng quyết định rằng nhà Tournai vốn chỉ nhất
thời và vì những lý do cụ thể đã bị tách ra khỏi tỉnh Bỉ, phải được
khôi phục không trễ hơn ngày 1 tháng Mười. ‘Để bảo đảm mọi thứ
được thực hiện theo cách tốt nhất có thể, cha Albera sẽ đến đó và
cũng sẽ làm cho cha Bologna hiểu rằng các Bề trên giữ vững quyết
định mà họ đã thực hiện.’500 Trên thực tế, vị Tổng Giám linh đã đến
Paris vào những ngày tiếp theo. Cha Bologna sẽ nói rằng cha Albera
không truyền đạt gì mới; nhưng từ Liège, một nơi trong chuyến hành
trình của mình, trong một bức thư viết tay, cha Albera cho ngài biết
rõ ràng, vì Tu Nghị Bề trên đã bắt ngài gánh vác nhiệm vụ này, rằng
thư kháng nghị phản đối việc sa thải chức Giám tỉnh của ngài không
thuyết phục được ai.
Ngày 24 tháng Chín, cuối cùng sự tùng phục đã chiến thắng trong
lòng của vị nguyên Giám tỉnh. Với nỗi buồn vô hạn Giuse Bologna
‘khiêm nhường và khốn khổ’ đã bày tỏ sự phục tùng hoàn toàn Bề
499 Thư của G. Bologna gửi M. Rua, Paris, ngày 17 tháng Tám, 1906, trong FdR
3637C1-4; được hiệu đính trong ‘Les crises...’ 53-54.
500 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 11 tháng Chin, 1906, trong FdR
4246C2.

39.6 Page 386

▲torna in alto
386 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
trên Tổng quyền. Ngài không thể tin rằng phương sách sa thải đã
xuất phát từ ngài, thực vậy, ngài viết, ‘mọi thứ tôi đã làm đã được
thực hiện theo mệnh lệnh của ngài.’ Dù bất kể có thể là gì, nếu đó
là ý muốn của ngài, vì từ ngày 1 tháng Mười ngài sẽ xử sự giống như
một người anh em bình thường, không có thẩm quyền nào ở tỉnh
miền Bắc nước Pháp. Tuy nhiên, cho đến tận cuối năm ngài sẽ phải
sắp đặt công việc của mình trong trật tự như ngài nghĩ là tốt nhất.501
Và Torino cảm nhận được trong lòng ngài sôi sục thế nào. Ngày 24
tháng Mười, cha Rua phàn nàn trong Hội đồng rằng ở Paris cha
Bologna muốn bán hết mọi thứ quá vội vàng. Ngài hứa sẽ viết thư
cho cha Bologna là cứ để mọi thứ y như cũ cho người kế nhiệm, cả
‘động sản lẫn bất động sản.’ Vì vậy biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề
trên báo cho ngài: ‘ngài hành động như thường lệ khi một bề trên
được chuyển giao’.502 Họ lo ngại sự hiện diện của mỗi người
Salêdiêng ở Paris sẽ biến mất hoàn toàn. Một ghi chú kỳ lạ của Tu
Nghị Bề trên được viết ngày 5 tháng Mười Một năm 1906 làm chứng
cho điều này. Nó thuật lại người Salêdiêng Noguier de Malijay,
người đã mở một lưu xá sinh viên. ‘Hãy để cha Virion trông chừng
nó.’503 Câu cuối cùng này chỉ cho thấy vào thời điểm đó ở Paris, sự
thay đổi của các bề trên đã diễn ra có hiệu lực. Giám tỉnh miền Nam
trở thành 'nhiếp chính' của tỉnh phía Bắc.
Rất chịu đựng, cha Bologna trình diện tại Torino ngày 1 tháng
Giêng năm 1907. Một căn phòng gần nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu được dành cho ngài.504 Ngày 4 tháng Giêng, ngài dâng
Thánh Lễ như thường lệ. Sau một chuyến đi ngắn vào thành phố,
mọi người thấy ngài trở về khoảng mười giờ rưỡi. Lúc mười một giờ,
người ta tìm thấy ngài nằm ngã sóng sượt ở chân bàn làm việc của
501 Theo thư của G. Bologna gửi M. Rua, ngày 24 tháng Chin, 1906, trong FdR
3637C5-10; được hiệu đính trong ‘Les crises...’, 55-56.
502 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 24 tháng Mười, 1906, trong FdR
4246D10.
503 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 5 tháng Mười Một, 1906, trong FdR
4246D12.
504 Ở đây tôi theo ghi chú giấu tên ‘Don Joseph Bologne’ trong Bulletin salésien,
tháng 2, 1907, 40-42.

39.7 Page 387

▲torna in alto
Cuộc Khủng Hoảng của Các Giám Tỉnh | 387
ngài, ngài đã chết, mọi người nghĩ ngài bị ngã gục do một cơn đột
quỵ nặng. Ngài chưa được sáu mươi tuổi. Chủ bút tờ Tập san
Salêdiêng thông báo với chúng tôi rằng: ‘Cha Rua và các bề trên chính
của Tu hội chúng ta không thể không khóc trước xác chết của người
mà họ đã được biết và yêu thương hơn bốn mươi năm.’
Ý kiến chung bày tỏ trong tờ Tập san Salêdiêng, quy cái chết yểu
của con người dũng cảm này cho những bất hạnh của ngài vào năm
1903: cuộc bỏ phiếu thù địch của Thượng viện Pháp, việc đóng cửa
các nhà ở phía Bắc, sự phân tán người Salêdiêng và việc tịch thu bất
động sản của họ. ‘Với nỗi đau tột cùng ngài nhìn những nhà dành
cho việc lao động và cầu nguyện bị bán đấu giá, nhà mà mỗi viên
đá kể một câu chuyện cho ngài. Phải nói thêm rằng những cảm xúc
mạnh mẽ như vậy và những cú sốc như vậy chắc chắn đã làm suy
yếu toàn bộ con người ngài và nguyên nhân thực sự và đích thực về
cái chết của ngài phải được tìm thấy trong nỗi thống khổ này vốn
lặng lẽ đe dọa sự sống của ngài.’
Cha Rua, cha Albera, cha Rinaldi, cha Cerruti, cha Rocca, cha
Gusmano, các thành viên của Tu Nghị Bề trên đã đọc hoặc nghe tiếng
kêu đau khổ của cha Bologna, không thể chia sẻ điều này qua lời giải
thích đơn giản. Họ biết rằng sự giáng chức của ngài và những gì ngài
(sai lầm) coi là có ý định phá hủy một cách có hệ thống Tỉnh Dòng
của ngài mà chính xác đối với những người lẽ ra phải ủng hộ nó, đã
làm lòng ngài tràn ngập cay đắng và phá hủy ‘sự bình an trong tâm
hồn’. Đến Valdocco vào đầu năm 1907 này chắc chắn không mang
lại cho ngài bất kỳ sự thanh thản nào. Những thử thách vào năm
1903 đã không thành công trong việc làm ngài suy nhược, thay vào
đó chính cuộc khủng hoảng năm 1906 đã gây ra cái chết của ngài.
Sự cai quản của Cha Rua
Bài tường thuật về những mối bất hạnh của Giám tỉnh Phêrô Perrot
và Giuse Bologna trong thời gian cha Rua là Bề Trên Cả cung cấp cho
chúng ta một số hiểu biết về phong thái cai quản của ngài.
Ngài quản trị một cách tập thể. Thay vì chuyên quyền độc đoán,
ngài giao phó bản thân cho Tu Nghị Bề trên. Các cộng tác viên của

39.8 Page 388

▲torna in alto
388 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ngài là các cố vấn thực sự và không bao giờ cảm thấy bị buộc phải
nghe lời ngài. Vài lần, ngài thấy mình phải cúi đầu trước ý kiến của
đa số ngay cả khi trái ngược với ý của riêng mình, như trong trường
hợp của cha Perrot mà ngài đã cố gắng bảo vệ. Cũng hợp pháp khi
nghĩ rằng ngài đã miễn cưỡng chịu im lặng về những động cơ thực
sự đằng sau sự sa thải cha Bologna vốn là cơ sở của những đau khổ
mà linh hồn không may đó chịu đựng, bị truất phế mà không được
cho biết lý do. Cách quản trị này hoàn toàn phù hợp với tư tưởng
của Don Bosco về Tu Nghị Bề trên trong Tu hội của ngài.
Cách cai quản của cha Rua nhắm vào lợi ích chung, vượt khỏi
những lợi ích cá biệt. Vụ việc của cha Bologna cho chúng ta thấy, bất
chấp những đau khổ mà các điều khoản của ngài có thể gây ra cho
những người ngài thương mến, ngài quan tâm trên hết đến lợi ích
chung. Cựu học sinh ấy của các Sư huynh La Salle không thích mất
trật tự. Và các sự kiện trong tương lai sẽ chứng minh ngài đúng. Công
cuộc Salêdiêng ở Pháp không bị ảnh hưởng bởi các quyết định của
ngài về cha Perrot và cha Bologna. Phaolô Virion khôn ngoan, được
bổ nhiệm thay cho các ngài - người đương nhiệm ở cả miền Bắc và
miền Nam cho đến năm 1919 – được chuẩn bị trong sự bình tĩnh
(và đau khổ) sự hồi sinh sau Thế Chiến thứ nhất. Từ năm 1925, công
cuộc do Don Bosco thành lập ở Pháp năm 1875 sẽ chứng kiến nửa
thế kỷ phục sinh thực sự ở miền Bắc.
Trong lịch sử của hai Giám tỉnh bất hạnh, cách cai quản của cha
Rua đồng thời bộc lộ sự vững chắc, linh hoạt, đau khổ dài lâu, khôn
ngoan và khai sáng. Ngài không bao giờ lùi bước. Không bao giờ do
dự. Ngài tiến lên sau khi cầu nguyện và suy xét thấu đáo. Hơn nữa,
hoàn toàn khả thi khi Tổng Giám linh, Phaolô Albera, người biết rõ
tình hình các tỉnh Pháp, đã từng là Giám tỉnh ở đó từ năm 1881-
1892, ủng hộ và khuyên ngài. Sự kiên quyết của ngài không phải là
vô nhân đạo. Cha Perrot và cha Bologna không có ấn tượng bị ngài
ngược đãi. Cha Bologna đổ lỗi cho Hội đồng, không bao giờ cho Bề
Trên Cả. Bất quá là vào tháng Bảy năm 1906, ngài buồn vì không
tìm lại được thái độ nhân hậu ở cha Rua. Nhưng lúc đó Bề Trên Cả
đang theo chính sách do Hội đồng của ngài ra lệnh.

39.9 Page 389

▲torna in alto
27
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 389
Các Tổng Tu Nghị
Năm 1901 & Năm 1904
Tổng Tu Nghị Thứ Chín (1901)
Công việc tồi tệ ở Pháp xảy ra đồng thời với hai Tổng Tu Nghị
quan trọng nhất dưới thời cha Rua làm Bề trên Cả, cả hai đều được
tổ chức tại Torino-Valsalice. Chúng đóng một vai trò quyết định trong
sự phát triển Tu hội Salêdiêng, đặc biệt là Tổng Tu Nghị thứ hai. Đến
thời điểm này, ta phải để ý rằng Tu hội tăng trưởng cực mạnh. Vào
năm 1888, có 773 thành viên khấn và 276 tập sinh trải rộng ở 64
trung tâm. Năm 1901 có 2916 người khấn với 742 tập sinh và 265
nhà. Đến năm 1904, số người khấn lên tới 3223 và những tập sinh
là 764 ở 315 trung tâm.505 Những con số như vậy đòi hỏi cấu trúc
và hệ thống huấn luyện mới. Cha Rua nhận thức rõ điều này.
Tổng Tu Nghị Thứ Chín được tổ chức từ ngày 1-5 tháng Chín năm
1901.506 154 hội viên tham dự. Vì một ai đó đã đặt câu hỏi về tính
hợp lệ của Công báo do các Tổng Tu Nghị trước soạn ra, thêm vào
đó một số quyết định của Tổng Tu Nghị này đã được dành cho Tòa
Thánh cứu xét, cha Rua phải chờ cho đến ngày 19 tháng Ba sau để
trả lời cho các hội viên cách thỏa đáng.507 Trong bản tường thuật của
chúng tôi, chúng tôi sẽ ghi nhớ thư luân lưu ngày 19 tháng Ba năm
1902.
Tại hội nghị sơ bộ vào tối ngày 1 tháng Chín, cha Rua đã trình
505 Phải nhớ rằng Dòng Con Đức Maria Phù hộ các Giáo hữu vốn vẫn là phần không
thể thiếu của Hội Salêdiêng, vào năm 1904 gồm 2143 người khấn và 358 tập sinh
ở 248 nhà.
506 Biên bản trong FdR 4036C11-4041D10; bản tường thuật trong Annali III, 144-169.
507 L.C., 269-285.

39.10 Page 390

▲torna in alto
390 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
bày sắc lệnh liên quan đến tác vụ giải tội, đã được giải quyết ở trên
(xem Chương 24). Bằng hành động này, ngài hoàn toàn phục tùng
các quyết định của Văn phòng Tòa Thánh. Ngày 2 tháng Mười Hai,
câu hỏi đã được nêu lên về sự phù hợp của việc thiết lập các Tu Nghị
Tỉnh và thành phần Tổng Tu Nghị của Tu hội. Đây là một trong
những vấn đề tạm thời bị treo. Cho đến thời điểm đó, các Tổng Tu
Nghị được tổ chức ba năm một lần và gồm các thành viên của Tu
Nghị Bề trên, các Giám tỉnh và tất cả các giám đốc của cộng đoàn.
Tổng Tu Nghị đề xuất rằng trong tương lai, các Tổng Tu Nghị nên
được tổ chức sáu năm một lần với sự tham gia của các thành viên của
Tu Nghị Bề trên, Tổng Đại diện của Tu hội, các Giám tỉnh và một
hoặc nhiều nhất, hai đại biểu được các Tu Nghị Tỉnh bầu. Vào cuối
năm 1901, cha Rua tiếp cận Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu về
điểm này và đã thành công. Ngày 12 tháng Hai năm 1902, cha Tổng
Đại diện Marenco đã có thể giải thích cho Tu Nghị Bề trên rằng
Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu đã chấp nhận đề nghị Tổng Tu
Nghị diễn ra sáu năm một lần và Tu Nghị Tỉnh diễn ra ba năm một
lần ở mỗi tỉnh.508 Do đó, thư luân lưu ngày 19 tháng Ba thông báo:
“Trong Tổng Tu Nghị năm 1904 khi các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức,
chỉ có các Giám tỉnh tham dự kèm theo một người anh em từ mỗi
tỉnh được các thành viên đã tuyện khấn của Tỉnh Dòng bầu chọn.”
Do đó các Giám tỉnh và các Tỉnh Dòng mang lấy tầm quan trọng
mới trong Tu hội Salêdiêng. Động thái này đã được xem xét trong
vài năm. Trong cuộc họp ngày 12 tháng Bảy năm 1897, cha Rua đã
chỉ ra cho các thành viên của Tu Nghị Bề trên rằng ‘với các quy định
thích hợp tại chỗ, bàn giao cho các Giám tỉnh và các Tu Nghị Tỉnh
của các ngài, việc chấp nhận các công cuộc mới quả là thiết yếu bởi
vì giữa quá nhiều công việc Tu Nghị Bề trên không thể tiếp tục kiểm
tra các yêu cầu ngày càng nhiều, gây mất giờ không xuể’.509 Cần
thiết phải tản quyền. Cha Rua lợi dụng thư luân lưu ngày 19 tháng
Ba để thông báo cho các Giám tỉnh về những gì được mong đợi nơi
các ngài. Ngài rất rõ ràng và đòi hỏi.
508 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 12 tháng 2, 1902, trong FdR 4243D4-5.
509 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 12 tháng Bảy, 1897, trong FdR4242B7.

40 Pages 391-400

▲torna in alto

40.1 Page 391

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 391
Ngài viết: ‘Trước hết, với sự sáng suốt, các ngài hãy bảo đảm rằng
trong mỗi cộng thể, ai nấy hoàn toàn tuân thủ quy tắc và tinh thần
thực sự của Don Bosco. Đây là nền tảng và toàn bộ tương lai của Tu
hội của chúng ta. Nếu các Giám tỉnh không cảnh giác, hoặc yếu
nhược, các rối loạn sẽ nhanh chóng lan ra. Vì vậy họ phải nhớ rằng
họ có trách nhiệm chuẩn bị các tư giáo cho đời linh mục. Đây là trách
nhiệm chính của họ trước mặt Thiên Chúa. Cuối cùng, họ hãy làm
công việc huấn luyện các hội viên trong các tỉnh của mình với những
bằng cấp về thần học, triết học, nghệ thuật và khoa học v.v. để đáp
ứng nhu cầu giảng dạy và rao giảng, mà không mong đợi mọi thứ
đến từ Torino.’ Sự phân vùng của Tu hội sắp xảy ra.
Tối ngày 2 tháng Chín, Tổng Tu Nghị đã bỏ phiếu một số quyết
định quan trọng về việc huấn luyện chủng sinh. Cho đến lúc đó, sau
những năm học triết, hầu hết các hội viên học thần học vẫn còn ở
các trường khác nhau cho đến khi được thụ phong. Các học viện thần
học chuyên môn giờ đây cần phải cải thiện việc huấn luyện. Đề xuất
đã được chấp thuận: ‘Tu Nghị Bề trên sẽ thiết lập các học viện thần
học, nơi được coi là phù hợp, để phục vụ một hoặc nhiều tỉnh dòng.’
Ủy ban chịu trách nhiệm về vấn đề ấy ghi nhận rằng vì quyết định
này sẽ lấy khỏi các nhà sự trợ giúp quan trọng của các giáo sĩ, nên
đề xuất rằng vào cuối kỳ học triết học và trước khóa học thần học,
họ phải được gửi đến làm việc trong những nhà riêng lẻ. Tổng Tu
Nghị đồng ý. Cha Rua viết trong bản tường thuật ngày 19 tháng Ba
năm 1902: ‘Mọi người quyết định rằng sau khóa học triết học, các
giáo sĩ đảm nhận một thời hạn ba năm làm việc thực tế trong các
nhà của Tu hội chúng ta, và sau ba năm này, rút về bốn năm để
nghiêm túc học thần học, theo toàn bộ khóa học thần học tín lý, bí
tích và luân lý v.v’ Ngài đưa ra lý do đằng sau nó: ‘Mọi người cảm
nhận cần phải huấn luyện tốt đẹp các giáo sĩ của chúng ta trong các
môn học thánh, và việc cung cấp này càng trở nên cấp bách hơn khi
các vị thẩm quyền trong giáo hội đã thấy điều này.’ Thực vậy, Thánh
Bộ các Giám mục và Dòng Tu và chính Đức Lêô XIII đã phàn nàn về
việc người Salêdiêng thiếu huấn luyện thích đáng về thần học.
Đôi khi trong Tổng Tu Nghị, lỗi này bị đổ hết cho Tu Nghị Bề

40.2 Page 392

▲torna in alto
392 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
trên. Cha Rua trả lời cáo buộc rất rõ ràng vào sáng ngày 3 tháng
Chín. Cuộc nói chuyện của ngài với các thành viên của Tổng Tu
Nghị đáng được trích dẫn. Như mọi khi, Don Bosco là khuôn
mẫu. ‘Nhiều lần, người Cha tốt lành của chúng ta đã khuyến
khích chúng ta tránh tinh thần mâu thuẫn, chỉ trích và cải cách,
và muốn đưa đề nghị này vào lời khuyên đặc biệt mà ngài đã
để lại cho con cái của mình: tránh mong muốn cải cách. Tôi
nhắc lại lời khuyên này cho anh em. Chỉ trích các Bề trên thì chí
tử cho cộng đoàn, đặc biệt khi nó đến từ các Giám đốc hoặc các
Giám tỉnh. Đối tượng mất cảm giác vâng phục, họ không còn
tin tưởng vào các Bề trên của họ và quyền bính của anh em bị
tổn hại. Không chỉ phải tránh chỉ trích các Bề trên, mà còn phải
tránh chỉ trích các đồng nghiệp và người tiền nhiệm của mình.
Không được chỉ trích những thành tựu của họ; hãy tìm hiểu các
phương pháp của họ, nhưng không phá hủy hoặc cải cách
những gì họ đã xây dựng trừ khi, sau hai năm, sự cần thiết tuyệt
đối trở nên rõ ràng. Tránh chỉ trích những người phụ thuộc
mình; nó là một dấu kiêu ngạo. Họ cũng có lý do và cặp mắt
để nhìn và phán đoán. Nó ngược với đức ái, luôn muốn áp đặt
quan điểm của riêng mình; cẩn thận đừng quở trách bất cứ ai
khi anh em đang nổi nóng; nếu cần thiết thu thập tất cả các
thông tin thích đáng. Don Bosco thật tuyệt vời trong cách ngài
khen ngợi và thể hiện sự hài lòng với những gì mà người phụ
thuộc của ngài làm: điều đó như lời khuyến khích thực hiện bổn
phận của mình và giành được cảm tình của họ.510
Cũng vào sáng hôm đó, một cuộc tranh luận đã diễn ra về việc
học đại học của các giáo sĩ. Một thư luân lưu từ Thánh Bộ các Giám
mục và Dòng Tu, gửi đến các Giám mục và Bề trên Tổng Quyền (21
tháng Bảy năm 1896) đã cấm các chủng sinh giáo phận và dòng đi
học đại học trước khi hoàn tất việc học triết học và thần học. Tâm trí
họ có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sách vở, giáo sư và toàn bộ môi
trường. Người Salêdiêng lẽ ra cũng phải phục tùng quyết định này.
Nhưng làm cách nào mà các hội viên được thuyết phục để tiếp tục
510 Được trích trong Annali III, 149-150.

40.3 Page 393

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 393
việc học văn chương hay khoa học sau bảy năm vắng mặt (ba năm
triết học và bốn năm thần học)? Các trường Salêdiêng sẽ thiếu giáo
viên có bằng cấp và phải mướn giáo viên bên ngoài, như vậy phải
gánh phí tổn nghiêm trọng và bất lợi cho tinh thần và việc học của
sinh viên. Do đó, ủy ban liên hệ yêu cầu phê duyệt một điều khoản
để đưa vào các quy định như sau: ‘Các giáo sĩ với trình độ cần thiết
và những người được các bề trên đánh giá có khả năng, sau khóa
học triết học, có thể học đại học và những môn học khác cao hơn.’
Việc miễn trừ được coi là cần thiết bởi tình hình đặc biệt của Tu hội
Salêdiêng phải được phép của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu.
Đối với câu hỏi do ủy ban đặt ra, trong số 146 cử tri, 131 phiếu
thuận, 9 phiếu chống và 6 phiếu trắng. Trong những tuần sau đó,
cha Rua đã trình bày một đề nghị được suy nghĩ kỹ lưỡng cho Thánh
Bộ Rôma.511 Ngày 21 tháng Mười Hai, Thánh Bộ Rôma chấp thuận
việc miễn trừ như mong muốn trong thời gian ba năm, giới hạn cho
những cá nhân được đánh giá phù hợp cho việc giảng dạy và thực
hiện tất cả các biện pháp phòng ngừa cần thiết.
Khi khai mạc phiên họp buổi tối ngày 3 tháng Chín, cha Rua nói
về niềm vui và sự thanh thản mà Don Bosco đã truyền vào cộng
đoàn. Đó là lý do tại sao tất cả những người xung quanh ngài cảm
thấy hạnh phúc.
Làm cách nào chúng ta có thể giống ngài? Thứ nhất là: chính
xác trong các việc thực hành đạo đức; không có điều này hạnh
phúc và bác ái không thể ngự trị trong chính chúng ta cũng
như trong cộng thể chúng ta. Sẽ sai lầm khi nhầm lẫn lòng bác
ái với việc để cho mọi thứ đi quá xa. Thứ hai là: với tình yêu và
sự tốt bụng phải bảo đảm Quy luật được tuân thủ. Thứ ba là:
cũng rõ ràng quan tâm đến việc bồi dưỡng sức khỏe thể chất
của những người phụ thuộc mình; giải quyết sớm những nhu
cầu của họ nếu có thể trong những trường hợp đau khổ, bệnh
tật, vv .. Thứ tư là: không bám quá chặt vào ý kiến riêng mình.
Ngay cả trong các cuộc họp, sẵn sàng nghe ý kiến của họ và
làm theo nó khi không có nguy cơ gây hậu quả có hại. Thể hiện
511 X. Văn bản được trích trong Annali III, 160-161.

40.4 Page 394

▲torna in alto
394 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tính linh hoạt nhất định. Bằng cách này, cuộc sống sẽ tiến triển
trong bình an, hòa hợp và vui vẻ.512
Sáng ngày 4 tháng Chín, cha Rua đưa ra một số đề nghị về tình
bác ái huynh đệ. Ngài coi ‘việc giúp đỡ lẫn nhau và hỗ trợ và truyền
bá hiểu biết về các công cuộc chúng ta và của những người hội viên
mình’ là cần thiết. Ngài cũng đưa ra một vài ví dụ cụ thể: cho lưu
hành tạp chí Catholic Readings, mua những gì cần thiết cho văn phòng
từ các cửa hàng của người Salêdiêng, trả các khoản nợ cho các nhà
của người Salêdiêng; trả phần đóng góp cho các tập viện.513 Như
một lời mở đầu cho phiên họp buổi tối ngày hôm đó, ngài tin rằng
việc bày tỏ ý kiến của mình về các phương tiện tuyển dụng các Cộng
Tác viên Salêdiêng và các hội viên là điều thích hợp. Như Don Bosco
đã làm, ngài đơn giản hóa (quá nhiều?) vấn đề cho các Cộng Tác
viên.
‘Don Bosco rất quan tâm đến Hiệp hội Cộng Tác viên và ngài
đã cố gắng truyền bá nó rộng khắp. Làm việc này không cần
thiết phải đặt câu hỏi, gửi cho họ các Quy luật là đủ. Khi chúng
ta gặp một người có thiện chí, chúng ta gửi cho họ chứng chỉ
[thành viên của Hiệp hội]. Để không lặp lại mọi thứ, hỏi xem
họ có nhận được Tập san hay không, nhưng không ám chỉ đến
bất kỳ nghĩa vụ nào, chỉ cần nói nó liên quan đến làm một chút
việc tốt mà không có bất kỳ nghĩa vụ nào trong lương tâm.’
Chúng ta cần phải tăng số hội viên, cha Rua tiếp tục. ‘Phương
tiện đầu tiên là làm cho người ta biết đến và đánh giá cao công
cuộc của Tu hội, thường xuyên nói về Don Bosco, về truyền
giáo và các công cuộc Salêdiêng khác. Đừng thu hút bằng
những lời hứa hão, nhưng vun trồng những tâm tình quảng đại
với bất cứ ai cảm thấy được gọi vào đời tu, vốn là một đời sống
hy sinh. Phương tiện thứ hai là hỏi các cha xứ mà chúng ta có
tương quan để xem họ có biết người trưởng thành nào có thể
trở thành một sư huynh hoặc làm việc trong nhà của chúng ta
hay không, và sau đó săn sóc họ thật tốt và làm cho họ yêu Tu
512 Được trích trong Annali III, 152.
513 Annali III, 162.

40.5 Page 395

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 395
hội chúng ta. Đây là việc liên quan đến tất cả chúng ta.’514
Mọi tham luận mà ngài thực hiện trong suốt thời gian diễn ra
Tổng Tu Nghị đều cho thấy lý trí của cha Rua thật ngăn nắp, trật tự
và logic, cũng như ngài muốn trung thành đi theo bước chân của
Don Bosco.
Lễ đội triều thiên Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu (1903)
Ngày 17 tháng Năm năm 1903 ‘sẽ được ghi bằng chữ vàng trong
sử biên niên của Tu hội chúng ta’, cha Rua đã tuyên bố trong ‘lá thư
soi sáng’ gởi cho các người Salêdiêng ngày 19 tháng Sáu sau đó.515
Thực vậy, vào ngày đó, theo yêu cầu của cha Rua, Đức Hồng y
Augustine Richelmy đã tiến hành lễ đội triều thiên long trọng cho
bức ảnh Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu tại đền thánh của Mẹ ở
Torino.516 Lòng sùng kính tin cậy của cha Rua dành cho Đức Maria
Phù Hộ các Giáo Hữu đã nổi tiếng. Ví dụ, ngày 20 tháng Giêng năm
1900, ngài viết thư cho các hội viên: ‘Nhờ Đức Maria Phù Hộ các
Giáo Hữu cầu bầu, chúng ta phải hy vọng có được ánh sáng cho tâm
trí, sức mạnh cho ý chí, sức khỏe cho cơ thể, sự thịnh vượng trong
các sự nghiệp chúng ta và tất cả sự giúp đỡ, trần thế và mặt khác, có
thể cần thiết trong nhà chúng ta. Mẹ kéo xuống rất nhiều ân sủng
cho các Cộng Tác viên chúng ta, thì Mẹ còn kéo xuống biết bao ân
huệ dành cho các con đầu lòng của mẹ, nếu chúng ta thực sự cầu
khẩn Mẹ và tôn vinh Mẹ như những người con ngoan?’517 Ngài
không lặp lại vào ngày hôm đó nhưng đội triều thiên bức ảnh Mẹ tại
Valdocco đối với ngài là chiến thắng của Đức Maria.
Ý tưởng tôn vinh bức ảnh Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu xuất
phát từ một linh mục tại Nguyện xá vào năm 1902 và ngay lập tức
cha Rua biến nó thành của riêng mình. Tuy nhiên, nhiệm vụ không
dễ làm; cần phải được Rôma đồng ý cho nghi lễ đặc biệt này. Bề
Trên Cả quyết định tận dụng lễ kỷ niệm của Đức Lêô XIII, ngày 20
514 Annali III, 164.
515 L.C., 475.
516 Trong đoạn văn này, tôi theo sát bản tường thuật của Ceria trong Vita, 374-
382.
517 L.C., 466.

40.6 Page 396

▲torna in alto
396 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
tháng Hai ngài đã bước vào năm thứ 25 của triều đại Giáo Hoàng
của mình, một sự kiện hiếm hoi trong lịch sử của các Giáo Hoàng.
Người Salêdiêng muốn đặc biệt cử hành lễ ngân khánh đó. Lấy cảm
hứng từ cha Rua, Bollettino Salesiano đã đưa ra đề xuất cho tất cả các
giám đốc và Nữ tu phụ trách các nhà Salêdiêng khác nhau là bắt đầu
quyên góp để trang trải chi phí một album tuyệt vời sẽ được trình
cho Đức Giáo Hoàng cùng với tiền lạc quyên cho Tòa Thánh. Album
sẽ chứa tất cả tên của những người góp tiền đã đóng góp ít nhất
mười xu. Kết quả là hai album lớn với 70.000 chữ ký và tổng cộng
12.400 đồng lire Ý. Cha Rua quyết định sẽ đích thân trình mọi thứ
cho Đức Lêô XIII, cùng với một phái đoàn giới trẻ đi theo. Tận dụng
tối đa dịp đó, ngài sẽ xin phép đội triều thiên cho bức ảnh của Đức
Maria Phù Hộ các Giáo Hữu trong đền thờ của Mẹ tại Valdocco.
Ngài rời Torino cuối tháng Mười Hai năm 1902 cùng với bốn linh
mục dòng Salêdiêng, hai học sinh và hai người học nghề, được các
đồng bạn chọn trong một cuộc bỏ phiếu kín. Buổi triều yết được
chấp thuận ngày 5 tháng Giêng năm 1903. Nhóm từ Torino có thêm
cha Tổng Đại diện Gioan Marenco, với hai người trẻ từ Rôma, một
người đến từ Nguyện xá lễ hội và người kia từ lưu xá Thánh Tâm.
Trước tiên, cha Rua giới thiệu bản thân. Ngài giải thích cho Đức Giáo
Hoàng lý do chuyến viếng thăm của mình vốn là để mừng ngân
khánh nhân danh ba gia đình của Don Bosco; ngài nói về Đại hội sắp
tới của các Cộng Tác viên Salêdiêng và ngài xin một phép lành đặc
biệt và cuối cùng ngài chính thức xin phép cho lễ đội triều thiên. Sau
đó những người đi cùng ngài được giới thiệu. Hai trong số những
người trẻ tuổi đến từ Torino trao các album cho Đức Giáo Hoàng
cùng với tiền lạc quyên. Cuộc trò chuyện rất thoải mái. Theo sử biên
niên, cha Rua hết sức mãn nguyện khi Đức Lêô kết luận: ‘Bề trên của
các con đã nói với Ta rằng Hiệp hội các Cộng Tác viên đã làm rất
nhiều việc tốt, nhờ đó, đức tin được giữ gìn ở nhiều quốc gia, trên
hết thông qua lòng sùng kính Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu. Để
phát triển lòng sùng kính này, một thỉnh cầu đã được đệ trình cho
Ta và Ta rất vui chấp nhận nó. Ta đã chấp thuận và chỉ chờ xem việc
ấy có thể được thực hiện theo cách nào.’ Don Rua ra về, ngây ngất
vì vui mừng.

40.7 Page 397

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 397
Không chậm trễ trong việc dàn xếp vấn đề. Ngày 17 tháng Hai
Đức Hồng y Richelmy, Tổng Giám mục Torino, đã nhận được một Tự
sắc Motu Proprio. Đức Giáo Hoàng ra sắc lệnh đội triều thiên bức ảnh
và giao cho ngài tiến hành, theo nghi lễ, với danh nghĩa của ngài và
bằng thẩm quyền của ngài. Theo cha Ceria, văn kiện tiếp tục với
những dòng: ‘Vì người con yêu quý của chúng ta là Micae Rua, Bề
Trên Cả của Tu hội Salêdiêng, trên danh nghĩa của ngài và của toàn
bộ gia đình Salêdiêng, đã xin Ta một thỉnh cầu khiêm tốn và nhiệt
thành, rằng năm nay khi vui mừng tổ chức kỷ niệm ngân khánh triều
đại giáo hoàng của Ta, Ta đồng ý đội triều thiên cho bức ảnh tôn
kính này, Ta thấy không có gì đáng yêu và ngọt ngào hơn khi sự
sùng mộ dành cho Mẹ Thiên Chúa đáng kính mỗi ngày một gia tăng
giữa các Kitô hữu, đã sẵn lòng xét thấy thích hợp để chấp thuận thỉnh
cầu.’518 Mọi người nồng nhiệt đón nhận tin này. Một ủy ban gồm
các phụ nữ khá giả đã phụ trách việc đặt làm các vương miện từ một
thợ kim hoàn trong thành phố.
Từ ngày 14-16 tháng Năm, tại Torino-Valdocco, Đại hội Quốc tế
lần thứ ba của các Cộng Tác viên Salêdiêng sẽ được tổ chức. Đức
Tổng Giám mục Torino sẽ là chủ tịch danh dự và cha Rua là chủ tịch
điều hành. Sự kiện này sẽ thu hút đông đảo bạn hữu và các nhà hảo
tâm của Don Bosco đến Torino.519 Ngày lễ đội triều thiên được ấn
định vào ngày cuối cùng của Đại hội, ngày 17 tháng Năm. Chúng ta
hãy để chính cha Rua mô tả ngày đáng nhớ đó.
Từ hai giờ sáng, những khách hành hương mộ đạo bắt đầu tập
hợp tại cửa nhà thờ. Chưa bao giờ thấy một đám đông như vậy
trong nhà thờ, trên quảng trường hay trong toàn bộ khu vực
Valdocco. Như Đức Tổng Giám mục Hồng y của chúng ta bày
tỏ, tất cả họ đều có một ý nghĩ, một khao khát, nhìn thấy trán
của Nữ Vương Thiên Đàng đáng kính được đội vương miện
lộng lẫy. Cuối cùng, thời điểm chờ đợi đã đến. Đức Hồng y
518 Ceria, Vita, 377.
519 Để có được đại hội thành công này mà trong đó Cha Rua hiếm khi xen vào vì
việc tổ chức nằm trong bàn tay chuyên môn của Cha Stefano Trione, x. Annali III,
310-339.

40.8 Page 398

▲torna in alto
398 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Richelmy, được Đức Thánh Cha giao phó cử hành nghi lễ thánh,
trước hết trong nhà thờ trên bức ảnh kỳ diệu và sau đó ở quảng
trường bên ngoài trên bức tượng thánh, với bàn tay run rẩy đặt
triều thiên khảm ngọc quý trên đầu của Đức Trinh Nữ Phù Hộ
các Giáo Hữu và bằng một giọng nói mạnh mẽ nhưng xúc
động, từ trên giàn giáo cao đọc những lời trong nghi thức: Sicut
te coronamus in terries, ita a Christo coronari mereamur in coelis.
[Như chúng con đội triều thiên cho Mẹ trên trái đất, chúng con có
thể nên xứng đáng được Đức Kitô đội triều thiên như vậy trên trời].
Khi nghe những lời này, không còn có thể kiềm chế lòng sùng
kính và sự nhiệt tình của đám đông mà vỡ òa trong tiếng vỗ
tay ầm ĩ. Từ mỗi trái tim bật lên lời kêu khấn, Lạy Mẹ Maria Phù
Hộ các Giáo Hữu! Và dàn đồng ca của hàng ngàn giọng nói
ngâm lời tiền xướng tuyệt vời một vương miện vàng trên đầu Mẹ
[Corona aurea super caput ejus]. Có ngạc nhiên không trước việc
thể hiện đức tin, lòng mộ đạo và tình yêu dành cho Đức Maria
như vậy, nước mắt cứ tuôn trào? Tôi không thể thêm bất cứ
điều gì khác vì không đủ ngôn từ để diễn tả niềm vui lúc đó,
những sự ngây ngất ngọt ngào nhất trong đó trái tim của mọi
người được hấp thụ, cảm xúc hỗn loạn, lời cầu nguyện sốt mến
dâng lên Mẹ đầy yêu mến.
Buổi lễ kết thúc nhưng dòng người vô tận không giải tán, họ
mong muốn thể hiện lòng sùng kính dành cho Đức Maria Phù
Hộ các Giáo Hữu đầy quyền năng. Vì vậy, họ tràn vào nhà thờ
dâng kính Mẹ mà suốt ngày vang lên những bài thánh ca và lời
cầu nguyện. Khi trời sập tối người dân Torino và khách hành
hương tràn ngập khu Valdocco để tham dự vào đám rước long
trọng khi bức tượng Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu đội triều
thiên trong sự khải hoàn được kiệu qua các đường phố của
thành phố. Họ nhận được phép lành Thánh Thể ban từ bàn thờ
và từ những cánh cửa chính của nhà thờ, tiếp theo là những
tràng pháo tay mạnh mẽ và những bài thánh ca ngợi khen
Thánh Thể và Nữ Hoàng vinh quang. Đêm xuống và đám đông
tiếp tục tận hưởng ánh sáng của nhà thờ, quảng trường và gần
như toàn bộ Torino. Dường như mọi người không thể tách mình

40.9 Page 399

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 399
khỏi Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Trong mười ngày kế tiếp
khách hành hương thậm chí đến từ nơi rất xa tiếp tục tôn kính
Đức Trinh Nữ đội triều thiên.520
Bản tường thuật cảm động về sự kiện này cho thấy việc đội triều
thiên của Đức Trinh Nữ Phù Hộ các Giáo Hữu đã làm rúng động trái
tim sùng mộ của cha Rua.
Sự kính trọng của Cha Rua dành cho Đức Piô X
Giữa Tổng Tu Nghị Thứ Chín và Thứ Mười, vào ngày 20 tháng Bảy
năm 1903, Đức Lêô XIII qua đời. Ngày 4 tháng Tám sau đó, Đức Piô
X kế nhiệm ngài. Để tỏ lòng kính trọng ngài, với sự hỗ trợ của Đức
Hồng y Svampa ở Bologna, cha Rua đã cố gắng để giảm bớt phần
nào đó các sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh cấm các giám đốc
Salêdiêng nghe những người thuộc quyền xưng tội.521
Ngày 26 tháng Chín, Đức Hồng y Svampa viết một bức thư cho
Hồng y Rampolla, Vị Bảo trợ của Tu hội Salêdiêng, và gửi một bản
sao cho cha Rua:
Tôi không thể giấu Đức Hồng y thực tế là trong những năm
qua những người Salêdiêng đã rất xấu hổ bởi sắc lệnh nổi tiếng
của Văn phòng Tòa Thánh vốn đã bất ngờ xuất hiện và được
diễn tả bằng những từ ngữ rất nghiêm trọng, làm xáo trộn
không ít đời sống kỷ luật đã quy định cho Tu hội từ thời Don
Bosco. Cha Rua, một người có đức tính hiếm có, mà những
người con của cha ấy cầu viện với sự tin tưởng lớn lao, giãi bày
lương tâm của họ với cha ấy, và là người trong những chuyến
viếng thăm thường xuyên đến các nhà đã có ảnh hưởng ích lợi
đến sự huấn luyện các linh hồn thông qua tòa ăn năn, bỗng
nhiên thấy mình bị tước mất năng quyền nghe người dưới của
mình xưng tội; điều tương tự cũng dành cho tất cả các bề trên
(nghĩa là các giám đốc) liên quan đến người phụ thuộc của họ.
Biện pháp đã được thực hiện mà cha Rua không được tư vấn và
tính chất đặc biệt của những người Salêdiêng không được xét
520 Thư giáo dục ngày 19 tháng Sáu, 1903, trong L.C., 473-477.
521 Đoạn này được thuật lại trong Ceria, Vita, 383-391.

40.10 Page 400

▲torna in alto
400 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đến. Trong số đó, các giám đốc (bao gồm cả Bề Trên Cả) thực
thi trên hết vai trò của những người cha thiêng liêng, để lại cho
các Phó Bề trên, các cố vấn và Hội đồng Tối cao các nhiệm vụ
liên quan đến sự nghiêm khắc và trừng phạt. Tôi đã chứng kiến
nỗi đau khổ mênh mang của những người Salêdiêng trong tình
cảnh đau đớn này và sự vâng lời gương mẫu mà họ đã tùng
phục các chỉ thị bắt buộc của Văn phòng Tòa Thánh.522
Đức Hồng y Rampolla hứa sẽ nói chuyện với Đức Giáo Hoàng.
Cha Rua đợi cho đến cuối tháng Mười để đi Rôma và được triều
yết Đức Piô X ngày 3 tháng Mười Một. Ngài đã trình bày ba yêu cầu
cho Đức Giáo Hoàng và có thể tóm tắt a) rằng trong những chuyến
du hành của ngài, ngài có thể giải tội cho những ai xin ngài; b) trong
trường hợp rõ ràng là cần thiết, các giám đốc Salêdiêng có thể giải
tội cho những ai tìm đến họ; c) trong trường hợp cần thiết, Con Đức
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và học sinh của họ có thể đến với cha giải
tội Salêdiêng. Trong suốt cuộc nói chuyện riêng tư dài và cực kỳ thân
mật, Đức Giáo Hoàng đã viết ở cuối tờ giấy: Juxta preces; pro gratia.
Ex aedibus Vaticanis, die 3 novembris 1903, P.P.X, một công thức có
nghĩa là ngài chấp thuận thỉnh cầu.523
Bằng cách này, Đức Giáo Hoàng đã làm dịu đi một chút những
ảnh hưởng của sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh, mặc dù phần còn
lại vẫn nguyên vẹn. Phải nói thêm rằng cha Rua sử dụng đặc quyền
này hết sức thận trọng và từ chối giải tội cho những người Salêdiêng
vốn đã quen xưng tội với ngài.
Tổng Tu Nghị Thứ Mười
Tổng Tu Nghị Thứ Mười của Tu hội Salêdiêng được cha Rua triệu
tập ngày 6 tháng Giêng năm 1904 tại Torino-Valsalice ngày 23 tháng
Tám sau đó, được chuẩn bị với sự cẩn thận đặc biệt.524 Cha Cerruti
522 Ceria, Vita, 385.
523 Văn bản này được tìm thấy trong FdR 3832E10-3833A1.
524 Văn khố Trung ương Salêdiêng giữ một hồ sơ đáng kể gần 1400 trang về Tổng
Tu Nghị này, x. FdR 4041D11-4064A5. X. cũng bản tường thuật trong Annali III,
537-557.

41 Pages 401-410

▲torna in alto

41.1 Page 401

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 401
sẽ là người điều phối và mục tiêu chính là việc bầu cử các thành viên
của Tu Nghị Bề trên sẽ mãn hạn vào tháng Tám. Việc xét lại và đối
chiếu các quyết định được đưa ra trong các Tổng Tu Nghị trước cũng
được dự tính.525
Lần đầu tiên trong lịch sử của Tu hội, Tổng Tu Nghị sẽ chỉ gồm
các Giám tỉnh và các đại biểu tỉnh, không còn các giám đốc cộng thể
nữa. Sự mới mẻ này ngụ ý sự tổ chức sơ bộ của các Tu Nghị Tỉnh,
các thực thể pháp nhân cho đến nay chưa được biết đến trong thế
giới Salêdiêng. Do đó, cùng ngày 6 tháng Giêng, cha Rua đã ký một
cuốn sách nhỏ có tựa đề Thông tin và Quy tắc trên đường chuẩn bị
cho Tổng Tu Nghị.526 Tài liệu đặt ra các quy luật liên quan đến thành
phần và mục đích của các Tu Nghị Tỉnh. Dưới sự chủ trì của Giám
tỉnh, tất cả các giám đốc trong tỉnh dòng, cùng với một đại biểu từ
mỗi nhà do cộng thể lựa chọn, sẽ tập hợp lại. Văn bản của cha Rua
cũng xác định vai trò của các Tu Nghị Tỉnh này: trước hết họ phải
bầu đại biểu tỉnh và người thay thế cho vị đại biểu đó; thứ hai, đối
với nước Ý, họ có nhiệm vụ bổ nhiệm tập sư và các thành viên của
ủy ban được giao việc nhận lời khấn; cuối cùng, họ phải trình bày
các đề xuất để trình cho Tổng Tu Nghị.
Việc chuẩn bị cho Tổng Tu Nghị diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, trong
số ba mươi lăm tỉnh được thiết lập theo giáo luật, chỉ có ba tỉnh gửi
hai đại diện đến Torino. Thiếu các tỉnh Ecuador, El Salvador và Hoa
Kỳ. Đại diện của họ vắng mặt vì đau ốm hoặc những lý do khác ngoài
tầm kiểm soát của họ. Trong phiên họp chuẩn bị, ngày 2 tháng Tám,
cha Rua đề nghị hành động đầu tiên của hội nghị phải là gửi một
điện tín diễn đạt sự tòng thuộc hiền thảo lên Đức Thánh Cha và cầu
ngài ban phúc lành cho công việc của Tổng Tu Nghị. Bức điện được
cha Bertello soạn và được gửi đi ngay lập tức.527 Sau đó, cha Rua
chào đón các thành viên của Tổng Tu Nghị theo phong cách của
người cha: ‘Ý nghĩ về Don Bosco, đấng thực sự là người của Thiên
525 Thư luân lưu của Cha Rua, ‘Carissimi Figli...’ ngày 6 tháng Giêng, 1904, trong
FdR 4041D11-E2.
526 Informazioni e Norme pel X Capitolo Generale, 9 trang in, trong FdR 4041E4-12.
527 Bức điện tín được tìm thấy trong FdR 4042B6.

41.2 Page 402

▲torna in alto
402 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Chúa và lòng bác ái, lòng bác ái vốn phải thấm sâu vào tất cả các
cuộc thảo luận của chúng ta, đã thúc giục tôi triệu tập Tổng Tu Nghị
này tại Valsalice, nơi thi hài đáng kính của ngài an nghỉ.’ Sau đó,
ngài tiếp tục đề nghị rằng các vấn đề khác nhau phải được xử lý với
sự bình tĩnh và đức ái, không xúc phạm bất cứ ai trong số những
người có mặt hoặc vắng mặt, ‘chắc chắn người ấy cảm động vì ý
định tốt lành nhất’.
Như mục mở đầu, sự tham gia tích cực của các Giám mục Cagliero
và Costamagna đến từ Nam Mỹ, đã được quyết định. Sau khi kiểm
tra và giải quyết một số trường hợp nghi ngờ, số thành viên của Tổng
Tu Nghị là bảy mươi lăm người.
Ngày 24 tháng Tám, các cuộc bầu Tu Nghị Bề trên đã diễn ra,
trong đó tất cả những người đương nhiệm đều được xác nhận lại.
Ngày hôm sau, Bề Trên Cả báo tin cho những người Salêdiêng trên
khắp thế giới, tha thiết yêu cầu họ tiếp tục cầu nguyện cho ‘kết quả
thành công của một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Tu
hội chúng ta.’528 Trên thực tế, Tổng Tu Nghị đang thảo luận về vấn
đề khó khăn trong việc phân loại các thảo luận trước đó, chia chúng
thành các điều khoản được gọi là ‘có hệ thống’, có giá trị hiến pháp
và các điều khoản chỉ liên quan đến các quy định, một vấn đề mà,
không đạt được kết luận tốt đẹp. Điều sau đây được soạn ra, ad
experimentum: một Quy định cho các Tổng Tu Nghị; một ghi chú quy
định các Tỉnh; một Quy định cho các tập viện và các học viện triết
học; và một Quy định-Chương trình cho các sinh viên thần học.529
Tổng Tu Nghị chính thức bế mạc ngày 13 tháng Chín, sau tất cả 33
phiên họp khoáng đại.
Cha Rua thường xuyên xen vào các phiên họp này. Như các nhân
chứng chứng thực, mọi người lắng nghe ngài hầu như cách tôn kính.
Thật không may, những tham luận đó luôn luôn ngắn gọn, cũng như
thói quen của ngài, chỉ còn lại trong các ghi chú phác họa được các
thư ký ghi lại và trong những ghi chú mà ngài viết từng ngày trong
528 Bản viết tay và bản in trong FdR 3984C7-8.
529 Những văn bản này được tìm thấy trong FdR 4050C8-4052D4.

41.3 Page 403

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 403
một cuốn sổ tay có tựa đề ‘Các đề xuất trong Tổng Tu Nghị Thứ
10’.530 Bây giờ chúng ta sẽ trích dẫn một số xem ra cho thấy điều
ngài quan tâm hơn.
Chiều ngày 25 tháng Tám, ngài tham luận về vấn đề sử dụng ngôn
ngữ Ý. Ngài mời những anh em không phải người Ý xem xét nó vì
ba lý do: a) bởi vì đây là ngôn ngữ của Nhà Mẹ, của người cha tôn
kính của chúng ta, Don Bosco, và của Đức Giáo Hoàng; b) bởi vì nó
sẽ là một phương tiện để chúng ta hiểu nhau dễ dàng hơn trong các
cuộc họp trong tương lai của các Tổng Tu Nghị, như kinh nghiệm
hiện tại cho thấy; c) bởi vì điều này sẽ tạo thuận lợi cho các mối quan
hệ giữa người cấp dưới và các bề trên thượng cấp vì bề trên thượng
cấp không thể luôn luôn đích thân thăm viếng họ cũng như không
học ngôn ngữ của họ. Nhấn mạnh rằng các bề trên của những nhà
nước ngoài khuyên người thuộc quyền của họ viết cho các bề trên
thượng cấp bằng tiếng Ý hoặc tiếng Latinh. ‘Đây là những điều mong
ước được chính Don Bosco bày tỏ.’531
Ngày 26 tháng Tám, cha Rua đề nghị các Giám tỉnh chỉ chấp nhận
các tuyên úy và các cam kết tương tự khác ngoài cộng đoàn một cách
rất thận trọng. Họ hãy chỉ chấp nhận khi vắng mặt linh mục tại chỗ
có thể thực hiện các chức năng như vậy, nhưng ngay khi có một linh
mục triều lo liệu thì họ phải bàn giao. Bằng cách này sẽ tránh được
những cạnh tranh với các giáo sĩ địa phương và sự bỏ bê quan tâm
việc nội bộ trong nhà. Trong khóa họp buổi chiều, ngài khuyên các
thành viên Tu Nghị chú ý cẩn thận đến các lá thư hàng tháng hoặc
những thư tùy dịp của Tu Nghị Bề trên và tất cả các tài liệu in được
gửi đến các nhà từ Tu Nghị Bề trên.
Chiều ngày 31 tháng Tám mang lại một sự can thiệp dài từ cha
Rua về các Hội nghị của Thánh Vinh Sơn Phaolô. Ngài nhận xét rằng
người Salêdiêng hàm ơn họ rất nhiều. “Nhờ họ mà những người
Salêdiêng có thể vào nước Pháp và nhiều nước ở Nam Mỹ. Sự hỗ trợ
của Hội nghị này rất hiệu quả. Don Bosco rất thích công việc này và
530 Raccomandazioni fatte durante il Cap. Gen. X, năm trang viết tay trong FdR
4042A9-B1. Chúng tôi theo phác thảo điểm này.
531 L.C., 316-330.

41.4 Page 404

▲torna in alto
404 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nói về nó với sự hăng say thực sự. Đức Tổng Giám mục Đavít Riccardi,
Tổng Giám mục Torino, từng nói rằng những quý ông của Hội nghị
bố thí rất khôn ngoan bởi vì họ không chỉ quan tâm đến những lợi
ích vật chất của người dân mà, trên hết là lợi ích tinh thần của họ.
Họ không hài lòng với việc bố thí nhưng bản thân họ đến thăm người
nghèo và quan tâm tới nỗi bất hạnh của họ. Vì vậy, các Giám tỉnh
hãy ghi nhớ Hội nghị và khuyến khích họ lan rộng thêm.’532
Năm ấy (1904) cuộc khủng hoảng chủ nghĩa tân thời đã làm rúng
động những người trí thức Công giáo. Ngày 16 tháng Mười Hai năm
1903, Văn phòng Tòa Thánh đã cấm sách của Alfred Loisy. Những
người ủng hộ ‘chủ nghĩa tân thời’ của vị giáo sư này và các đối thủ
bảo thủ của họ đối đầu với nhau qua vấn đề về tính lịch sử của các
sách Phúc Âm. Những người cấp tiến đưa vào vấn đề vị thế của Đức
Giáo Hoàng và Giáo triều của ngài, lý lẽ thứ hai bị đánh giá là hơi
ngu ngốc. Trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu tại sao trong
phiên họp buổi chiều ngày 2 tháng Chín, cha Rua đã xen vào về kính
trọng dành cho Đức Giáo Hoàng và các vị có thẩm quyền Rôma. ‘các
Giám tỉnh trong các chuyến viếng thăm của họ, trong tất cả các kỳ
tĩnh tâm, trong các bài huấn đức và các buổi nói chuyện ngắn vào
buổi tối, hãy cổ vũ các anh em và cả người trẻ tuổi yêu mến Đức
Thánh Cha, vị Đại diện Chúa Giêsu Kitô, và yêu mến các Thánh Bộ
Rôma vốn là người phát ngôn của ngài. Tình cảm này phải được đâm
rễ nơi các hội viên. Để giữ cho nó không bị xâm phạm trong lòng
họ, phải tránh những bài đọc nguy hiểm về điểm này. Người cha
đáng kính của chúng ta, Don Bosco, từng nói: “Đừng tin những người
phát biểu chống lại Đức Giáo Hoàng và các Thánh Bộ Rôma; họ là
những kẻ thù của Giáo hội và các linh hồn.” Don Bosco đã cẩn thận
không chỉ phục tùng các mệnh lệnh mà còn cả những ước muốn của
Đức Giáo Hoàng, ngay cả khi phải trả giá hy sinh lớn lao. Vì vậy,
trong việc này chúng ta cũng hãy tỏ lộ chính mình là những người
con xứng đáng của một người cha như vậy.’533
Sáng ngày 5 tháng Chín, trong khi đang soạn thảo các quy định
532 Annali III, 222.
533 FdR 4055B10.

41.5 Page 405

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 405
cho các Giám tỉnh, cha Rua đã thúc giục họ hãy để tâm đến việc huấn
luyện các giám đốc. Trong những lần viếng thăm, họ phải dành
nhiều thời gian cần thiết với các giám đốc mới, tiếp chuyện riêng với
họ, và sau buổi huấn đức theo quy định dành cho tất cả các thành
viên của cộng đoàn, họ nên nói chuyện riêng với họ một lần nữa,
cho họ lời khuyên thích hợp của người cha. Trên hết, họ phải cố gắng
khắc sâu tình yêu dành cho Quy luật thánh thiện và sự tôn trọng tỉ
mỉ ngay cả đối với những việc tuân giữ nhỏ nhất. Đọc lại với họ các
quy định dành cho giám đốc và xác minh rằng họ tuân thủ chúng
quả là tốt đẹp. Họ cũng hãy đọc các quy định khác liên quan đến họ
và, trên cơ sở đó, thực hiện những điều tuân thủ cần thiết cho lợi ích
của nhà. Họ phải lưu ý xem các giám đốc có thường xuyên thăm lớp
học và xưởng hay không, xem họ có chu toàn những gì được yêu cầu
trong nhà ở của người Salêdiêng hay không. Đặc biệt, họ hãy coi
xem các giám đốc có chăm sóc nhân viên đầy đủ hay không, vì lợi
ích của các hội viên là nhiệm vụ chính của mọi giám đốc.
Cha Rua trở lại chủ đề này vào buổi chiều cùng ngày 5 tháng Chín,
lần này ngài nói với các giám đốc. ‘Giám đốc không nên quá khắc
khổ mà cũng không quá dễ dãi. Một số người lầm lẫn tin rằng để có
được cảm tình của người thuộc quyền mình, họ phải nhượng bộ
nhiều lần. Trung dung mà không đưa đến sự lạm dụng nào thì thích
hợp hơn. Bằng cách này sẽ giữ được tinh thần của người cha và Đấng
Sáng lập hiền lành nhất của chúng ta.’534 Trong những chỉ dạy này,
chúng ta một lần nữa nhận thấy nhân vật cha Rua là ‘Quy Luật được
nhân cách hóa’ và là vị kinh lý chu đáo của các nhà-con (daughter-
houses) khi ngài là Phó Tổng Bề trên của Tu Hội.
Tu hội Salêdiêng giờ đây đã mang tính quốc tế rất cao. Ngày 6
tháng Chín, cha Rua tỏ ra quan tâm về điều đó. Với mục đích duy trì
tốt hơn sự bình an và hòa hợp trong các nhà và xua đi mọi cảm giác
xấu, ngài đặc biệt giao cho các Giám tỉnh việc can ngăn tranh cãi về
quốc tịch. Mọi người không bao giờ được tự hào về quốc gia của
mình làm phương hại cho người khác. Trong mỗi người đều có thiện
và ác. Ngài cũng khuyến cáo cấm hút thuốc lá trong các cộng đoàn.
534 FdR 4056A10-11.

41.6 Page 406

▲torna in alto
406 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Ngài hoàn toàn không muốn các hội viên hút thuốc. Hít thuốc cũng
phải chừng mực. Những người đã có thói quen này, nếu họ thực sự
không thể từ bỏ nó, nên dùng riêng; trên hết, họ không nên mời
những người khác.535
Trước khi chuyển sang nghị sự làm việc, vị điều hành đã mời cha
Têphanô Trione nói về vấn đề người Ý di cư. Cha Trione kết luận
bằng cách nói lên hai điều mong ước: để thu hút thiện chí của các
thuộc địa Ý thông qua việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ và việc thành
lập các văn phòng thư ký cho những người di cư; và lập một ủy ban
thường trực cho di dân. Cha Rua rất háo hức về các đề xuất của cha
Trione và ngay lập tức bổ nhiệm ngài làm chủ tịch của ủy ban được
mong đợi ấy, có trách nhiệm chọn các thành viên khác với sự đồng
ý của Tu Nghị Bề trên. "Tôi rất muốn chúng ta làm việc để ủng hộ
những người Ý đồng bào của chúng ta. Chúng ta không nên nản chí
với kết quả kém, đặc biệt lúc ban đầu. Cha Coppo đã nói gì với chúng
ta ở New York? Rằng Chúa có lẽ đã sắp đặt để những người Ý di cư
nghèo của chúng ta, cùng với người Ba Lan và người Ailen, sẽ là
những người gieo giống và giữ gìn đức tin ở những nơi xa xôi nhất.
Ta không được bỏ bê những người di cư của các nước khác.’536
Cùng ngày đó, cha Rua tuyên bố mình chống lại việc lấy những
ngày nghỉ ở trong gia đình. Chỉ sau vài năm vắng mặt, Giám tỉnh có
thể cho phép một người anh em dành tối đa một tuần ở nhà. Trong
trường hợp đặc biệt, có thể cho phép hai tuần. Giám tỉnh phải chú ý
đến những việc cho phép này và phải được thông báo về bất kỳ sự
lạm dụng nào. Nếu cần thiết, ngài phải hành động không chậm trễ
để sửa lỗi này khi xảy ra.
Tổng Tu Nghị dài ngày này kết thúc với một bài thánh ca cảm tạ
vì những thành công đạt được. Cha Rua viết trong thư luân lưu:
‘Chúng tôi trải qua hai mươi ngày quy tụ bên nhau trong khi các
Giám tỉnh được các nhà phụ thuộc vào họ mong ngóng, đặc biệt là
đối với kỳ tĩnh tâm. Tuy nhiên, tất cả các thành viên của Tổng Tu
535 FdR 4056B2-3.
536 FdR 4056D2.

41.7 Page 407

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 407
Nghị vẫn ở Valsalice cho đến tối ngày 13 tháng Chín khi Te Deum
được hát lên.
Các kết luận của Tổng Tu Nghị Thứ Mười
Cha Rua đợi cho đến ngày 19 tháng Hai (1905) mới đưa ra kết
quả của Tổng Tu Nghị thứ mười.537 Trong khi chờ đợi, ngài đã phải
giành được sự phê chuẩn của các vị thẩm quyền Rôma. Ngài bày tỏ
sự hài lòng với chất lượng của các cuộc thảo luận trong phiên họp.
“Thật là an ủi khi tôi có thể nói rằng một sự bình tĩnh không xao
động, một tình bác ái huynh đệ thực sự và một sự đồng tâm nhất trí
gương mẫu trong các trường hợp bất đồng ý kiến, là đặc trưng của
Tổng Tu Nghị này. Thực vậy, một trong những thành viên thâm niên
nhất của Tổng Tu Nghị viết cho tôi rằng các cuộc họp thực sự là một
trường dạy khôn ngoan, khiêm nhường và bác ái.’
Trong thư luân lưu ngài cũng giải thích rằng vào ngày 3 tháng
Chín, với sự hiện diện của Đức Hồng y Richelmy, nghi thức mở quan
tài của Don Bosco đã long trọng diễn ra, theo các tiến trình Giáo luật
yêu cầu. Việc chiêm ngắm nét mặt ngài đã làm trái tim của các thành
viên Tổng Tu Nghị xúc động sâu lắng. Họ đã sợ rằng sự cho phép sẽ
không đến đúng lúc và vì vậy họ sẽ không thể ngắm nhìn một lần
nữa khuôn mặt yêu dấu của Don Bosco, người được chôn cất gần hội
trường. Nhưng ai đó đã xoay xở để được phép đó; vì vậy ngày hôm
đó các thành viên của Tổng Tu Nghị có dịp tĩnh lặng chiêm ngắm thi
hài Don Bosco. Cha Rua viết: ‘Thực vậy, quan tài được đưa vào đại
sảnh ở tầng trệt của tòa nhà mới. Ở đây, sau khi cử hành nhiều Thánh
Lễ cầu nguyện cho linh hồn ngài, đến 9 giờ 30 quan tài đã được mở
ra và hơn hai trăm người đã dán mắt nhìn vào thi hài của người cha
tốt lành của chúng ta, vốn đã không được thấy trong mười bảy năm.
Ta thấy tình trạng thân xác ngài được bảo quản tốt, da dẻ và da mặt
và bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cặp mắt mà nhiều lần đã nhìn
chúng ta với sự tốt lành không thể tả đã biến mất; miệng ngài cũng
hơi mở khi hàm dưới đã sụt xuống. Mặc dù vậy, nhìn chung khuôn
mặt của Don Bosco vẫn giữ lại hầu như tất cả đường nét của bức ảnh
537 L.C., 316-324.

41.8 Page 408

▲torna in alto
408 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chụp vào ngày ngài mất. Tất nhiên, chúng ta rất hạnh phúc khi thấy
ngài trong tình trạng này nhưng đồng thời vô cùng buồn bã vì cái
chết đã để lại những vết sâu như vậy trên diện mạo đáng kính đó.
Theo cha Rua, những kết quả chính yếu của Tổng Tu Nghị cốt ở
các quyết định liên quan đến các tỉnh. Ngày 27 tháng Giêng năm
1902, ba mươi mốt tỉnh đã được thiết lập.538 Cho đến lúc đó, Tu hội
Salêdiêng được tập quyền mạnh mẽ, tùy thuộc vào Tu Nghị Bề trên;
bây giờ nó đã trở nên khu vực hóa, có lợi cho tất cả. Cha Rua lưu ý
trong thư luân lưu của ngài:
Mọi người chí lý coi đây là một bước tiến lớn trong Tu hội
chúng ta khi thiết lập các tỉnh mà Tòa Thánh đã phê chuẩn theo
giáo luật. Có các nhà trong cùng một vùng được nhóm lại với
nhau dưới sự chăm sóc thận trọng của một bề trên, là người
đại diện cho Bề Trên Cả, mang đến hy vọng có nhiều điều tốt
đẹp. Các thành viên của Tổng Tu Nghị Thứ Mười cũng rất được
thuyết phục về tầm quan trọng của bộ phận này và thực hiện
một nghiên cứu cẩn thận về nhiệm vụ của các Giám tỉnh và mối
quan hệ phải tồn tại giữa họ và các ngôi nhà dưới sự chăm sóc
của họ. Kết quả là một quy định ngắn mà tôi gấp rút gửi đến
từng nhà ngay cả trước khi tôi nhận được sự chấp thuận từ Tòa
Thánh, để bây giờ nó có thể đảm nhiệm như một sách hướng
dẫn, dành quyền giới thiệu những sửa đổi được Tòa Thánh
đánh giá là thích hợp. Trong khi chờ đợi, nói chung sẽ rất tốt
cho các giám đốc nại đến các Giám tỉnh mỗi khi họ cần nhân
sự, một số hỗ trợ tài chính cụ thể hoặc khi họ gặp khó khăn với
các nhà chức trách giáo hội hoặc dân sự. Tôi tin rằng với hết
lòng sốt sắng các Giám tỉnh sẽ giúp đỡ người phụ thuộc của họ
và nếu đôi khi họ không thể làm như vậy, ít nhất họ sẽ trấn an
các giám đốc rằng họ sẽ cầu viện đến Tu Nghị Bề trên để có
được những gì bản thân họ không thể cho. Các điều mà cá nhân
hội viên tin rằng mình phải xin phép, cũng sẽ được các Giám
tỉnh lo liệu. Tôi chân thành hy vọng rằng về phần các Giám tỉnh
538 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 20 tháng Giêng, 1902, trong FdR
4243D4.

41.9 Page 409

▲torna in alto
Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 và Năm 1904 | 409
có sự cam kết thực hành sự dịu dàng và dễ mến mà Don Bosco
là thầy dạy của chúng ta, và về phần các hội viên, nỗ lực liên
tục để thấy nơi các bề trên là người của Chúa Giêsu Kitô. Bằng
cách này, giữa các bề trên và người phụ thuộc sẽ có những mối
quan hệ gần gũi và thân mật, bảo đảm cách quản trị tốt của Tu
hội và sự bình an của mỗi thành viên.’539
Tổng Tu Nghị Thứ Mười làm cho Tu hội Salêdiêng linh hoạt hơn,
mạnh mẽ hơn và thậm chí gắn bó hơn với Don Bosco. Sự phân quyền
trong việc quản trị là việc làm quan trọng nhất trong nhiệm kỳ của
cha Rua. Do đó, Tu hội sẽ có thể đối mặt với ít rủi ro hơn trong việc
mở rộng ở các quốc gia mà nền văn hóa của họ không phải từ Ý.
539 L.C., 323-324.

41.10 Page 410

▲torna in alto
410 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
VẤN ĐỀ XÃ HỘI
28
‘Rerum novarum’
Thời gian cha Rua làm Bề trên Cả được đánh dấu bằng việc công
bố và áp dụng thông điệp nổi tiếng của Đức Lêô XIII, Rerum novarum,
ngày 15 tháng Năm năm 1891.
Vào cuối thế kỷ ngành công nghiệp trên đà gia tăng; các thị trấn
và các khu vực thuộc tầng lớp lao động dần mở rộng, trong khi các
nước tự do hầu như không cảm thấy cần phải ban hành luật xã hội.
Cuộc suy thoái năm 1885-1890 đã nhấn mạnh rõ ràng tính cấp bách
của cái gọi là ‘vấn đề xã hội’: tầng lớp lao động đã nhận thức được
sức mạnh của mình và kết quả là bắt đầu tự tổ chức. Vào năm 1884,
ở Pháp, rốt cục hệ thống công đoàn đã được cho phép. Chủ nghĩa
xã hội phát triển với sự thành lập Quốc tế Công nhân lần thứ hai vào
năm 1890. Người Công giáo lo lắng hơn cả với vấn đề chính trị: họ
có nên chiến đấu để phục hồi Ancien Régime [Chế độ cũ] hay chấp
nhận một chế độ tự do thế tục? Ở bình diện xã hội, nhiều người hài
lòng làm giảm bớt những thiếu sót của chủ nghĩa tự do bằng những
công việc bác ái, ‘chủ nghĩa gia trưởng’ của các tầng lớp thượng lưu.
Hẳn nhiên, Don Bosco, một nhà truyền giáo vĩ đại về lòng bác ái và
bố thí đối với người nghèo, vẫn kiên định trong quan điểm lịch sử
tĩnh tại này về phía người giàu và những người bạn bảo thủ và phản
cách mạng của ngài.
Việc ban hành Thông điệp Rerum novarum mang lại men mới cho
thế giới Công giáo. Văn bản được chia thành bốn phần: phê phán
chủ nghĩa xã hội; Giáo huấn của Giáo hội; vai trò của Nhà Nước; tầm
quan trọng của các hiệp hội tự do. Một số định hướng cơ bản xuất
phát từ nó:
1. Xã hội kinh tế phải dựa trên quyền tư hữu, doanh nghiệp tự
do và thương mại, trái với chủ nghĩa xã hội sẽ mở ra cánh cửa

42 Pages 411-420

▲torna in alto

42.1 Page 411

▲torna in alto
Vấn Đề Xã Hội | 411
‘ghen tị, công kích lẫn nhau, và gây bất hòa; tự nguồn của cải
sẽ cạn kiệt, vì không ai quan tâm đến việc sử dụng tài năng
hay sự siêng năng của mình’; thực vậy, ‘tài sản tập quyền [...]
chỉ làm thiệt hại những người mà có vẻ như nó phải giúp đỡ
nhiều nhất’ (số 15).
2. Chủ nghĩa tư bản không thể là một luật cho chính mình: nền
kinh tế phải phụ thuộc vào đạo đức. Người ta phải từ bỏ một
thái độ ‘laisser faire/mậu dịch tự do’ đơn giản, cách hoạt động
tự do của ‘luật tự nhiên’, như thể ‘bàn tay vô hình’, thân thiết
với Adam Smith, sẽ tự động bảo đảm kết quả xã hội tốt nhất.
"Người lao động và người chủ hãy thỏa thuận tự do, và đặc
biệt họ hãy tự do thỏa thuận mức lương; tuy nhiên, ẩn dưới
đó một sự bức chế công lý tự nhiên cấp thiết và và cổ xưa hơn
bất kỳ sự mặc cả nào giữa người với người ..." (số 45). Có một
mức lương chính đáng; và công bằng phải chiếm ưu thế hơn
kinh tế.
3. Biểu hiện thực sự đầu tiên của kỷ luật đạo đức là pháp lý do
Nhà Nước cung cấp, sự can thiệp của họ được các phần tử yếu
nhất của xã hội mong đợi trên hết. ‘Tầng lớp giàu hơn có
nhiều cách che chắn bản thân, và ít cần Nhà Nước giúp đỡ,
trong khi đa số người nghèo không có nguồn lực của riêng họ
để dựa dẫm, và chủ yếu phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Nhà
Nước’ (số 37).
4. Để tránh sự thống trị của Nhà Nước, một hệ thống các hiệp
hội trung gian phải được hồi sinh. Trong thông điệp đó, các
tập đoàn thích nghi với thế giới đương đại được trình bày rất
chi tiết. Tuy nhiên, tư cách hội viên công ty không bắt buộc;
công dân được tự do cùng tham gia trong các hiệp hội mà
‘phải được tổ chức và quản lý để cung cấp phương tiện tốt
nhất và phù hợp nhất nhằm đạt được mục tiêu của họ’ (số
56). Trên hết hệ thống công đoàn phải là một sự lựa chọn tự
do. Đức Lêô XIII viết: ‘Thật phấn khởi khi biết rằng thực sự tồn
tại không phải chỉ một vài hiệp hội theo bản chất này, bao
gồm chỉ riêng công nhân, hoặc công nhân và người chủ với

42.2 Page 412

▲torna in alto
412 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhau, nhưng mọi người rất mong muốn những hiệp hội này
trở nên nhiều hơn và hiệu quả hơn '(số 56).
Cha Rua, Bề Trên Cả, là một người kỷ luật và không liên hệ gì đến
cách mạng, nhưng ngài luôn nhớ giáo huấn của Đức Lêô XIII về mức
lương xứng đáng và việc bảo vệ người nghèo.
Những công nhân Pháp hành hương đến mộ Don Bosco (1891)
Theo sáng kiến của Léon Harmel, Nghiệp đoàn ‘nước Pháp Lao
động’ ngay lập tức muốn đến Rôma để cảm ơn Đức Lêô XIII vì thông
điệp của ngài về các điều kiện của người lao động.540 Khi đề xuất
cuộc hành hương, ‘người Cha tốt lành’ Val de Bois đã viết trong thư
luân lưu ngày 2 tháng Tám năm 1891: ‘Liệu chúng ta không cảm
động khi nghe thấy lời kêu gọi thống thiết của Đức Lêô XIII sao?
Chúng ta chưa sẵn sàng để làm bất kỳ hy sinh nào hầu an ủi trái tim
ngài, để làm chứng trước toàn thế giới sự vâng phục của chúng ta
với tiếng nói của ngài sao? Nếu ai đó nêu lên vấn đề chi phí, chúng
ta sẽ nhắc họ đoạn viết về Maria Madalena. Chúng ta hãy đi thật
đông; chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu Kitô sống trong vị Đại diện
của Người. Chính ngài sẽ cứu chúng ta bằng công lý và tình yêu.’
Léon Harmel, một người bạn tuyệt vời của Don Bosco và cha Rua,
dự tính cho những người Pháp hành hương đi Rôma dừng chân ở
Torino tại phần mộ của Don Bosco. Sử biên niên nói với chúng ta
rằng ngày 1 tháng Chín ông đã đi đến Valdocco để ‘thực hiện các
thỏa thuận cuối cùng và chi tiết với cha Rua cho chuyến hành hương,
lên tới bảy chuyến tàu hỏa, từ Paris đến phần mộ của Don Bosco, lúc
đó là tại Valsalice.
Tất cả mọi thứ được tổ chức tuyệt vời. Dưới những cây cổ thụ ở
sân vườn của Valsalice, một người cung cấp thực phẩm từ Torino đã
dựng một phòng ăn ngoài trời, được chống nắng và những thay đổi
bất thường của thời tiết bằng một tấm bạt lớn. Có bốn chiếc bàn dài
được đặt ở góc bên phải phần mộ của Don Bosco; đối diện với nó là
chiếc bàn trên cùng được kê ngang qua những đầu bàn theo một
540 Ở đây chúng tôi theo bản tường thuật đầy đủ do Bollettino Salesiano cung cấp
(tháng Mười, 1891, 190-197) từ đó các phần trích được trích dẫn.

42.3 Page 413

▲torna in alto
Vấn Đề Xã Hội | 413
dãy dài. Ở đây những người hành hương có thể thư giãn trong lúc
dừng chân giữa Paris và Rôma. Sử biên niên kể cho chúng ta rằng:
‘Một thời gian dài trước đó, với một mối quan tâm hiền phụ thực sự,
chính cha Rua muốn tham gia tổ chức tốt đẹp bao có thể một buổi
tiếp đón xứng đáng với Đức Lêô XIII và nước Pháp. Ngày 17 tháng
Chín, ngày chuyến tàu đầu tiên được trông ngóng, ngài đặt câu hỏi
với mỗi người mà ngài đã giao phó việc thực hiện các mệnh lệnh của
mình, để tin rằng không gặp rủi ro gì. Cuối cùng, khoảng hai giờ
chiều ngài đến Valsalice và hài lòng khi thấy ngay cả những mong
muốn nhỏ nhất của ngài cũng đã được thực hiện từng chi tiết một.
Những người hành hương có thể đến: mọi thứ đã sẵn sàng để nồng
nhiệt chào đón họ.541
Thật vậy, 464 người hành hương trong chuyến hành trình đầu tiên
này nhận thấy mọi thứ được tổ chức tới mức hoàn hảo: trước hết là
tại ga Porta Nuova, sau đó dọc theo hành trình đến Valsalice, đến
thời điểm nhạc mừng chào đón của các đoàn đại biểu công nhân
Torino xếp hàng dưới cổng của ngôi nhà, tới bài hát Magnificat trong
nhà nguyện ... Ở nơi họ ăn tối, trên chiếc bàn trên cùng có một tấm
biểu ngữ hoành tráng tuyên bố: ‘Gửi tới các công nhân Pháp lời chào
mừng, nhìn nhận và tôn trọng từ những người con của Don Bosco.’
Bữa ăn được ngắt quãng một cách tự nhiên với nhiều bài phát biểu
khác nhau. Chúng tôi chỉ có một bản tóm tắt sơ sài về sự can thiệp
của cha Rua:
Khi gợi nhớ rằng lao động và người công nhân, từ quan điểm
Kitô giáo, luôn là trọng tâm của những mối quan tâm linh mục
của Don Bosco và trở thành raison d’être [lẽ sống] trong gia đình
tu trì của ngài, cha Rua vui mừng khi nhìn thấy tinh hoa của lực
lượng lao động Pháp tại phần mộ của Don Bosco. Lời cầu
nguyện của những người lao động từ rất xa đến đây sẽ thắt
chặt hơn nữa mối liên kết hợp nhất Pháp và Don Bosco và tất
cả những công cuộc mang dấu ấn đức tin của ngài. Cha Rua
sau đó yêu cầu những người hành hương dâng lên Đức Giáo
Hoàng lòng tôn kính sâu sắc và mộ mến vô hạn của Tu hội
541 X. Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1892, 192.

42.4 Page 414

▲torna in alto
414 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Salêdiêng. Trước tất cả mọi người và các anh em người Ý của
họ, ngài kết thúc bằng việc nhận tước hiệu chủ tịch danh dự
của mình trong một phần của Giới Công giáo ở Torino, để hết
lòng hoan nghênh, Ba lần hoan hô Đức Lêô XIII, vị Giáo Hoàng
của công nhân!542
Lúc 5 giờ, cả nhóm trở về nhà ga. Ban nhạc chơi khi những người
hành hương lần lượt đi ra, và nhận được ‘một sự hoan hô thực sự’ từ
những vị khách Pháp quốc này.
Những cảnh tượng giống hệt vậy được lặp lại cho những chuyến
tàu khác chở khách hành hương Công giáo đi Rôma, trong suốt mùa
thu năm 1891. Ngày 15 tháng Mười, Léon Harmel đến Torino lần
nữa để cảm ơn những người Salêdiêng vì đã chào đón các cuộc hành
hương của người lao động. Ngày hôm sau, Il Corriere Nazionale tường
thuật bài phát biểu của Harmel vào cuối bữa tối được tổ chức cho
dịp này trong nhà mẹ của người Salêdiêng, trong đó ông rất vui khi
nhớ lại cách [các công nhân Pháp] đến Rôma đầy lòng biết ơn nhiệt
tình, nhớ đến sự chào đón trìu mến và huynh đệ tại Valsalice’.543
Những bài học từ Đại hội Bologna (1895)
Thông điệp Rerum novarum sinh hoa trái tại Đại hội Quốc tế đầu
tiên của các Cộng Tác viên Salêdiêng tổ chức tại Bologna vào năm
1895.544 Trọn một hội nghị được dành riêng cho vấn đề của người
lao động, xét từ quan điểm của các công nhân trẻ nhất, như có thể
dự kiến trong môi trường Salêdiêng. Sự phân tích tình hình đã được
trình bày trong mười điều cân nhắc; nó phản ánh quan điểm xã hội
của người Công giáo trung bình của thời đại về tình trạng trẻ em
trong các gia đình thuộc tầng lớp lao động trong một xã hội mà
phần lớn vẫn bao gồm những thợ thủ công, nhưng cũng là một xã
hội mà trong đó những ngành công nghiệp lớn đang bắt đầu tự
thành lập. Tóm lại, bảng phân tích cho thấy:
1) Việc giáo dục đầu tiên và hiệu quả nhất của giới trẻ được bảo
542 X. Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1892, 194.
543 X. Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1892, 196-197..
544 Đối với Đại hội này, xem chương 19 ở trên.

42.5 Page 415

▲torna in alto
Vấn Đề Xã Hội | 415
đảm bởi các bà mẹ Kitô hữu trong các gia đình đạo đức và lành
mạnh. 2) Hiện tại, đặc biệt trong các thành phố lớn, nhiều nơi ở
không có được sự bảo đảm như vậy, cả trong vấn đề vệ sinh cũng
như từ quan điểm đạo đức, chúng rất tồi tệ và gây chết người vì
chúng giết chết trẻ em cả xác hồn. 3) Hơn nữa, nhu cầu của nền công
nghiệp hiện đại buộc các bà mẹ lao động bỏ bê nhà cửa cả ngày để
không mất giờ ra khỏi các nhà máy, do đó cản trở họ thực hiện nhiệm
vụ tự nhiên là giáo dục con cái mình. 4) Các xưởng thợ nơi các công
nhân trẻ đến học nghề, không thể đóng góp cho họ được nền giáo
dục tốt trừ khi những người hướng dẫn họ được ‘thấm nhuần cảm
thức thánh thiện và tinh khiết về luân lý Kitô hữu'. 5) Ngày Chúa
nhật, ngày nghỉ ngơi, không chỉ là nhiệm vụ mà còn là quyền lợi của
người lao động. 6) Việc công nhân trẻ tham dự buổi dạy giáo lý
trong giáo xứ của họ vào các Chúa nhật là ‘phương cách chắc chắn
nhất để củng cố nền giáo dục tốt mà họ nhận được ở nhà’. 7) Một
thực tế hiện nay ai nấy đều biết: phần lớn các bạn trẻ thuộc các tầng
lớp lao động, ngay cả khi họ có các bà mẹ Kitô giáo, hầu như đều
bỏ việc giữ đạo sau khi rước lễ lần đầu, vì họ bị bạn bè xấu làm cho
hư hỏng hoặc vì những cớ vấp phạm mà họ chứng kiến. 8) Những
thanh niên này, và tệ hơn, những người không được cha mẹ chăm
sóc vì bị công việc cản trở hoặc vì thiếu những cảm xúc Kitô hữu, bị
phó mặc để tự xoay sở hoặc được giao cho người chủ không tôn
trọng họ, và rồi không được giáo huấn đủ, họ quên đi những gì họ
đã học khi còn nhỏ; ‘họ lớn lên mà không biết gì về Thiên Chúa và
các nghĩa vụ công dân và Kitô hữu của mình.’ 9) Hậu quả là, những
người vốn sẽ hình thành thế hệ tương lai, sẽ lại chỉ là Kitô hữu trên
danh nghĩa, thiếu ánh sáng và niềm hy vọng Kitô hữu và do đó chắc
chắn coi thường những luật thánh thiện và phổ quát nhất và gia tăng
tầng lớp ‘của những đám đông vốn là mối nguy hiểm và đe dọa đến
xã hội dân sự’. 10) Chỉ có bác ái Kitô giáo, được cổ vũ bởi tinh thần
hy sinh và quên mình, mới có thể làm trệch hướng sự bất hạnh như
vậy ‘bằng sự chăm sóc kiên nhẫn và sự siêng năng thánh thiện''.545
545 Atti del primo Congresso Internazionale dei Cooperatori Salesiani, Torino, Tipografia
Salesiana, 1895, 186-187

42.6 Page 416

▲torna in alto
416 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Dựa trên những nhận xét này, Đại hội đã trình bày mười một đề
nghị được đánh dấu bằng một tinh thần gia trưởng nhất định, không
màu mè vào thời điểm đó, và ít nhiều dựa trên thông điệp. Chúng
theo bản chưa được rút gọn:
Đại hội đưa ra các đề nghị:
Các Cộng Tác viên Salêdiêng nối kết với tất cả những người có
trái tim nhân hậu và thiện chí để bất cứ khi nào có thể, đạt được
sự lập pháp hầu làm dịu bớt các nhu cầu của những ngành công
nghiệp lớn, hòa hợp các lợi ích thực sự và hợp pháp của họ với
nghĩa vụ tôn trọng quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của tư cách
làm mẹ;
Họ ủng hộ các hiệp hội đó để cải thiện nhà ở cho tầng lớp lao
động;
Họ dùng ảnh hưởng của mình trong việc sắp đặt trẻ em thuộc
tầng lớp lao động bị bỏ bê hoặc bị bỏ rơi vào các nhà trẻ, tốt
nhất là ở những nơi được tu sĩ điều hành, khi nền giáo dục có
lợi đầu tiên bởi người mẹ trong gia đình trở thành không thể
được;
Họ làm hết sức mình để đặt công nhân trong những nhà máy
mà các quy tắc của đức tin và luân lý Kitô hữu được tôn trọng;
Các Cộng Tác viên Salêdiêng là người chủ hoặc người đứng đầu
các xưởng thợ quan tâm đến những thiếu niên học nghề được
giao phó cho mình như thể chúng là con cái của họ, và cho
chúng mẫu gương về một đời sống Kitô hữu thật sự;
Vì vậy, họ chăm lo, không chỉ đến việc hướng dẫn kỹ thuật mà
còn cả về giáo dục tôn giáo và đạo đức cũng như về vệ sinh cơ
thể của các em;
Họ cổ xúy việc tuân thủ ngày nghỉ và việc thánh hóa ngày Chúa
nhật và những ngày thánh, hỗ trợ tốt nhất bao có thể các sáng
kiến trong vấn đề này được những người khác thực hiện;
Do đó họ để tâm đến các công nhân trẻ tham dự các buổi giáo
lý ở giáo xứ, các Nguyện xá ngày lễ và các lớp học Công giáo

42.7 Page 417

▲torna in alto
Vấn Đề Xã Hội | 417
buổi tối, lo sao để họ chu hoàn nghĩa vụ tôn giáo của họ;
Thay vì để những người trẻ bị vấp phạm vì ngôn ngữ bẩn thỉu,
phạm thánh hoặc say sưa, bằng lời nói và gương sáng họ sẽ
khắc sâu trong chúng niềm kính trọng Thiên Chúa và bản thân
họ, tránh biếng nhác và yêu thích làm việc;
Họ sẽ bảo người trẻ ngay từ thời niên thiếu ghi danh vào các
chương trình Công giáo tương trợ và kế hoạch bảo hiểm và tập
cho họ thói quen tiết kiệm để họ có thể không thiếu những nhu
cầu cần thiết trong cuộc sống trong trường hợp bệnh tật, bất
hạnh và tuổi già;
Cuối cùng, khi quyết định tiền lương cho công nhân của họ, họ
sẽ tuân theo các nguyên tắc đã được Đức Thánh Cha Lêô XIII nêu lên,
trong thông điệp Rerum novarum.546
Không có gì là cách mạng trong những đề nghị này mà giọng điệu
chỉ mang tính răn dạy. Từ ‘công bằng' không hề xuất hiện; chính
cảm thức bác ái chiếm ưu thế. Thậm chí không hề đề cập đến việc
cấm thuê mướn trẻ em trong các nhà máy, cũng không giảm giờ
trong ngày làm việc mà tại thời điểm đó nói chung là mười tiếng
rưỡi hoặc thậm chí mười một tiếng rưỡi một ngày. Chỉ có đề nghị
đầu tiên hơi hé mở cánh cửa theo nghĩa này. Hội nghị này được cha
Rua chủ trì; nó là một dấu hiệu của thiện chí tốt đẹp đối với những
người lao động trẻ, thường bị những người chủ vốn không quan tâm
đến việc học của họ bỏ bê.
Hiệp hội Quốc gia Bảo vệ và Tương Trợ của các Nữ Công nhân
trẻ
Chính trong những năm đó mà cha Rua, với sự giúp đỡ của
Cesarina Astesana (1858-1946), đã tạo ra một Hiệp hội Tương Trợ
cho các Nữ Công nhân trẻ Công giáo.547 Cesarina Astesana không lập
gia đình, là một người Công giáo tự tin và mạnh dạn; bà tỏ ra phiền
546 Atti del primo Congresso Internazionale dei Cooperatori Salesiani, Torino, Tipografia
Salesiana, 1895, 187-188.
547 Thông tin không chắc chắn trong Auffray, 252-257; chắc chắn hơn trong Ceria,
Vita, 437-438.

42.8 Page 418

▲torna in alto
418 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
muộn vì hoàn cảnh của các thợ may và các công nhân nữ khác ở
Torino. Giờ giấc làm việc của các thợ may rất linh động, tùy thuộc
vào đơn đặt hàng và thời hạn hoàn thành chúng. Công việc thường
bị kéo dài đến ban đêm và tiếp tục vào các ngày Chúa nhật nếu khách
hàng yêu cầu. Tình trạng thể chất và tinh thần của họ khiến bà lo
lắng rất nhiều. Với sự giúp đỡ của một số người hào phóng, Cesarina
thành lập một Nguyện xá, do đó đáp ứng được một trong những
yêu cầu theo như họ mong muốn. Cha Rua, người mà bà đã đến xin
lời khuyên, không hài lòng với việc đưa ra những đề xuất đơn thuần,
ngài gửi tới cho bà các linh mục để cử hành Thánh Lễ và huấn đức.
Thực vậy, buổi huấn đức thành công nhất do cha Têphanô Trione
giảng trong nhà thờ Thánh Barbara, làm cho nhà thờ thành quá nhỏ
so với đám đông tham dự. Vị giảng thuyết làm mê hoặc công chúng.
Vì vậy, ngay tại đó, một Hiệp hội Tương Trợ cho các Nữ Công nhân
Công giáo trẻ được thành lập. Năm sau, cha Rua đã thành công trong
việc yêu cầu Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu dành hai ngôi nhà
của họ cho các công nhân trong suốt mùa hè, tại Giaveno ở chân dãy
núi Alps, và tại Varazze trên Riviera, để các nữ công nhân trẻ có thể
hít thở không khí trong lành trên núi hoặc biển cả trong một vài
ngày.
Cesarina mở rộng công việc của mình ra khỏi Torino. Bà tìm sự hỗ
trợ và cha Rua giúp bà. Năm 1904 ngài viết cho Giám đốc của cộng
đoàn ở Florence ‘Về cô Astesana,' “cha có thể bảo đảm với Nữ Bá
tước Alfieri rằng cô ấy là một người đáng tin cậy nhất. Cô đang làm
một dự án rất đáng quan tâm đối với những người tốt; cụ thể là bảo
vệ những nữ công nhân trẻ, bảo đảm rằng họ được nghỉ vào Chúa
nhật, và ngăn ngừa không để họ bị khai thác do làm việc quá độ gây
thiệt hại cho sức khỏe thể chất và đạo đức của họ, v.v’ Với sự động
viên của Đức Hồng y Richelmy và phép lành của Đức Giáo Hoàng,
công cuộc ấy lan truyền và củng cố lợi ích của các công nhân trẻ. Khi
gặp khó khăn, Cesarina Astesana cậy nhờ đến cha Rua vốn là người
không bao giờ bỏ mặc không tư vấn và hỗ trợ bà. Năm 1901, Hiệp
hội Quốc gia Bảo vệ và Tương Trợ các Nữ Công nhân Trẻ ra đời. Đến
năm 1906 đếm được 1505 nữ bảo trợ và 15.168 công nhân và vào
năm 1910, khi cha Rua qua đời, con số ấy đã tăng gấp ba lần.

42.9 Page 419

▲torna in alto
Cuộc đình công ở nhà máy Anselmo Poma
Vấn Đề Xã Hội | 419
Tuy nhiên, các đề xuất trong Rerum novarum được thực hiện chậm.
Những năm đầu của thế kỷ đã được đánh dấu bởi sự xáo trộn trong
các khu vực được công nghiệp hóa. Những người theo chủ nghĩa xã
hội đã đúng đắn yêu cầu giảm giờ làm việc trong các nhà máy. Quốc
hội Ý tranh luận các vấn đề về việc làm của người phụ nữ và lao động
trẻ em. Các công nhân đình công khi họ tin điều đó cần thiết. Nhưng
nghiệp đoàn Kitô hữu không dễ dàng chịu nhượng bộ sự ép buộc
của họ. Về vấn đề này, những khó khăn gặp phải ở Torino trong nhà
máy dệt Anselmo Poma giữa tháng Năm và tháng Bảy năm 1906 là
nổi bật và từ một quan điểm nhất định, cha Rua cũng tham gia.548
Anselmo Poma là một người bạn tuyệt vời của cha Rua. Nhà máy
bông của ông ở ngoại ô Valdocco đã thuê hàng trăm công nhân, cả
nam và nữ. Lúc đầu nổi lên vấn đề về giờ làm việc, sau đó là tiền
lương. Trong nhà máy Poma, một ngày làm việc gồm mười một tiếng
rưỡi. Tháng Năm năm 1906, với sự hỗ trợ của Phòng Công nghiệp
thuộc thành phố và các công đoàn của họ, các công nhân yêu cầu
giảm xuống còn mười tiếng, như trong các nhà máy khác. Nhà tư
bản công nghiệp chấp nhận việc cắt giảm giờ, nhưng đến lượt ông
ta yêu cầu cắt giảm tiền lương của công nhân theo mức tương ứng.
Sau nhiều nỗ lực không kết quả để giữ ở mức lương hiện tại, các
công nhân đã đình công. Anselmo Poma, một nhân vật ngạo mạn,
bám chặt quyền lực của mình và tuyệt đối từ chối không chịu bị tác
động. Các người đình công chống lại và phản đối không trở lại làm
việc.
Cha Rua cố gắng xoa dịu nhà tư bản công nghiệp, cố thuyết phục
ông ta đừng cứng rắn trong cương vị của mình và chỉ ra các nhu cầu
của công nhân là hợp lý. Để không làm giảm uy tín của ông ta, như
một giải pháp thỏa hiệp, ngài đề nghị rằng Poma nên giao phó các
cuộc đàm phán cho các con trai của mình. Theo Amadei, cha Rua
548 Bản tường thuật chi tiết và quá mức trong Amadei III, 247-254, có lẽ không
hoàn toàn chính xác. Ở đây chúng tôi theo bản tường thuật rõ ràng hơn và có thể
tin hơn trong in Ceria, Vita, 433-437.

42.10 Page 420

▲torna in alto
420 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
viết cho Poma ngày 29 tháng Năm năm 1906:
Ông Poma thân mến,
Tôi rất quan tâm đến vấn đề khiến ông lúc này đang lo lắng.
Tôi cập nhật tình hình những gì đang xảy ra. Tôi nghe nói
những tình cảm xấu vẫn dai dẳng với đa số công nhân. Thứ
năm vừa qua [ngày 24 tháng Năm, Lễ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu] như tôi đã nói với ông, tôi nhận thấy sức khỏe của ông
đang bị tổn hại. Ông hãy kiên nhẫn; ông hãy đi xa vài ngày; ra
khỏi Torino. Ông có những người con trai rất thông minh và rất
đáng mến, các cậu ấy có thể đại diện cho ông rất tốt; ông hãy
cho các cậu ấy bất kỳ hướng dẫn nào ông xét là cần thiết: các
cậu ấy sẽ cập nhật cho ông những gì xảy ra. Trong lúc chờ đợi,
ông hãy quên chuyện rùm beng này đi. Xin hãy nhận sự tôn
trọng của tôi và trong khi tôi cầu xin Chúa cho ông bình an và
tĩnh lặng, hãy tin tôi là đầy tớ và bạn hữu rất thân mến và biết
ơn của ông.
Cha Micae Rua.549
Cha Rua cập nhật thông tin qua cha Rinaldi, Vị Phó Tổng Bề trên
của ngài, người rất khéo léo đảm nhiệm làm trung gian với nhà tư
bản công nghiệp. Tuy nhiên, Poma không tin mình phải chịu theo
các đề xuất của cha Rua. Chẳng ích lợi gì lặp đi lặp lại cho công nhân
rằng hệ thống tiền lương sẽ được dàn xếp một khi việc giải quyết
hành chính bắt buộc được sẵn sàng, họ sẽ không có nó. Ít nhiều
mang tính bạo lực, cuộc đình công tiếp tục. Ngày 19 tháng Sáu, một
cuộc trưng cầu dân ý giữa các công nhân đã gần như nhất trí chấp
thuận nó. Các yếu tố lật đổ đã xâm nhập vào đa số công nhân và
thổi bùng lên. Họ từ chối các giải pháp hòa bình và yêu cầu giải
quyết bất đồng. Phòng Công nghiệp, bị các nhà theo chủ nghĩa xã
hội chi phối, ủng hộ họ. Cơn giận dữ dâng cao trong các cuộc họp.
Nhà máy bị bao vây theo nghĩa đen. Những cá nhân mạnh mẽ sẵn
sàng cầm đá đuổi theo những người muốn quay trở lại làm việc.
Trong khi đó, cha Rua tiếp tục trò chuyện với Anselmo Poma. Ngài
549 Amadei, III, 249.

43 Pages 421-430

▲torna in alto

43.1 Page 421

▲torna in alto
Vấn Đề Xã Hội | 421
thuyết phục nhà tư bản công nghiệp đưa ra lời kêu gọi các phụ nữ,
với lời hứa công bằng, nếu họ trở lại làm việc. 650 người đồng ý,
được Cesarina Astesana khuyến khích và ủng hộ. 150 người nam
cũng quay trở lại. Sau đó, những công nhân và người đình công đã
lâm vào một trận chiến thực sự, ngày và đêm. Những phụ nữ không
đình công dựng trại bên trong nhà máy. Amadei mô tả sự nguy hiểm
của việc kháng cự. Phòng Công nghiệp hỗ trợ tài chính cho các người
đình công và thúc giục họ tiến lên chiến đấu bằng bất cứ giá nào. Ở
phía bên kia, người chủ không nhượng bộ và sẽ gửi tiền cho cha Rua
để hỗ trợ các nữ công nhân nhốt mình trong nhà máy. Vào Chúa
nhật, ngày 8 tháng Bảy, một linh mục từ giáo xứ đã cử hành Thánh
Lễ tại đó với sự hiện diện của ông Poma.
Trong khi tất cả việc này đang xảy ra, các công nhân trong thành
phố, liên đới với đồng nghiệp của họ, đe dọa tổ chức một cuộc tổng
đình công. Tại thời điểm này, các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa xã
hội trở nên lo ngại về những rắc rối có thể xảy ra và tự tuyên bố sẵn
sàng yêu cầu mọi người trở lại làm việc với điều kiện rằng quyết định
đó xuất phát từ chính Phòng Công nghiệp. Vì vậy, vào giữa tháng
Bảy tình thế bị bế tắc, không bên nào chịu nhúc nhích. Tuy nhiên,
nhờ cha Rua dàn xếp, một giải pháp cuối cùng đã trở nên rõ ràng.
Ngày 17 tháng Bảy, tờ báo cánh hữu Il Momento, đưa tin một bức
thư của ngài, kèm theo một tuyên bố từ Anselmo Poma.
Bức thư gửi cho chủ bút viết như sau: ‘Với hy vọng trả lại sự bình
thản nào đó cho những tâm hồn đã giận dữ quá lâu cũng như kết
thúc một tình huống gây tổn hại nghiêm trọng đến tầng lớp lao
động, tôi tìm đến ông Anselmo Poma xin ông giải thích ý định liên
quan đến những nữ công nhân của ông. Ông ấy đã cho tôi câu trả
lời mà tôi truyền đạt lại cho quý vị ở đây. Tôi chắc chắn rằng việc
đưa tin này sẽ tạo thuận lợi cho giải pháp, mà tất cả chúng ta đều
mong muốn, về vụ tranh chấp đáng buồn này. Tin chắc rằng quý vị
sẽ chia sẻ với tôi tình cảm nhân đạo này, nên tôi có vinh dự ... v.v.
Thư của Anselmo Poma: tiếp theo. Khi trở lại làm việc, với tình
trạng nhà máy bị sa sút thê thảm, xưởng ấy không thể không cần
đến việc chọn lựa dần dần những công nhân mà nó cần. Những

43.2 Page 422

▲torna in alto
422 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhượng bộ được thực hiện, để thỏa mãn những người nam nữ đã
làm việc ở đó từ ngày 8 tháng Bảy trở đi, có thể được mở rộng cho
tất cả những ai muốn quay trở lại. Những nhượng bộ như vậy rõ
ràng có nghĩa là tăng tỉ lệ trong quá khứ khoảng 5 phần trăm cho
các thợ dệt, thợ xe sợi và một số thợ cuốn chỉ.
Ngày hôm sau, cha Rua gửi một bức thư khác cho chủ bút tờ Il
Momento, thông báo rằng công ty đã đồng ý phục hồi tất cả các công
nhân, luôn luôn ghi nhớ các tiêu chuẩn đạo đức theo yêu cầu khi
nhận người vào. Khoảng 200 khung cửi dệt với 100 thợ dệt và 100
thợ cuốn chỉ đã không hoạt động tại thời điểm này nhưng hy vọng
sẽ sớm hoạt động lại. Cuối cùng, tùy vào hành vi tốt của họ, không
một công nhân nào sẽ bị loại vì đã tham gia vào cuộc đấu tranh. Il
Momento viết thêm những suy nghĩ này:
‘Chúng tôi, những người luôn bảo vệ vụ việc của tự do và công
bằng, công khai chống lại mọi hành vi mưu hại lạm dụng quyền lực,
rất vui mừng với giải pháp khôi phục sự hòa hợp giữa một nhà tư
bản công nghiệp tầm cỡ và công nhân của ông ấy, và đồng thời thưa
nhận công việc tốt lành của cha Rua, vị linh mục đáng kính, và thất
bại của Phòng Công nghiệp và những đại diện bạo lực của nó.’550
Vì vậy, ngày 19 tháng Bảy, Anselmo Poma đã có thể chứng kiến
đoàn diễu hành của hơn 900 nữ công nhân trở về nhà máy sau khi
tạm dừng gần hai tháng. Ngày 21 tháng Bảy tất cả các khung cửi
dệt đều hoạt động vì tất cả các công nhân đã quay trở lại ngoại trừ
những người đã tìm được việc ở nơi khác.
Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau trong nhiệm kỳ của mình, cha
Rua đã tìm cách bảo vệ và tôn vinh tầng lớp lao động. Lý tưởng của
ngài chắc chắn là một xã hội phân cấp, như được mong đợi vào thời
điểm đó, nhưng là một xã hội được thống nhất bởi mỗi người cảm
thông tốt đẹp lẫn nhau. Các mối quan hệ của con người phải được
điều chỉnh bởi công lý vốn phải luôn thấm nhuần với lòng bác ái.
550 X. bản sao các bản thảo các thư của Cha Rua gửi cho tờ báo (16 và 17 tháng
Bảy) trong FdR 3926B3-4. Phần trích dẫn được lấy từ Amadei III, 252-253.

43.3 Page 423

▲torna in alto
29
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 423
Con Đức Mẹ
Phù Hộ Các Giáo Hữu
Hướng dẫn Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo hữu
Cho đến năm 1906, theo Hiến Luật của mình, Tu hội Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo hữu phụ thuộc trực tiếp vào ‘Bề Trên Tổng Quyền
của Tu hội Thánh Phanxicô Salê mà họ gọi là Bề Trên Cả’ (chương II,
khoản 1). Tất nhiên, Tu hội ấy được một Tu Nghị Bề trên cai quản và
hướng dẫn gồm có chị Bề trên Tổng quyền, chị phó Bề trên, quản lý
và hai trợ lý nhưng ‘phụ thuộc vào Bề Trên Cả của Tu hội Salêdiêng’
(chương VI, khoản 1).
Do đó, cha Rua là Bề trên Tổng quyền của Tu hội đó và phải chăm
sóc để nó hoạt động tốt đẹp cả về vật chất lẫn tinh thần. Mẹ
Catherine Daghero (1856-1924), Bề trên Tổng quyền kể từ khi Thánh
nữ Maria Domenica Mazzarello qua đời, đã thực hiện nhiệm vụ của
mình rất tốt. Dưới sự cai quản khôn ngoan của mẹ, Tu hội ấy đã phát
triển vượt bậc. Như mẹ đã làm trong thời của Don Bosco, Mẹ Tổng
Quyền luôn tìm đến cha Rua trong những lúc khó khăn. Mẹ tìm kiếm
lời ngài khuyên về việc mở nhà và các sứ vụ; được ngài giúp đỡ, mẹ
soạn các thỏa thuận với các chức sắc dân sự và giáo hội và với các
ban quản trị khác nhau.
Hệ thống này tôn trọng quyền tài thẩm của các Giám mục chứ
không chắn lối nó. Cha Rua luôn luôn thận trọng ở điểm này và tiếp
tục với sự khéo léo tối đa. Đúng như cha Ceria đưa ví dụ về một bức
thư cha Rua gửi năm 1901 cho cha Giám tỉnh Giuse Vespignani ở
Argentina. Cha Vespignani đã hỏi ngài rằng bản thân cha phải xử lý
thế nào về những vấn đề mà các Nữ tu gặp phải với Đức Tổng Giám
mục Buenos Aires và về việc cấp phép mà ngài yêu cầu. Cha Rua trả

43.4 Page 424

▲torna in alto
424 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lời: ‘The modus tenendi mà tôi đề nghị là giải quyết thật đơn giản với
Đức Tổng Giám mục, để có được tất cả những sự cấp phép mà ngài
sẵn sàng cho, kính cẩn tuân thủ những đòi hỏi của ngài và tránh mọi
tranh cãi. Tôi đã xử lý với những người khác theo cách này. Chúng
ta ở đó để giúp các Giám mục, các Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu
ở đó để giúp chúng ta và làm cho các thiếu nữ những gì mà những
người Salêdiêng làm cho các thiếu niên. Vì các Nữ tu phải được huấn
luyện theo tinh thần Đấng Sáng lập, Cha chúng ta và cha của họ, tôi
tin rằng cũng như chúng ta, các Giám mục sẽ rất sẵn sàng hỗ trợ họ
để làm được một chút việc tốt cho giới trẻ nghèo vốn là đối tượng
chúng ta chăm sóc. Vì vậy, cha hãy cố hết sức thực hiện với sự đơn
sơ và thận trọng, hết mực tôn trọng thẩm quyền của các Giám mục,
bởi vì theo tôi đây là cách hành động tốt nhất’.551
Do đó Tu hội ấy tiếp tục phát triển dưới sự che chở của người
Salêdiêng vốn bảo vệ nó khỏi những nguy hiểm, những bất trắc, sự
bỏ rơi và các vấn đề tài chính. Người ta cho rằng sự hỗ trợ tử tế và
liên tục này một cách hiệu quả tạo thành ‘điểm mấu chốt để Tu hội
đó tồn tại’.552 Sự hướng dẫn được người Salêdiêng đưa ra không bao
giờ cản trở Tu hội ấy hoạt động tự do trong nội bộ. Phải hơn, nó
giúp sản sinh ra kết quả tốt nhất. Các số liệu thống kê tự nói lên điều
đó. Khi Mẹ Daghero trở thành bề trên vào năm 1881, có 202 thành
viên khấn với 77 tập sinh trải rộng ở 32 trung tâm. Vào năm 1906,
năm chứng kiến sự chia tách của hai hội dòng, số lượng người khấn
đã lên đến 2354, có 312 tập sinh và 272 nhà. Là Bề Trên Cả của các
Nữ tu, cha Rua coi việc chăm sóc tinh thần của nhánh nữ thuộc Tu
hội Salêdiêng là một trong những nhiệm vụ chính của ngài. Ngài
khuyến khích các Nữ tu khi thường xuyên viếng thăm nhà mẹ tại
Nizza Monferrato vào những dịp đặc biệt như tiếp nhận vào tập viện
và tuyên khấn. Ngài cũng có mặt trong các buổi tĩnh tâm và ít nhất
giảng vào buổi bế mạc. Trong suốt các cuộc hành trình khắp nước Ý,
Tây Ban Nha, Pháp hoặc Bỉ, ngài từng đến thăm các Nguyện xá ngày
551 M.Rua-G. Vespignani. Torino, ngày 12 tháng Chin, 1901, trong FdR 3945 B7-
8.
552 Ceria, Vita, p.405.

43.5 Page 425

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 425
lễ của họ, trường học và nhà trẻ. Ngài tu họp họ chung với người
Salêdiêng trong các buổi lễ hàng năm được tổ chức tại nhà thờ Đức
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu dành cho những người truyền giáo lên
đường đến châu Mỹ. Người ta cảm nhận được ngài hiện diện trong
những lá thư luân lưu với nội dung phong phú của ngài, mà đối với
những người đến sau, chúng hình thành nên nguồn chắc chắn nhất
lời giáo huấn của ngài (các mục trong sử biên niên, đặc biệt là những
gì được cha Amadei chuyển giao, có phần không đáng tin cậy).
Những thư luân lưu này cho chúng ta thấy ý định, ý tưởng và cảm
xúc của cha Rua liên quan đến Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Những thư luân lưu Cha Rua gửi cho Con Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu
Văn khố Trung ương Salêdiêng chứa 35 thư luân lưu của cha Rua
gửi cho Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.553 Chúng được viết chủ
yếu vào những dịp đặc biệt. Đọc thư, người ta nhận thức được Bề
Trên Cả quan tâm muốn cập nhật thông tin cho Tu hội. Ví dụ, ngày
24 tháng Tám năm 1888, cha Rua giới thiệu cho các Nữ tu cuốn sách
cầu nguyện mới; ngày 1 tháng Hai năm 1890, ngài kể lại buổi triều
yết với Đức Lêô XIII ngày 2 tháng Giêng; ngày 6 tháng Sáu cùng năm
đó, ngài thông báo cho họ về việc mở án phong chân phước của Don
Bosco và đề nghị cầu nguyện vào giờ kinh sáng và kinh chiều xin
được kết quả thuận lợi; ngày 29 tháng Sáu năm 1891, ngài cảm ơn
họ về những lời cầu chúc họ gửi vào ngày lễ bổn mạng của Bề Trên
Cả; ngày 21 tháng Mười Một, ngài giải thích công cuộc Salêdiêng sẽ
tổ chức mừng kỷ niệm ngân khánh như thế nào vào ngày 8 tháng
Mười Hai sau; ngày 19 tháng Ba, ngài nói với họ rằng Tổng Tu Nghị
Thứ Ba của họ sẽ được tổ chức vào tháng Tám ; ngày 25 tháng Ba
năm 1894, ngài ký lời mở đầu cho ‘những nghị quyết’ xuất phát từ
các Tổng Tu Nghị của họ. Ngài viết rằng đó là một tài liệu mà các
người sinh động địa phương nên học hỏi và bình luận với các Nữ tu;
ngày 16 tháng Bảy năm 1897, ngài nhấn mạnh đến ngày kỷ niệm
25 năm sinh nhật Tu hội (1872); vào ngày 15 tháng Mười, ngài
thông tri những ân huệ được Tòa Thánh ban cho vào những buổi
553 X. FdR 3987C8-3992B9.

43.6 Page 426

▲torna in alto
426 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
mừng kỷ niệm khác nhau nhân dịp đó; ngày 10 tháng Giêng năm
1898, ngài nhắc nhớ ngày giỗ lần thứ mười của Don Bosco; ngày 31
tháng Giêng năm 1899, ngài thông báo cho họ về buổi khai mạc
Tổng Tu Nghị Thứ Tư với việc bầu Tu Nghị Bề trên; ngày 21 tháng
Mười Một năm đó, ngài thông báo cha Gioan Marenco, Tổng giám
đốc của họ, sẽ thay thế cha Caesar Cagliero quá cố, Tổng Đại Diện ở
Rôma, trong khi cha Clement Bretto sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng
Giám đốc của Tu hội ấy; ngày 22 tháng Hai năm 1903, ngài nói về
lễ đội triều thiên long trọng cho bức ảnh Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu ở Torino vào tháng Năm năm sau là một sự kiện lớn cho toàn
thể Gia đình Salêdiêng; ngày 22 tháng Giêng ngài thông báo buổi
khai mạc Tổng Tu Nghị Thứ Năm vào mùa hè; cuối cùng ngày 29
tháng Chín, ngài cảm ơn họ vì lời chúc mừng và lời cầu nguyện của
họ trong ngày lễ Thánh Micae. Như thế rõ ràng là cha Rua đã đồng
hành với các Nữ tu Salêdiêng trong những sự kiện nổi bật trong đời
sống cộng đoàn của họ.
Ngài đặc biệt quan tâm đến sứ điệp hàng năm [Hoa Thiêng,
strenna] cho những người Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Tôi
không tìm thấy bất kỳ tài liệu nào trong những năm 1889 và 1891.
Vào năm 1890, chỉ có một lá thư luân lưu (6 tháng Giêng), dài bốn
trang về việc đọc sách tốt hay sách xấu, đặc biệt nhắm đến các giáo
viên.554 Tuy nhiên, từ năm 1892 trở đi, sứ điệp hàng năm của Bề
Trên Cả trở thành một điểm đặc trưng thường xuyên. Thoạt đầu, từ
1892 đến 1901, nó hình thành lời nói đầu cho các niên giám hàng
năm được xuất bản vào tháng Giêng. Tuy nhiên, bởi vì ngài là một
vị linh hướng tốt lành, ngài cảm thấy cần phải bày tỏ nhiều hơn, từ
năm 1902 đến 1905 các sứ điệp được in riêng để phân phối vào đầu
năm mới. Mỗi sứ điệp có một chủ đề trung tâm. Xin thứ lỗi nếu
chúng tôi trình bày chúng; tuy nhiên, chúng là một tài liệu thú vị
biểu lộ các mối quan tâm chính của cha Rua liên quan đến Con Đức
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Năm 1892, Bề Trên Cả nói đến Tu hội được mở rộng tuyệt vời, đó
là một dấu hiệu được Thiên Chúa bảo vệ. Năm 1893, ngài nhấn
554 FdR 3987D3-5.

43.7 Page 427

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 427
mạnh tình bác ái thật là cần thiết trong mỗi cộng đoàn, được gọi là
‘gia đình nhỏ’. Sau đó, vào năm 1894, ngài nhấn mạnh đoàn kết
giữa các bề trên và các Nữ tu quả là quan trọng. Năm 1895, ngài
chủ trương rằng ‘các Nguyện xá ngày lễ trong Tu hội phải được coi
là một trong những phương tiện chính yếu và hiệu quả nhất để đẩy
mạnh việc thiện và thực hành bác ái đối với người lân cận’. Khởi
điểm của ngài vào năm 1896 là vụ tai nạn đường sắt bi thảm ở
Braxin, trong đó Đức Giám mục Lasagna, thư ký của ngài, Mẹ Têrêsa
Rinaldi và các bạn đồng hành của Mẹ đã qua đời. Điều này khiến
ngài thúc giục: ‘Hãy sẵn sàng; thực vậy, Con Người sẽ đến lúc bạn
không ngờ nhất’ và ‘Chúng ta hãy làm điều tốt trong khi còn có giờ’.
Lá thư năm 1897 cổ vũ tuân thủ nghiêm chỉnh Luật Thánh và các
nghị quyết của Tổng Tu Nghị như ‘một món quà quý giá từ Chúa ...,
như người hướng dẫn trên con đường hoàn thiện của người tu sĩ ...
và mối dây hiệp nhất giữa tất cả các chị em’. Năm 1898, ngài nhắc
lại bài nói chuyện mà Don Bosco đã dành cho các Nữ tu đầu tiên vào
năm 1872 về việc bỏ ý riêng, cởi mở với các bề trên và sự khiêm tốn
của người tu sĩ. Năm 1899 chứng kiến ấn phẩm quyển đầu tiên trong
bộ sách Memorie biografiche và vì vậy ngài đã mời các Nữ tu trở nên
thấm nhuần với những ‘đức hạnh sáng ngời, đáng mến của Don
Bosco’. Trong Năm Thánh 1900 ngài kêu gọi họ thanh tẩy và thánh
hóa tâm hồn bằng cách tránh tất cả mọi tội cố ý và cẩn thận tuân
thủ Luật Thánh. Vào năm 1901 ngài trình bày một lời khuyến thiện
được suy nghĩ kỹ là sống trong sự thánh thiện trong thế kỷ mới, lấp
đầy trái tim với tình yêu Chúa Giêsu Kitô và mong muốn bắt chước
Người. Năm 1902 cha Rua nhấn mạnh đến đặc tính ‘vui vẻ thánh
thiện’ của tinh thần Don Bosco, một niềm vui không những làm cho
các Nữ tu hạnh phúc mà còn giúp họ trong việc phục vụ Thiên Chúa.
Năm 1903 ngài khuyến khích các Nữ tu bắt chước các đức tính của
Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đấng đã nói về chính mình: ‘Ta hiền lành và
khiêm nhường’ (Mt 11, 29). Chủ đề của năm 1904 là đời sống đức
tin; trên các trang giấy rải rắc những câu trích dẫn trong Kinh Thánh,
ngài khuyến khích Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo hữu nghĩ đến Thiên
Chúa suốt cả ngày. Cuối cùng, vào năm 1905, sứ điệp (Hoa thiêng,
strenna) được dành cho sự kiên nhẫn, một đức tính thường bị hiểu

43.8 Page 428

▲torna in alto
428 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lầm phải được nuôi dưỡng bởi đức ái. Khi quá trình chia tách đang
tiến hành vào năm 1906, cha Rua nghĩ là viết sứ điệp theo thông lệ
là không phù hợp.
Tất cả những lá thư luân lưu này đều tỏa ra tình hiền phụ. Cha
Rua ngỏ lời với họ là Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu ‘tốt lành’,
‘thân mến’, ‘rất thân mến’, và thậm chí là ‘rất đáng yêu’ ‘trong Chúa
Giêsu Kitô’. Và ngài kết thư ‘như người thân mến nhất của các con
trong Chúa Giêsu Kitô’ (31 tháng Mười Hai năm 1903) và thậm chí,
‘Người cha trìu mến nhất của các con trong Chúa Giêsu Kitô’. Giọng
điệu thực sự là của một người cha nói với những đứa con gái mà ngài
ôm ấp trong tim.
Nội dung của những lá thư này rất là thực tế. Nó liên hệ đến các
Nữ tu trong các hoạt động hàng ngày của họ là làm giáo viên và nhà
giáo dục của những trẻ nhỏ nhất, các y tá, đầu bếp, phụ nữ giặt ủi
và nhà quản lý trong các trường mẫu giáo và trường nội trú và ngay
cả trong các vùng truyền giáo xa xôi ở Nam Mỹ. Các Nữ tu nhận ra
bản thân mình trong lời giảng dạy của cha Rua về đời sống tu trì và
cộng đoàn với tất cả những đòi hỏi khiêm tốn của nó. Lực đẩy tinh
thần của các thư luân lưu rõ ràng mang tính cánh chung. Vào cuối
đời, sự cứu rỗi hay sự trầm luân chờ đợi chúng ta:
‘Chúng ta biết rằng cùng đích chúng ta được sinh ra là đây: để
biết Thiên Chúa: ut cognoscant Te (Gn 17,3), để yêu Ngài:
diligens Dominum Deum (Đnl 6,5), và để phục vụ Ngài: illi soli
servies (Mt 3,10); rằng tất cả các điều răn được tìm thấy trong
điều này: hoc est maximum, et primum mandatum (Mt 22, 38);
rằng chúng ta tồn tại không có lý do nào khác và rằng nếu
chúng ta nhắm đến bất cứ điều gì khác là chúng ta đang hành
động trái với ý Thiên Chúa và với chính chính những nhu cầu
của bản chất lý trí chúng ta. Chúng ta phải thoát khỏi cuộc sống
sai lầm và một ngày kia sẽ phải kêu lên: ergo erravimus! (Kn
5,6). Chúng ta biết rằng chúng ta có thể có nguy cơ bị Thiên
Chúa trừng phạt nặng nề, in ignem aeternum (Mt 25, 41) đời
đời nếu chúng ta chống lại ý Thiên Chúa, thì cũng vậy nếu
chúng ta dành cuộc sống của mình sẵn lòng phục vụ Chúa,

43.9 Page 429

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 429
chúng ta được hứa những niềm vui sướng tột bậc của thiên
đàng trong vòng tay Thiên Chúa: ego...merces tua magna nimis
(St 15, 1), nơi mà những khó khăn của thế giới khốn khổ này
sẽ không còn làm chúng ta đau khổ nữa: neque luctus, neque
clamor, neque dolor erit ultra (Kh 21,4). Ở đó, tinh thần của
chúng ta, sung sướng vô ngần trong sự ngây ngất yêu thương,
sẽ tận hưởng thiên đàng ngọt ngào khôn tả: mecum eris in
paradise (Lc 23, 43), khi chiêm ngắm chính Thiên Chúa: facie ad
faciem (1Cr 13, 12) và thưởng thức sự ngọt ngào khôn tả:
quoniam suavis est Dominus (Tv 33/34, 8) chúng ta sẽ được chìm
đắm và củng cố trong hạnh phúc của Thiên Chúa vốn là Đấng
hạnh phúc trong chính Ngài và hạnh phúc vô hạn vượt quá sự
hiểu biết của chúng ta.555
Trong đời sống thiêng liêng của người tu sĩ, nhân đức thì quan
trọng hàng đầu. Cho dù đó là vấn đề kiên nhẫn, hy sinh, tôn giáo,
đức tin hay trên hết là đức ái, thì chính nhờ nhân đức mà Con Đức
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu tiến bộ trong sự thánh thiện và mở cánh
cửa tới sự sống đời đời. Ví dụ, ngày 24 tháng Tám năm 1888, khi
giới thiệu cuốn sách cầu nguyện mới cho các Nữ tu, cha Rua mô tả
nhân đức của người tu sĩ và đòi hỏi của nó theo một cách thức rất
hiệu quả:
Nhân cơ hội này, cha nhiệt liệt khuyến khích các con, những
người con thân yêu của cha trong Chúa Giêsu Kitô, đem ra thực
hành lời khuyên của vị Cứu Chúa chúng ta, hãy cầu nguyện luôn
và không bao giờ ngã lòng (Lc 18). Nhưng các con sẽ hỏi cha:
Làm thế nào chúng con có thể cầu nguyện suốt ngày? Cha sẽ
cho các con biết những gì mà các tác giả thánh và các bậc thầy
tâm linh nói, đó là, có ba cách đặc biệt mà chúng ta có thể cầu
nguyện không ngớt. Trước tiên bằng cách đạt được do thói
quen, đó là nhân đức và tinh thần cầu nguyện. Ví dụ như chúng
ta nói về một người có lòng bác ái khi họ đã tập có thói quen
này và tỏ ra sẵn sàng thực thi việc bác ái, và làm như vậy bất
cứ khi nào có dịp, thì bất cứ ai có nhân đức, đó là, có thiên
555 Thư ngày 31 tháng 12, 1903 trong FdR 3987D6-8.

43.10 Page 430

▲torna in alto
430 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hướng cầu nguyện mỗi khi người ấy phải hoặc có thể, thì người
ấy được nói là luôn luôn cầu nguyện như Thiên Chúa muốn vì
Ngài xét đến thiện chí của chúng ta. Thói quen và tinh thần cầu
nguyện liên lỉ có được bằng cách cầu nguyện thường xuyên,
đặc biệt khi Giáo hội và Quy luật của chúng ta đòi hỏi điều này.
Tương tự như vậy, chúng ta tuân thủ điều răn cầu nguyện luôn
luôn bằng các lời nguyện tắt mà tất cả các bậc thầy thiêng liêng
đều nhiệt liệt đề nghị. Thông qua chúng, chúng ta nâng tâm
trí và trái tim tới Thiên Chúa và được kết hiệp với Ngài.
Cuối cùng, chúng ta tuân thủ lời khuyến khích của Thiên Chúa
là luôn cầu nguyện, bằng cách thực hiện tất cả các công việc và
hoạt động của mình cách siêng năng vì yêu mến Thiên Chúa
như Thánh Tông đồ Phaolô khuyến khích chúng ta (1Cr 10,31).
Vì vậy mà Thánh Bêđa Đáng Kính viết: ‘Người luôn cầu nguyện
là người luôn hành động để làm vui lòng Thiên Chúa’. Thánh
Basiliô cũng nói: ‘Người luôn hành động tốt, thì luôn cầu nguyện’;
và chúng ta hành động tốt khi chúng ta có ý định ngay chính
là tôn vinh Thiên Chúa.556
Do đó cha Rua có thể nhẹ nhàng đòi hỏi ‘các con gái thân yêu’
của ngài. Có lẽ đó là một chuyện vặt tỉ mỉ so với cách suy nghĩ hiện
đại của chúng ta khi kết thúc sứ điệp [hoa thiêng, strenna] năm 1904
về đời sống đức tin, ngài mời các Nữ tu sống cả ngày giữa trời và
đất. Thiên Chúa phải là ý nghĩ đầu tiên của họ, những giờ đầu tiên
trong ngày sẽ được dâng hiến cho Ngài. Không chỉ vậy - trong công
việc hàng ngày của họ ‘danh Đức Giêsu dịu ngọt và danh Đức Trinh
Nữ Mẹ Người’ phải được nghe thường xuyên và các Nữ tu phải chào
nhau ‘khi cầu khẩn Đức Giêsu’ trong lòng họ, hoặc khi họ nghe tiếng
chuông đồng hồ điểm, lập tức họ phải nhớ ‘điều gì đó từ cuộc đời
của Đức Maria rất thánh và dâng một ý nghĩ lên Chúa Giêsu’.
Tất nhiên lời khuyên như vậy, nếu như được các tâm hồn cực kỳ tỉ
mỉ làm theo như trong thư, thì có thể dẫn đến những thái độ giả tạo,
xa lạ với tinh thần của Don Bosco. Tuy vậy, cũng trên những trang
556 FdR 3987C10-11.

44 Pages 431-440

▲torna in alto

44.1 Page 431

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 431
đó cha Rua cho thấy khía cạnh thực tế của ngài, nói với các Nữ tu
rằng các hình ảnh tôn giáo trên tường nhà của họ và những bức ảnh
thánh thiêng trong sách vở của họ cũng đủ nâng lòng trí lên tới Thiên
Chúa một cách tự nhiên. Chính tu phục họ mặc là một lời nhắc nhở
rằng họ được tách ra khỏi thế gian để ‘trở thành tất cả cho Chúa
Giêsu’. Cây thánh giá nhận được trong ngày khấn nói với họ rằng
‘cuộc sống của họ phải như thế nào’. Ngài kết luận: ‘Làm sao cha có
thể cho rằng các con không có ý nghĩ liên tục về đức tin, nếu tất cả
những gì các con thấy xung quanh mình, tất cả những gì các con làm
và tất cả những gì các con là, đều nói về đức tin’.557
Do đó cha Rua, không hài lòng với cách cai quản Tu hội Con Đức
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu từ xa. Ngài đã cẩn thận truyền cho các Nữ
tu một linh đạo, ‘một sự khổ hạnh đặc trưng Salêdiêng’ như Sơ Maria
Maria Esther Posada đã nhận xét trong một bài báo về ‘việc huấn
luyện các Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu từ 1881-1922’ được
trình bày tại Viện [sử học Salêdiêng] trong cuộc hội thảo ở châu Âu
vào năm 2003. Cách khổ hạnh điển hình này sẽ để lại dấu ấn của nó
trong một thời gian dài trong Tu hội.
Việc chia tách dần dần xuất hiện
Dầu vậy, ngày đó đang đến gần khi cha Rua phải chấp nhận sự
chia tách đau đớn. Ngày 29 tháng Chín năm 1906, ngài bày tỏ lời
cảm ơn của mình khá đơn giản với những người Con ‘tuyệt vời’ của
Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu vì những lời chúc vào ngày lễ kính
Thánh Micae. Các tính từ thân mến, rất thân mến, yêu quý, tất cả
đều biến mất.558 Thật vậy, năm đó ngài đã phải từ bỏ chức vị Bề
Trên Cả của Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Theo chỉ thị
của Rôma, Tu hội ấy không còn là một phần của Tu hội Salêdiêng.
Từ lúc đó trở đi nó hoàn toàn tự quản.
Sau vai trò 'các giám đốc – cha giải tội' trong các cộng đoàn của
chính họ bị lấy đi, thì đây là một cú đánh nặng nề thứ hai đối với di
sản của Don Bosco mà cha Rua đã khao khát truyền lại nguyên tuyền
557 Thư luân lưu ngày 31 tháng 12, 1903, 35 trong FdR 39990C1.
558 X. Annali III, 646-666; Ceria, Vita, 403-413.

44.2 Page 432

▲torna in alto
432 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cho những người kế nhiệm mình.
Như cha Ceria chỉ ra, Bề Trên Cả hành xử khác nhau trong hai tình
huống. Trong vấn đề 'Giám đốc-cha giải tội' một khi cuộc tranh luận
còn tiếp diễn thì ngài cố gắng đến phút chót để hạn chế hoặc giảm
bớt việc áp dụng huấn thị của Rôma, sau cùng chỉ cúi đầu vâng theo
ý muốn của Rôma, đến mức không từ bỏ bất kỳ lỗ hổng nào. Trong
trường hợp thứ hai, ngài giữ khoảng cách, để các Nữ tu hành động
theo cách mà họ nghĩ là tốt nhất. Đương nhiên, như sẽ trở nên rõ
ràng, những người Salêdiêng ủng hộ các Nữ tu. Chắc chắn ngài đau
khổ do quá trình thực hiện áp dụng quy định của Rôma nhưng ngài
giữ vẻ bình tĩnh, mời gọi các Nữ tu thực thi sự vâng phục hoàn hảo
của người tu sĩ.
Tiếp theo đây là những thăng trầm hơi phức tạp của tình huống
này. Bất kể ngày nay người ta tuyên bố thế nào, thì các Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu không bao giờ sáng kiến ra sự chia tách. Việc
nào thì có chứ việc này thì không! Nó xuất phát thông qua một lựa
chọn chính xác về phía Tòa Thánh. Vào cuối thế kỷ 19, Rôma có
khuynh hướng làm cho các hội dòng nữ độc lập với các hội dòng
nam tương tự. Sự gia tăng các hội dòng nữ khấn đơn đã khiến Tòa
Thánh chấp nhận các biện pháp nhằm điều chỉnh chúng. Ngày 28
tháng Sáu năm 1901, Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu ban hành
một sắc lệnh liệt kê tất cả các quy tắc mà các hội dòng như vậy phải
tuân thủ để bản hiến pháp của họ được chấp thuận. Tài liệu mở ra
với dòng chữ Normae secundum quas. Khoản 202 quy định một hội
dòng nữ khấn đơn không thể phụ thuộc vào một hội dòng nam có
bản chất tương tự. Đây là trường hợp của Tu hội Con Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu. Cha Tổng Đại diện Salêdiêng ở Rôma sợ hãi. Ngài
nghĩ rằng lời khấn của các Nữ tu không hợp lệ theo giáo luật. Biên
bản của Tu Nghị Bề trên ngày 30 tháng Bảy năm 1901 ghi chú: 'Một
lá thư nhận được từ cha Marenco được đọc lên; ngài đã có một cuộc
phỏng vấn với Đức Hồng y ... và cảnh báo chúng ta rằng lời khấn
của các Nữ tu của chúng ta vô hiệu và do đó, ngài giải thích, điều
quan trọng là phải xin Rôma phê chuẩn Tu hội và Quy luật của nó,
theo cách mà các Nữ tu vẫn thuộc sự hướng dẫn của chúng ta. Thậm

44.3 Page 433

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 433
chí còn có mối nguy rằng các chị em có thể bị tách khỏi chúng ta’.559
Vì vậy, cha Rua chỉ cố gắng làm theo đúng quy tắc tình hình hiện
tại. Ngày 1 tháng Mười năm 1901, cha Phó Tổng Bề trên Philip
Rinaldi, viết một lá thư luân lưu trên danh nghĩa của Bề Trên Cả cho
các Giám tỉnh và các giám đốc truyền đạt các chỉ thị liên quan đến
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu: nhà của họ phải hoàn toàn tách
biệt với nhà của người Salêdiêng; cha giải tội của họ không thể nào
là Giám đốc của nhà Salêdiêng nơi họ sống cũng như bất kỳ ai có
liên quan đến việc đích thân điều hành nhà; nếu các Nữ tu đi xưng
tội trong một nhà thờ công cộng, cha giải tội bình thường của họ
phải được thay đổi hoặc xác nhận sau ba năm theo như thỏa thuận
với Giám mục địa phương, và nếu người đó là một người Salêdiêng
thì phải theo thỏa thuận với Bề Trên Cả.560
Sau đó toàn bộ vấn đề đã thành công. Vào năm 1902, Đức Hồng
y Gotti, Chủ tịch Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu, yêu cầu cha
Rua báo cáo chi tiết tình hình của Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu, đó là, một bản sao Hiến Luật của họ, ‘các nghị quyết' của
Tổng Tu Nghị và sự chấp thuận của các Đấng Bản quyền. Ngài cũng
yêu cầu thông tin về nguồn gốc thành lập, mục đích của Tu hội, nhân
sự và thù lao của họ, tình hình vật chất và tài chính. Tất cả mọi thứ
đã được thực hiện đúng từng chi tiết. Các Nữ tu cũng bổ sung một
danh sách các hoạt động được thực hiện trong mỗi cộng đoàn. Năm
1904, Đức Hồng y Ferrata, vị chủ tịch mới, lặp lại yêu cầu đó. Sau
đó ngày 10 tháng Năm năm 1905, trong một bức thư gửi cho cha
Tổng Đại diện Marenco, Tu hội được lệnh theo danh nghĩa của Đức
Giáo Hoàng, sửa đổi Hiến Luật thích hợp với sắc lệnh Normae
secundum quas.
Ngày 14 tháng Năm, cha Tổng Đại diện chuyển lá thư cho cha
Rua. Mười ngày sau, ngài được triệu tập bởi vị kiểm tra của Thánh
Bộ, người đã cung cấp một số thông tin và sau đó nói rằng ngài được
giao trách nhiệm truyền đạt những công lao của người Salêdiêng đối
với Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu được nhìn nhận và cả
559 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 30 tháng Bảy, 1901 trong FdR 4243C3.
560 Thư luân lưu Rinaldi ngày 1 tháng Mười, 1901 trong FdR 4070B3-4.

44.4 Page 434

▲torna in alto
434 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
giá trị của những lợi ích và kết quả xuất sắc đã thu được. Tuy nhiên,
Tu hội đó không còn có thể tiếp tục theo cách mà đã bắt nguồn và
vẫn còn tồn tại. Ngài kết thúc bằng cách giao cho cha Tổng Đại diện
nhiệm vụ chính thức thay mặt cho Thánh Bộ sửa đổi Hiến Luật của
Tu hội theo nghĩa Normae secundum mong muốn.561
Ngày 25 tháng Năm, cha Rua đến Rôma, đi qua Pisa và Leghorn.
Ngày 28, ngài muốn chủ trì lễ cử hành mừng 25 năm công cuộc
Salêdiêng ở chính Rôma; đó cũng là ngày sẽ tổ chức lễ trọng Đức
Maria Phù Hộ các Giáo Hữu. Theo cha Amadei,562 ngài nắm lấy cơ
hội để nói chuyện với Đức Hồng y Ferrata về sự chia tách có thể xảy
ra của Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu với Tu hội Salêdiêng.
Vào dịp đó Đức Hồng y đã cố gắng hết sức để giảm bớt nỗi sợ của
ngài, bảo đảm với ngài rằng cơ bản đó là vấn đề chia tách vật chất.
Báo động khẩn - mùa hè năm 1905
Nhiều tuần lễ trôi qua và đến lúc đó bản Hiến Luật được sửa đổi
sắp ứng dụng vào thực tế. Cùng lúc đó một số vấn đề nổi lên cả cho
người Salêdiêng và cho các Nữ tu. Biên bản các cuộc họp của Tu
Nghị Bề trên Salêdiêng cho phép xem xét lại chi tiết vấn đề này. Vấn
đề được phác thảo rõ nét trong cuộc họp ngày 21 tháng Tám năm
1905 do cha Rua chủ trì và có sự tham dự của cha Clement Bretto,
Tổng Giám đốc của Tu hội ấy:
Cha Bretto viết rằng một cơ ngơi phải được nhanh chóng mua
cho các Nữ tu và mong muốn Tu Nghị Bề trên đề xuất ngài
phải làm gì. Ở điểm này, một số thành viên của Hội đồng nhận
thấy vấn đề rất nghiêm trọng; họ lưu ý rằng những nhà mà Con
Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu hiện đang ở, một số hoàn toàn
thuộc về người Salêdiêng và không thể hoặc không được bàn
giao; một số thuộc về người Salêdiêng nhưng đã được tặng cho
FMA hoặc được mua bằng tiền hoặc một phần bằng tiền FMA
và những khoản này có thể hoặc có lẽ được chuyển giao; cuối
561 Đoạn văn này nhắc đến bản báo cáo Cha Marenco đưa cho Tu Nghị Bề trên
trong phiên họp vào ngày 2 tháng Chin, 1905, trong FdR 4245B7-8.
562 X. Amadei III, 156-157.

44.5 Page 435

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 435
cùng một số là tài sản độc quyền của FMA. Cha Rinaldi được
yêu cầu chuẩn bị một danh sách chi tiết và phải nắm lấy cơ hội
để xác nhận rằng Tu hội FMA là một phần quan trọng của Công
cuộc Don Bosco và phải chăm lo để không bóp méo bản chất
thực sự của nó khi thực hiện việc buộc phải cải cách. Trước hết,
phải tìm mọi phương cách để bảo đảm rằng mục đích, bản chất
và tinh thần truyền lại bởi Đấng Sáng lập được bảo tồn và điều
này sẽ xuất hiện rõ ràng trong những biên bản này, rằng người
Salêdiêng không bỏ bê một vấn đề quan trọng như vậy. Có
người nhận xét rằng việc này chỉ nằm trong thẩm quyền của
Bề Trên Cả. Cha Rua nói thêm: ‘tôi mời gọi riêng tất cả các cha
và xin các cha giúp tôi để vấn đề này có thể được giải quyết tốt
đẹp hết mức có thể’. Hội đồng đồng ý và cha Thư ký (prop-
secretary) được giao nhiệm vụ chuẩn bị một bản sao Hiến Luật
do cha Marenco soạn thảo để họ có thể nghiên cứu. Cha Rua
cũng muốn cha Marenco đọc to cho Hội đồng bức thư cho phép
ngài làm công việc đó.563
Vấn đề Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu quay lại vài ngày sau
đó. Trong cuộc họp của Ban Cố vấn ngày 2 tháng Chín, cha Tổng Đại
diện Marenco, phác thảo theo các điều khoản đã được mô tả, nguồn
gốc nhiệm vụ được Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu giao cho
ngài.
Sau đó, các thành viên của Tu Nghị Bề trên vốn đã đọc Hiến Luật
mới do cha Marenco soạn, đã nhận xét về các khoản khác nhau có
thể bị loại bỏ hoặc sửa đổi. Ý tưởng đằng sau điều này là để tránh
lặp lại trong Hiến Luật những gì đã được quy định bởi các sắc lệnh
cụ thể và không cần phải được đưa vào trong Hiến Luật. Sau đó họ
nhận xét rằng cần lưu ý Tu hội FMA này:
Trong quá khứ: đó là công trình của Don Bosco vốn có ý định
làm cho các thanh thiếu nữ những gì mà người Salêdiêng làm
cho các thanh thiếu niên với mục tiêu hình thành một tổng thể
hòa hợp và hài hòa; Tu hội công nhận Don Bosco là người Sáng
563 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên ngày 21 tháng Tám, 1905 trong FdR 4245B5.

44.6 Page 436

▲torna in alto
436 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lập và là Cha của nó. Khi hấp hối, Don Bosco gửi gắm Tu hội
này cho người kế vị ngài mà cho đến nay đã thực hiện sứ vụ
giám sát với tình cha mà không gây trở ngại nào hầu nhân viên
nội bộ hoạt động tự do; việc này đã tạo ra kết quả tốt đẹp như
có thể thấy qua sự phát triển kỳ diệu của Tu hội và từ những
lời khen của các Giám mục khác nhau và Chiếu thư của Đức Lêô
XIII.
Trong hiện tại: hàng ngàn thiếu nữ đã dâng mình cho Thiên
Chúa trong Tu hội với niềm tin và sự tin tưởng được Đấng kế vị
Don Bosco trợ giúp. Sự chăm sóc và hỗ trợ này đã thành thói
quen, nó hầu như cần thiết cho cuộc sống của Tu hội, và chắc
chắn là rất nhiều nhà, đặc biệt là các nhiệm vụ, sẽ không tồn
tại được nếu không có sự hỗ trợ này. Việc linh hướng thường
được thực hiện phù hợp với Giáo luật và được các giám mục
đồng ý; bất kỳ sự gián đoạn nào cũng có thể làm tổn hại đến
danh tiếng của hai Tu hội.
Cho tương lai: mặc dù chúng ta hoàn toàn sẵn sàng thực hiện
bất cứ điều gì được Tòa Thánh quy định, nhưng chúng ta bày
tỏ mong muốn này để giữ tâm trí của Con Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu được bình an cũng như duy trì hạnh phúc tinh thần
và vật chất của họ được sống động, thẩm quyền của người cha
cho đến nay được người kế vị của Don Bosco thực hiện được
giữ lại, hoặc một thẩm quyền tương tự hoặc thậm chí lớn hơn
được ban cho ngài như ủy viên của Tòa Thánh.
Tóm lại, việc mọi thứ được trình bày đơn giản trong Tổng Tu
Nghị FMA tiếp theo và việc các Nữ tu làm bất cứ điều gì họ coi là
thích hợp, ghi nhớ đến những gì Bathandier, một người rất thông
thạo những vấn đề đó, phải nói, đó là, thường thì kết quả tốt tùy
thuộc vào việc trình bày vấn đề đúng thực sự là vậy chứ không phải
như người ta nghĩ rằng chúng như vậy, và vào việc biết làm thế nào
để trình bày chúng và hành động trong các điều khoản cho phép.564
564 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên ngày 2 tháng Chin, 1905 trong FdR 4245B7-8.

44.7 Page 437

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 437
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu được báo tin
Cuối cùng khi những tin đồn về sự chia tách khỏi những người
Salêdiêng bắt đầu lan truyền, các Nữ tu trở nên cực kỳ sợ hãi. Cha
Rua đã quyết định không nói về nó cho đến Tổng Tu Nghị Thứ Năm
của họ sẽ được tổ chức vào tháng Chín tại Nizza Monferrato.565 Dự
đoán được những phản ứng, ngài đề nghị với cha Tổng Giám đốc
Clement Bretto tập hợp các thành viên của Tổng Tu Nghị trong kỳ
tĩnh tâm chuẩn bị và với sự thận trọng tối đa, giải thích cho họ thực
tế mới của Tu hội. Cha Bretto đã làm như vậy ngày 4 tháng Chín.
Hiệu quả của lời thông báo bất ngờ có thể được đánh giá từ một lá
thư được gửi đến cha Rua ngày hôm sau do Tổng thư ký nhân danh
Bề trên Tổng quyền, Mẹ Catherine Daghero và tất cả các thành viên
của Tổng Tu Nghị. Trong nhiều vấn đề khác nhau, thư ghi nhận:
‘Mặc dù việc thông báo về khả năng Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu bị rút khỏi sự lệ thuộc vào Đấng Kế vị Don Bosco được thực hiện
hết sức khéo léo và thận trọng, nó đã khiến toàn bộ hội nghị mất
tinh thần không thốt nên lời.’ Tiếp đó là lời cầu xin nhằm ngăn chặn
sự tan vỡ, tóm tắt trong tiếng kêu: ‘Ôi, Cha yêu dấu, xin đừng bỏ
chúng con!’ Để mỗi người có cơ hội bày tỏ ý kiến cá nhân của riêng
mình, một cuộc bỏ phiếu kín được tổ chức về vấn đề liệu có muốn
Tu hội tiếp tục vâng phục Don Bosco và những người kế vị hợp pháp
của ngài hay không. Cuộc bỏ phiếu nhất trí ủng hộ ở lại với Don
Bosco và người kế vị của ngài.
Ngày 8 tháng Chín cha Rua đến Nizza để khai mạc Tổng Tu Nghị
và chủ trì nó theo Hiến Luật của Tu hội. Trong phiên khai mạc ngài
nói về lá thư và cuộc bỏ phiếu, cho thấy hai điều đó làm ngài cảm
động và được an ủi, nhưng ngay lập tức ngài nói thêm: ‘Tuy nhiên,
chúng ta vâng lời Mẹ Giáo hội thánh thiện! Nếu Don Bosco còn sống,
ngài sẽ muốn chúng ta vâng lời Giáo hội, ngay cả khi Giáo hội yêu
cầu điều gì đó khác với những gì chính ngài đã thiết lập.’ Trong Tổng
Tu Nghị, cha Tổng Đại diện trình bày bản văn Hiến Luật được sửa
đổi, mời các thành viên của Tổng Tu Nghị bày tỏ quan điểm mình
về những thay đổi đã được giới thiệu. Nhận thức rằng sự chia tách
565 Đối với chương này, tôi theo Ceria, Vita, 407-413.

44.8 Page 438

▲torna in alto
438 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đang tiến hành khiến họ buồn sâu sắc. Họ nói rất nhiều với cha Tổng
Đại diện.
Khi trở về Rôma, cha Marenco báo cáo với Thánh Bộ các Giám
mục và Dòng Tu ấn tượng nhận được qua việc xem xét dự thảo hiến
luật của ngài và những mong muốn mà một số thành viên của Tổng
Tu Nghị đã thể hiện bằng văn bản. Báo cáo của ngài tạo ấn tượng
đến nỗi ngài được ủy quyền giới thiệu vào văn bản những mong
muốn đã bày tỏ, thêm các động lực trên một tờ giấy riêng. Ghi chú
kết luận: ‘Để giữ gìn sự hiệp nhất, sự đồng bộ và tinh thần của Đấng
Sáng lập trong Tu hội, Bề Trên Cả của người Salêdiêng, người kế vị
Don Bosco thánh thiện, sẽ tiếp tục thực hiện việc hướng dẫn và coi
sóc trong tình phụ tử với Tu hội mà không hề lấy mất các quyền vốn
theo các quy tắc của Giáo luật, thuộc về các Đấng Bản quyền của các
giáo phận.’566
Tuy nhiên, người Salêdiêng không nên nuôi dưỡng bất kỳ ảo
tưởng nào. Sự chia tách đơn giản về mặt tài sản vật chất của hai Tu
hội chưa đủ: một sự tách biệt hoàn toàn được yêu cầu, như Đức Hồng
y Ferrata xác định trong một cuộc trò chuyện với cha Têphanô Trione.
Nếu không, các biện pháp nghiêm trọng sẽ được thực hiện.567
Sự tách biệt tài sản vật chất của hai Tu hội
Trong lá thư luân lưu ngày 25 tháng Mười Một đặc biệt dành
riêng cho Giám tỉnh, cha Rua tóm tắt tình hình và nhắc lại Thánh Bộ
các Giám mục và Dòng Tu đã ra lệnh cho Tu Nghị Bề trên tiến hành
‘tách biệt hành chính và kỷ luật của hai công cuộc'. Ngài làm rõ rằng
tổng số tài sản tách ra sẽ tiêu tốn số tiền khổng lồ nếu được thực hiện
ngay lập tức. Vì vậy, theo thỏa thuận với Thánh Bộ Rôma, quyết định
được đưa ra là tiến hành ‘từng chút một’. Một số trường mẫu giáo
thuộc về người Salêdiêng đã được chuyển giao cho Con Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu. Ngài giải thích làm thế nào để tiến hành trong
‘những nhà Salêdiêng’ nơi các Nữ tu tham gia công việc trong nhà
566 Ceria, Vita, 408. X. Thư của Cha Marenco gửi Cha Rua, Rôma, 18 tháng Chin,
1905 trong FdR 4598D6-8.
567 Theo một bản ghi nhớ đính kèm với những việc làm của Tu Nghị Bề trên được
tổ chức giữa ngày 2 và 10 tháng Mười trong FdR 4245C5.

44.9 Page 439

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 439
bếp, phòng giặt và may vá, sống: hoặc phải mướn đàn ông hoặc
phải tìm một nơi cư trú cho các Nữ tu trong khu vực để họ có thể
tiếp tục dịch vụ của họ mà không được trọ trong nhà Salêdiêng.
Trong trường hợp đó, để việc tách biệt hành chính được hiệu quả,
họ phải được trả lương phù hợp cho công việc của họ.
Để trả lời cho sự tách biệt về kỷ luật, cha Rua tiếp tục nói, Con
Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu đã tổ chức các nhà của họ thành nhiều
tỉnh khác nhau do các Giám tỉnh riêng quản trị. Do đó, ngay cả những
bề trên địa phương ở mức độ nào đó phụ thuộc vào người Salêdiêng,
phải quay trực tiếp về các Giám tỉnh tương ứng của họ và, thông qua
họ, tới Tu Nghị Bề trên của riêng họ. Nếu các vấn đề khác nảy sinh,
họ sẽ phải chờ ý kiến của Thánh Bộ Rôma vì, ‘chúng ta không có ý
định đi lạc, dù chỉ một chút, khỏi những mệnh lệnh thiêng liêng.’568
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu cầu viện Rôma
Theo lời khuyên của những người Salêdiêng, Con Đức Mẹ Phù Hộ
các Giáo Hữu đã cố gắng tự can thiệp. Ngày 4 tháng Mười Hai cha
Rua đọc cho Tổng Tu Nghị một lá thư của Mẹ Tổng quyền trên danh
nghĩa của Hội đồng và toàn Tu hội, chính thức rõ ràng cầu xin rằng
các điều kiện do Don Bosco thành lập cơ sở sẽ không thay đổi, ngụ
ý rằng họ không bị bỏ rơi. Họ không yêu cầu phụ thuộc vào một Tu
hội nam, đặc biệt là những người Salêdiêng, nhưng chỉ dựa trên
Đấng Kế vị Don Bosco. Người ta đề nghị họ đến Rôma để tư vấn luật
sư và giải thích ý định của họ và làm theo lời khuyên của ngài.569
Không cần phải nói với họ lần thứ hai. Vài ngày sau vào ngày 13
tháng Mười Hai, Tổng Tu Nghị biết rằng Mẹ Tổng Quyền đã đến
Rôma để cố thuyết phục Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu về sự
cần thiết tiếp tục phụ thuộc vào Bề Trên Cả.570 Thật vậy, Mẹ Daghero,
Sơ thư ký Vaschetti và Sơ Marina Coppa, một trong những thành viên
hội đồng, đã tự trao mình ba nhiệm vụ phải hoàn thành ở Rôma:
568 Thư luân lưu gửi Giám Tỉnh, Torino, 25 tháng Mười Một, 1905 trong FdR
3975D7-10. Thư luân lưu này không được tìm thấy trong L.C.
569 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên ngày 4 tháng 12, 1905 trong FdR 4245D4.
570 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên ngày 13 tháng 12, 1905 trong FdR 4245D7

44.10 Page 440

▲torna in alto
440 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thực hiện việc sửa đổi tỉ mỉ Hiến Luật mới; chuẩn bị một bản kiến
nghị dài để trao cho các Hồng y của Thánh Bộ nói trên cùng với một
bản sao Hiến Luật và đến thăm các Hồng y và các vị Giám mục khác
liên quan đến vấn đề để giải thích các điều kiện thực tế của Tu hội.
Trong bản kiến nghị các Nữ tu dự định minh họa và thúc đẩy những
mong muốn mà chúng ta đã biết.
Ngày 15 tháng Mười Hai, Sơ trợ lý Coppa, viết thư cho cha Rua
về kết quả của một cuộc phỏng vấn mà họ vừa mới có với Đức Hồng
y Vivés, một thành viên của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu.
‘Don Bosco đã thành lập các con; đây là sức mạnh của các con; nhưng
ngày nay Giáo Hội áp dụng các tiêu chuẩn khác cho việc quản trị các
hội dòng nữ ... Đó là thực tế các con làm nhiều việc tốt, các con là
các tông đồ trên khắp thế giới và nếu các con không được hướng
dẫn tốt, các con sẽ không mở rộng được phi thường như vậy.’ Đức
Hồng y kết thúc cuộc phỏng vấn kèm theo một nụ cười: ‘Nhưng Don
Bosco sẽ tiếp tục giúp các con từ trên thiên đàng: người ta nói rằng
những người sáng lập từ trên trời nhìn xuống những gì xảy ra ở dưới
đây trong hội dòng của các ngài như thể soi gương; do đó ngài sẽ
thấy rằng mọi thứ đều phù hợp với ý Thiên Chúa và cho điều tốt đẹp
nhất.’571
Vì ba vị Bề trên ấy chịu đựng một mình và cha Tổng Đại diện
Marenco có rất nhiều việc phải làm, ngày 18 tháng Mười Hai cha
Rua quyết định đây là vấn đề cấp bách nên phái cha Bertello đến
giúp họ.572 Tin này làm họ được an ủi. Vào ngày 19, Sơ thư ký Luisa
Vaschetti viết thư cho cha Tổng Giám đốc, Clement Bretto: ‘Con đã
nghe nói rằng ngày mai cha Bertello sẽ đến, Deo gratias! [Tạ ơn Chúa]
Chúng con cảm thấy vững tin làm sao khi chúng con có các bề trên
thực sự yêu thương chúng con! Về phần mình, mỗi lần con nghĩ về
điều đó, con cảm thấy như được tái sinh trong ơn gọi của con để trở
thành một Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu trong Tu hội Don Bosco
sáng lập, và con hy vọng sẽ kiên trì cho tới khi con nhắm mắt lìa
571 Thư của Marina Coppa gửi Michael Rua, Rôma, ngày 15 tháng 12, 1905 trong
FdR 4591B1-8.
572 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên ngày 18 tháng 12, 1905 trong FdR 4245D8.

45 Pages 441-450

▲torna in alto

45.1 Page 441

▲torna in alto
đời.’573
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 441
Các Nữ tu sau đó đã cố gắng để có được chính Đức Piô X hỗ trợ.
Sáng ngày 7 tháng Giêng năm 1906, Đức Giáo Hoàng đã tiếp Mẹ
Daghero và các phụ tá của bà trong một buổi triều yết riêng. Lòng
tốt tột bực của Đức Thánh Cha đã khuyến khích Mẹ Bề trên cởi mở
lòng mình với ngài và Mẹ bộc lộ tất cả những nỗi sợ hãi được chia
sẻ bởi các Nữ tu. Ngài hết sức chăm chú lắng nghe, bày tỏ sự hài
lòng với những lời giải thích của Mẹ và lặp đi lặp lại bốn hay năm
lần để họ được bình an. Vì một số biểu hiện của ngài dường như cho
thấy họ sẽ có thể tiếp tục có bề trên Salêdiêng của họ, một trong số
họ hỏi chị có thể truyền đạt tin này cho các Nữ tu ở Torino hay không
vì nó sẽ an ủi họ trong nỗi đau buồn cùng cực. Đức Thánh Cha trả
lời: ‘Không, đừng nói gì cả, hãy cầu nguyện và hãy để lòng bình an.’
Sau đó, họ đã trao cho Đức Giáo Hoàng bản kiến nghị được Tổng Tu
Nghị soạn vào tháng Chín . Khi họ bước ra về, họ nhận thấy ngài liếc
nhìn tập tài liệu.574 Bản Hiến Luật mới đã được gửi đến Thánh Bộ
các Giám mục và Dòng Tu ngày 12 tháng Giêng. Các Nữ tu chỉ còn
có thể chờ phán quyết.
Trong khi đó, ngày 1 tháng Tư trong một buổi triều yết Đức Giáo
Hoàng, cha Tổng Cố vấn lo về học vụ, Phanxicô Cerruti, cũng đang
có công việc ở Rôma với Thánh Bộ Trường Công Ý, đã cố hết sức để
duy trì vị trí của các Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và được đón
nhận nồng nhiệt. Mặc dù vậy cuối cùng tất cả các bước được thực
hiện để làm giảm nhẹ tình hình chẳng mấy ích lợi. Hiến Luật của các
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu được sửa chữa để đưa họ theo sát
quy tắc với sắc lệnh Normae secundum quas. Ngày 26 tháng Sáu,
Thánh Bộ ra lệnh truyền đạt những sửa đổi mới nhất cho Bề trên
Tổng quyền Salêdiêng và trao cho ngài và Đức Tổng Giám mục
Torino bản Hiến Luật mới được sửa chữa theo lệnh của Đức Giáo
Hoàng. Bức thư gửi cho cha Rua, ngày 17 tháng Bảy viết như sau:
Cha rất kính mến,
573 Annali III, 615
574 Theo bản báo cáo của thư ký Sơ Luisa Vaschetti trong Annali III, 615.

45.2 Page 442

▲torna in alto
442 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Kèm theo bức thư này là Hiến Luật của Tu hội Con Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu, được Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu
này sửa đổi theo lệnh của Đức Thánh Cha. Như vậy, Đức Thánh
Cha mong muốn bản Hiến Luật phải được Tu hội nói trên tuân
thủ chính xác, xét đến việc bãi bỏ Hiến Luật trước đây và những
thảo luận trong Tổng Tu Nghị vì chúng không phù hợp với
những điều mới. Một bản sao Hiến Luật khác đã được gửi đến
Đức Tổng Giám mục Torino với nhiệm vụ thông báo cho Điều
hành viên của Tu hội nói trên về những hướng dẫn có liên quan
của Đức Thánh Cha. Đức Hồng y ký tên dưới đây rất vui khi có
thể bảo đảm với Cha về sự nhân từ đặc biệt của Đức Thánh Cha
dành cho Tu hội Salêdiêng rất xứng đáng của Don Bosco.
Trân trọng,
Hồng Y D. Ferrata, Bộ trưởng.575
Các Nữ tu không thể làm gì ngoài việc phục tùng trong nước mắt.
Ngày 20 tháng Tám Mẹ Tổng Quyền phải viết thư cho cha Rinaldi
về một vấn đề hành chính. Nhân cơ hội ấy Mẹ giải tỏa cảm xúc của
mình: ‘Cho đến bây giờ chúng con đã sống như những người con gái
chu toàn những mong muốn của các bề trên đáng kính của chúng
con và được hưởng tình phụ tử và sự chịu đựng nhân từ thường xuyên
mỗi khi nào chúng con cần đến nó, nhưng bây giờ... Bây giờ là thời
gian thử thách của chúng con; mặc dù vậy, ngay chính trong thử
thách khắc nghiệt này mà chúng con thấy rằng tấm lòng của các bề
trên chúng con không chút thay đổi, nếu có, thì đó là có thêm sự dịu
dàng và lòng thương đối với những nữ tử tội nghiệp của Đức Mẹ và
Don Bosco mà thôi. Điều này an ủi chúng con; nó làm dịu tinh thần
chúng con vốn có thể cam chịu nhưng rất buồn phiền.’576
Sự chia tách thực sự
Kể từ tháng Bảy cha Rua đã rút lui không còn hướng dẫn Tu hội
ấy. Ngày 29 tháng Chín ngài đã tận dụng ngày lễ Tổng lãnh Thiên
575 Annali III, 618-619.
576 Annali, III, 618-619.

45.3 Page 443

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 443
thần Micae để công bố quy chế mới cho Con Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu. Để làm dịu nỗi cay đắng, ngài chọn cách bày tỏ theo
phong cách tự nhiên và thoải mái nhất định.
Torino, ngày lễ Tổng lãnh Thiên thần Micae,
29 tháng Chín năm 1906
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu,
Tôi thực sự biết ơn những nguyện chúc mà các chị em đã gửi cho
tôi vào những dịp khác nhau trong năm và đặc biệt là những lời cầu
nguyện của các chị em và những Thánh Lễ mà các chị em dâng lên
Thiên Chúa cho tôi. Vào ngày bổn mạng này, tôi cũng muốn trao
cho chị em một món quà với một tin vui rằng chị em sẽ sớm nhận
được từ Bề trên Tổng Quyền đáng kính của chị em bản Hiến Luật của
Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu do Don Bosco sáng lập. Nó
được sửa đổi trong Tổng Tu Nghị Thứ Năm của chị em vào năm
ngoái và được Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu chỉnh sửa cho
phù hợp với quy tắc do cùng một Thánh Bộ ban hành ngày 28 tháng
Sáu năm 1901.
Vì Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu đã phát triển rất đáng
kể, Tòa Thánh đã tỏ lộ sự nhân từ của mình đối với Tu hội như đối
với những tu hội khác mà chẳng bao lâu sẽ nhận được sự chấp thuận
của Đức Giáo Hoàng và những nơi phụ thuộc trực tiếp vào cùng một
Tòa Thánh.
Vì vậy chị em hãy đón nhận bản Hiến Luật mới với sự tôn trọng
tối đa và như là một bằng chứng rằng vị Đại diện của Chúa Giêsu
Kitô quan tâm đến các chị em. Chị em hãy nghiên cứu nó và trên hết
hãy thực hành để trở thành những người tu sĩ tốt theo như ý muốn
thánh thiện của Giáo hội. Như vậy chị em sẽ giữ cho mình trong tinh
thần của Cha chúng ta, Don Bosco, người rất tôn trọng, vâng lời và
yêu mến Đức Thánh Cha và các vị mục tử mục khác, như chị em có
thể dễ dàng thu thập từ các tác phẩm và gương của ngài. Và chị em
sẽ là những người con xứng đáng hơn nếu, khi bắt chước ngài, chị
em thêm vào đó nếp sống chân thành, lòng bác ái nồng nàn và lòng
nhiệt thành sống động cho vinh quang Thiên Chúa và sự cứu rỗi các

45.4 Page 444

▲torna in alto
444 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
linh hồn.
Cùng với các vị Bề trên Salêdiêng khác, tôi luôn sẵn sàng giúp đỡ
chị em bất cứ điều gì chị em có thể cần bằng cách hỗ trợ và tư vấn;
tôi cầu xin Chúa ban dồi dào ơn phúc cho Tu hội của chị em và từng
chị em.
Thân mến trong Chúa Giêsu và Mẹ Maria,
Cha Micae Rua.577
Một vài ngày sau, trong phiên họp ngày 3 tháng Mười, Tu Nghị
Bề trên Salêdiêng xử lý vấn đề chia tách. Những hướng dẫn chi tiết
sẽ được gửi đến các nhà. Hơn nữa, theo biên bản cuộc họp, Mẹ Bề
trên sẽ được giải thích, theo những mong muốn của Tòa Thánh, rằng
Bề Trên Cả sẽ đánh giá cao sự rút lui các Nữ tu khỏi tất cả những nhà
mà không có sự tách biệt hoàn toàn với những người Salêdiêng,
hoặc, ít nhất là Bề trên phải được Rôma trực tiếp cho những phép
cần thiết hoặc một số trì hoãn để có thể tuân theo quy tắc. Sau đó
cha Rua gửi một thư ngắn cho Đức Hồng y Ferrata, Bộ trưởng Thánh
Bộ các Giám mục và Dòng Tu, tuyên bố hoàn toàn phục tùng. Lá thư
là một ví dụ tốt đẹp về mối quan hệ qua thư từ của ngài với các chức
sắc Giáo hội:
Trọng kính Đức Hồng y,
Với lá thư N. 17358/15 của Đức Hồng y, ngày 17 tháng Bảy,
nhưng được gửi đến cho con sau đó, con đã nhận được bản
Hiến Luật của Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, được
sửa chữa theo lệnh của Đức Thánh Cha. Sau đó con nghe Bề
trên Tổng quyền đáng kính của Tu hội đó cho biết ngày 22
tháng Chín vừa qua, Đức Hồng y, Tổng Giám mục Torino đã
trao cho Bề trên đó một bản sao khác của cùng một Hiến Luật,
như Đức Hồng y đã chỉ ra.
Con nghĩ không cần phải nói các con cái Don Bosco sẽ thực hiện
theo như lá thư và rất sẵn lòng không chỉ những gì Đức Thánh
577 Thư luân lưu gửi Con Đức Mẹ Phù hộ các Giáo hữu, Torino, ngày 29 tháng Chin,
1906 trong FdR 3991A8-9.

45.5 Page 445

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 445
Cha mong ước mà còn bất cứ điều gì ngài tỏ vẻ mong muốn.
Đang khi đó, con lợi dụng cơ hội hiện tại này để canh tân sự
kính trọng của con đối với Đức Hồng y và đang khi thiêng liêng
hôn kính màu tím thánh thiện, con vinh dự xưng mình là
Tôi tớ khiêm hạ và vâng phục nhất của Đức Hồng y,
Micae Rua
Bề Trên Cả của Tu hội Thánh Phanxicô Salê.578
Từ Nizza Monferrato ngày 15 tháng Mười năm 1906, Mẹ Daghero
giới thiệu cho Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu các Quy luật mới
trong một cuốn sách nhỏ với tiêu đề có chủ ý là Hiến Luật của Tu hội
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu do Don Bosco sáng lập. Cho tới bây
giờ đây là ký ức duy nhất về nguồn gốc của họ có liên quan đến
người Salêdiêng. Mẹ Bề trên không đề cập đến nó một cách rõ ràng
nhưng nó có hiệu lực trong chính tài liệu, rằng cha Rua không còn
là Bề trên Tổng quyền của họ nữa.579
Ngày 21 tháng Mười Một, cha Rua nói chuyện với các Giám tỉnh
và các giám đốc, đưa cho họ những chỉ dẫn rõ ràng, tuyên bố lại sự
chia tách giữa người Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Sau một đoạn giới thiệu ngắn, Bề Trên Cả cô đọng quy tắc thành
tám điểm, tất cả đều được đánh số đủ, như thói quen của ngài:
1. Cũng như các hội dòng nữ khác, họ không được phụ thuộc
vào bất kỳ Hội dòng nam nào mà đúng hơn là phụ thuộc vào
Bề trên Tổng quyền của họ và Hội đồng riêng của họ, dưới sự
giám sát trực tiếp của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu và
của các Giám mục địa phương, phù hợp với Hiến Luật mới và
Bộ Giáo luật.
2. Công việc quản lý và kế toán của họ phải hoàn toàn riêng biệt
và rõ rệt. Hơn nữa, nơi họ làm việc trong nhà bếp, phòng giặt
ủi và phòng may vá, họ phải được trả lương như những thành
578 Annali, III, 619-620.
579 Mẹ Catherine Daghero, thư luân lưu ngày 15 tháng Mười, 1906 trong FdR
4610A8-9.

45.6 Page 446

▲torna in alto
446 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
viên của bất kỳ hội dòng nào khác, những người cũng làm
công việc đó cho chúng ta.
3. Ở đâu, vì công việc như vậy, người Salêdiêng và Nữ tu có nhà
liền kề, các Nữ tu phải có một lối đi riêng và không có các cửa
thông nhau khác giữa các nhà. Thật vậy, trong trường hợp
nghi ngờ về điều bất thường nào đó, Giám tỉnh sẽ yêu cầu
Đức Giám mục địa phương kiểm tra nó và nếu cần thiết đề
nghị phải làm thế nào.
4. Họ phải tự coi mình là chủ sở hữu nhà mà họ ở; vì vậy, họ
phải chi trả tất cả các loại thuế, sửa chữa v.v. Đối với việc
chuyển giao hợp pháp, việc này sẽ tiến hành ngay khi thuận
tiện, vì chúng ta không thể làm mọi thứ cùng một lúc, xét đến
chi phí khổng lồ liên quan đến việc chuyển giao. Đối với bất
kỳ ngôi nhà mới nào có thể cần trong tương lai, các Nữ tu sẽ
tự đứng tên mua chúng.
5. Tuy nhiên, vì những người Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ
các Giáo Hữu chia sẻ cùng tinh thần và Đấng Sáng lập, giữa
họ và chúng ta sẽ có lòng bác ái bao la, lòng biết ơn và sự tôn
trọng thâm sâu, nhưng không có quyền ưu tiên về bên này
hoặc nghĩa vụ phục vụ về bên kia.
6. Trong các vấn đề thiêng liêng, họ phụ thuộc vào các giám
mục tương ứng của họ vốn có nhiệm vụ chỉ định các cha giải
tội, giám đốc, v.v. Người Salêdiêng có thể đảm nhận việc
hướng dẫn chỉ khi được Đức Giám mục ở giáo phận nơi họ
sống giao phó hoặc ủy quyền. Những gì được nói về việc linh
hướng của các Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu cũng đúng
với bất kỳ hội dòng nữ nào khác.
7. Như các nữ tu khác có thể tận dụng công cuộc của những
người Salêdiêng, được thực hiện với sự cho phép thích đáng,
thì các Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu cũng có thể tận
dụng nó đặc biệt để được giúp đỡ kiên trì theo tinh thần của
Don Bosco, người Cha chung của chúng ta. Khi những Con
Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu chọn để tận dụng sự giúp đỡ

45.7 Page 447

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 447
của những người Salêdiêng, tốt hơn là họ tự yêu cầu xin Đức
Giám mục.
8. Qua gương mẫu và lời nói của mình, các vị Bề trên Salêdiêng
phải truyền tải cho những người thuộc quyền của mình nhiệm
vụ chỉ đi đến các cộng đoàn nữ tu do vâng phục và với sự cho
phép thích đáng; họ không được ở lại lâu hơn mức cần thiết
và luôn luôn phải cư xử với tác phong xây dựng nhất.
Tôi chắc chắn rằng nếu chúng ta thực hành những quy tắc
này, Thiên Chúa sẽ càng được tôn vinh và sẽ có lợi cho các
linh hồn mà người Cha đáng kính của chúng ta đã dạy chúng
ta tìm kiếm trong mọi hoàn cảnh và trong mọi hành động của
chúng ta.
Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng dâng mình trong Đền
Thờ mà chúng ta mừng lễ hôm nay, làm cho chúng ta luôn
xứng đáng hơn để dâng chính chúng ta và phục vụ trong nhà
Thiên Chúa bằng lòng nhiệt tình của chúng ta trong sự đạo
đức và sự thanh khiết của linh hồn chúng ta.
Xin hãy cầu xin Mẹ cho người thuộc về anh em trong Chúa
Giêsu và Mẹ Maria
Cha Micae Rua.580
Đoạn 5, 6 và 7 quy định các mối tương quan mới giữa người nam
và người nữ Salêdiêng, người nữ hiện đang phụ thuộc vào hệ thống
thứ bậc địa phương. Tuy vậy, cha Rua mạnh mẽ mong muốn rằng
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu phải tiếp tục trân trọng món quà
quý giá nhất của họ quả là rõ ràng: tinh thần nguyên thủy, tinh thần
của Don Bosco.
Trong thời gian này, Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu đã không
thể có thêm bất cứ điều gì. Sự hướng dẫn với tình phụ tử của người
kế nhiệm Don Bosco mà họ hết lòng mong muốn giữ lại đã bị từ
chối. Nhưng họ kiên trì và cha Rua không quên họ trong nhiều thử
thách của họ. Các sự kiện vào tháng Chín và tháng Mười năm 1907
580 L.C., 357-359.

45.8 Page 448

▲torna in alto
448 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đủ để minh họa điều này. Tháng Chín năm 1907, Con Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu đã tổ chức Tổng Tu Nghị đầu tiên sau khi chia tách
tại Nizza. Đức Giám mục Acquy chủ trì. Họ bầu các Bề trên, sau đó
yêu cầu sự tham gia của những người Salêdiêng. Cha Marenco đến
vào ngày 18 và cha Rua vào ngày 26 để bế mạc. Bài nói chuyện của
ngài triển khai lời cầu nguyện, ‘Ôi lạy Chúa, xin dạy con lòng tốt, kỷ
luật và kiến thức’. Nhân danh toàn Tu hội, các thành viên Tổng Tu
Nghị ký một tuyên bố về lòng sùng kính hiếu thảo với Don Bosco và
cha Rua.581 Một tháng sau, ngày 24 tháng Mười, tại nhà thờ Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu, ngài phát biểu những lời động viên cho một
nhóm các Nữ tu Salêdiêng chuẩn bị đi truyền giáo: ‘Các con hãy đi
làm việc trong cánh đồng truyền giáo nhưng chỉ vì vinh quang của
Thiên Chúa và vì lợi ích của các linh hồn’ là ý chính trong lời cổ vũ
của ngài. Hai ngày sau, khoảng ba mươi Con Đức Mẹ Phù Hộ các
Giáo Hữu gia nhập năm mươi nhà truyền giáo dòng Salêdiêng cho
buổi lễ chia tay truyền thống trong cùng một nhà thờ. Cuối cùng,
ngày 27 cha Rua đã huấn đức đặc biệt cho các Nữ tu Salêdiêng ở
Torino: ‘Các con hãy làm việc để vinh quang Thiên Chúa thêm tỏa
rạng’.582
Ngày 19 tháng Sáu năm 1917, mười một năm sau khi chia tách,
các Nữ tu nhận được một sắc lệnh của Tòa Thánh bổ nhiệm Bề Trên
Cả của người Salêdiêng làm ủy viên tông tòa cho các Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu. Tu hội ấy sẽ vẫn tự quản và quyền của các
Giám mục sẽ được bảo vệ nhưng hai năm một lần Bề Trên Cả hoặc
người đại diện của ngài sẽ phải đến kinh lý các cộng đoàn của Con
Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu paterno consilio. Mẹ Daghero vẫn tại
nhiệm. Trong buổi triều yết được ban cho bà ngày 14 tháng Giêng
năm 1919, Đức Biển Đức XV hỏi bà nghĩ sao về sắc lệnh. Bà đáp:
‘Thưa Đức Thánh Cha, cha đã đáp lại ước muốn sâu thẳm nhất của
con’.583 Thật vậy, nó đáp ứng mong muốn trong thư sự hướng dẫn
trong tình phụ tử mà các thành viên của Tổng Tu Nghị đã đặt hy
581 X. Amadei III, 342-343; Ceria, Vita, 412.
582 X. Amadei III, 351-352.
583 M. Wirth, Don Bosco et la Famille salésienne, 404.

45.9 Page 449

▲torna in alto
Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu | 449
vọng vào năm 1905. Cho dù cách nào bị hạn chế, các Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu sẽ sống lại thời gian hạnh phúc mà cha Rua
theo sát và khuyên bảo họ trong việc mở mang tuyệt vời của họ.

45.10 Page 450

▲torna in alto
450 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
30
Người Salêdiêng Mở Rộng
Vào Khúc Quanh Của Thế Kỷ
Ở Tunisia [Thổ Nhĩ Kỳ]
Cha Rua không hài lòng với việc mở rộng sự hiện diện của người
Salêdiêng ở lục địa châu Mỹ mà thôi; ngài còn dám mở các công
cuộc mới ở châu Phi, và thậm chí ở châu Á.
Những người Salêdiêng đã đến Algeria năm 1891. Vào thời điểm
đó Đức Hồng y Lavigerie đã than vãn rằng cha Rua thích Oran hơn
Carthage dù Don Bosco đã hứa với ngài ở Paris vào năm 1883. Năm
1894, người kế nhiệm của ngài Clément Combes (Lavigerie mất vào
năm 1892) không gặp vấn đề gì để có được người Salêdiêng hiện
diện của ở La Marsa (1895) gần Tunisia và sau đó tại chính Tunisia
(1896).
Các cuộc đàm phán được dàn xếp rất nhanh chóng. Ngày 11
tháng Tám năm 1894, Tu Nghị Bề trên đã chấp nhận đề nghị của
Đức Tổng Giám mục mới.584 Một thỏa thuận được soạn thảo ngày 7
tháng Mười Hai sau đó giữa Đức Giám mục Carthage và cha Rua,
trong đó điều khoản đầu tiên trình bày rằng ‘Đức Tổng Giám mục
Carthage giao cho những người Salêdiêng của Don Bosco chỉ đạo
viện mồ côi nông nghiệp hiện đang tọa lạc tại La Marsa, Tunisia’.585
Tu hội Perret, được đặt theo tên Đấng Sáng lập Perret từ Lyons, là
một ngôi nhà hẹp chỉ có thể chứa khoảng mười trẻ mồ côi nhưng nó
có một khu đất rộng. Đức Tổng Giám mục yêu cầu một linh mục và
hai cộng tác viên, các giáo sĩ hoặc giáo dân, mà ngài hứa trả lương
từ các quỹ giáo phận. Ngài cũng sẽ đóng góp hàng năm bốn trăm
584 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 11 tháng Tám, 1894, trong FdR
4241E11.
585 Thỏa thuận này được sao chép lại trong FdR 3497A3-5.

46 Pages 451-460

▲torna in alto

46.1 Page 451

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 451
franc cho mỗi trẻ mồ côi ‘được giáo phận gửi tới’ (khoản 3). Ngày
31 tháng Mười Hai, giám đốc được bổ nhiệm Antôn Josephidis
(1861-1919), cùng với thầy Serafino Proverbio, dong buồm từ Sicily
tiến đến Tunisia và La Marsa. Giám đốc là một người dám nghĩ dám
làm. Ngài nhanh chóng chào đón thêm khoảng hai mươi người trẻ
và xin được phép của Tu Nghị Bề trên để dựng thêm nhiều tòa nhà
rộng rãi hơn. Không lâu sau đó Đức ông Combes đồng ý với đề xuất
của cha Rua là mở một trường trung học cơ sở ở La Marsa. Thế là
một công cuộc ra đời mà sẽ nuôi dưỡng một số ơn gọi Salêdiêng tốt
lành, nổi bật trong số đó là Lu-y Mathias, Đức Tổng Giám mục tương
lai của Madras (1887-1965).
Sau một thỏa thuận khác giữa Đức Tổng Giám mục và cha Rua
(ngày 4 tháng Ba năm 1896), những người Salêdiêng định cư tại
chính Tunisia nơi họ được giao phó nhà nguyện Thánh Lucia, bệ
phóng cho giáo xứ Mân Côi với các Nguyện xá nở rộ.586 Thay vào
đó, các Nữ tu Salêdiêng tiếp quản việc hướng dẫn một công cuộc
dành cho các thanh thiếu nữ ở La Manouba không xa La Marsa.
Trong một chuyến hành trình thành công ở Tunisia từ 23 đến 30
tháng Ba năm 1900, cha Rua có thể hài lòng về kết quả của những
cơ sở mới mở này.587
Hiệp hội Quốc Gia Ý ở Alexandria
Nếu chúng ta đi từ Tunisia đến Ai Cập, chúng ta đối mặt với một
thể chế có mặt trên khắp vùng Cận Đông trong đó cha Rua đặt nhiều
tin tưởng với nguy cơ Ý hóa cách công khai công cuộc Salêdiêng
trong khu vực. Thư ký của Hiệp hội quốc gia cho việc trợ giúp các nhà
Truyền giáo Công giáo Ý - đó là danh hiệu chính thức của nó - là một
nhà Ai Cập học có tên Ernest Schiaparelli. Hiệp hội Quốc gia, được
những người được Công giáo thẳng thắn tạo ra, hưởng sự ưu ái của
chính phủ Ý và đã được công nhận là một cơ quan phi lợi nhuận theo
sắc lệnh Hoàng gia ngày 12 tháng Mười Một năm 1891. Sự công
586 X. Dự án thỏa thuận trong FdR 3497A1-2.
587 Cuộc hành trình này x. thư của Cha Rinetti gửi Cha Belmonte, ngày 23, 25, 29
tháng Ba và 1 tháng Tư trong FdR 3008D7-E8.

46.2 Page 452

▲torna in alto
452 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhận này cho nó tự do hành động trong lĩnh vực chính trị.
Ít nhất kể từ năm 1887 đã có cuộc nói chuyện gửi người Salêdiêng
đến Ai Cập. Một lá thư của Đức Hồng y Gioan Simeoni, Bộ trưởng
Propaganda Fide ngày 26 tháng Hai năm 1887, xác nhận điều này.588
Ở Alexandria có một cộng đồng đông đảo người Ý và người Malta.
Việc thanh niên bị hư hỏng sớm gây phiền muộn cho những ai biết
về nó nhạy cảm hơn, trên hết là những người Phanxicô, những người
hy vọng thành lập một trường nghề Salêdiêng để huấn luyện giới trẻ
về nhân bản và Kitô giáo. Ernest Schiaparelli nằm trong nhóm này.
Năm 1890, ông viết cho cha Durando: ‘Ở Alexandria hiện có hàng
trăm thiếu niên bị bỏ rơi thuộc mọi quốc tịch và tôn giáo, đặc biệt là
người Ý và người Malta. Học một nghề và nhận được một nền giáo
dục sẽ có nghĩa là cứu rỗi các em cả trong thế giới này và thế giới
tiếp theo.’589 Ông bảo đảm những người Salêdiêng sẽ được Hiệp hội
Quốc gia hỗ trợ.
Vào năm 1895, khi cha Antôn Belloni đi qua Ý, cha Rua yêu cầu
ngài tìm một miếng đất phù hợp ở Alexandria cho trường nghề
Salêdiêng như được đề xuất. Cha Belloni chọn một miếng đất có tiềm
năng xây dựng ở quận Bab-Sidra. Vấn đề trở nên phức tạp do người
Pháp từ trường De La Salle cạnh tranh. Tuy nhiên, người Salêdiêng
được Đức Tổng Đức Giám mục Guido Corbelli, Sứ thần Tòa Thánh ở
Ai Cập và Ả Rập, và qua ngài, chính Tòa Thánh, hỗ trợ. Cuối cùng
một thỏa thuận đã được ký kết tại Torino xứng đáng để được tường
thuật đầy đủ, vì với việc Ý hóa các công cuộc Salêdiêng - có một lý
do có tính sách lược, bởi vì làm như vậy sẽ tránh cho họ không phải
phụ thuộc chút nào vào người Pháp – trong một số khía cạnh quyết
định tương lai của họ trong toàn bộ vùng Cận Đông. Tài liệu có tựa
đề Thoả thuận giữa Bề trên Tổng quyền của Tu hội Salêdiêng và Hiệp hội
quốc gia trợ giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý, thiết định rằng:
Hôm nay, ngày 1 tháng Ba năm 1897, giữa cha Micae Rua, Bề
588 FdR 3165E8-9, thông tin tổng quát về việc thành lập và khởi đầu của công
trình Salêdiêng ở Alexandria.
589 Thư của E. Schiaparelli gửi C. Durando, Florence, ngày 3 tháng Sáu, 1890, trong
FdR 3169D2-3; cf. Annali II, 316.

46.3 Page 453

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 453
trên Tổng quyền của Tu hội Salêdiêng và Giáo sư Ernest
Schiaparelli, Tổng Thư ký và đại diện của Hiệp hội Quốc gia trợ
giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý ký tên dưới đây, đồng ý
những điểm sau:
Hiệp hội Quốc gia đảm trách trả tiền thuê đất tại cơ sở của Viện
kỹ thuật về nghệ thuật và hàng thủ công và tất cả các chi phí
phát sinh trong việc thành lập và bảo trì Viện nêu trên. Về phần
mình, Bề trên của Tu hội Salêdiêng bảo đảm cung cấp nhân sự
phù hợp cho Viện mà Hiệp hội Quốc gia dự định thành lập tại
Alexandria ở Ai Cập.
1. Trong Viện nêu trên, học tiếng Ý sẽ là bắt buộc đối với tất cả
học sinh.
2. Các thiếu niên thuộc mọi quốc tịch và tôn giáo sẽ được tiếp
nhận là học sinh ngoại trú.
3. Những ngày kỷ niệm sau đây sẽ được tưởng nhớ: ngày sinh
nhật của Vua và Hoàng hậu nước Ý và Ngày Hiến pháp [Quốc
khánh].
Trong mọi thứ khác, Viện sẽ hoàn toàn tự quản.
Thỏa thuận này có giá trị trong một năm, bắt đầu từ ngày hôm
nay và có thể được gia hạn không giới hạn hàng năm, trừ khi
bị một trong hai bên hủy bỏ, không ít hơn ba tháng trước ngày
hết hạn hàng năm của nó.
Xác nhận những điều nêu trên:
Đại diện Hiệp hội
E. Schiaparelli.590
Bề trên Tu Hội Salêdiêng
Cha Micae Rua
Vào năm 1943 cha Ceria sẽ bình luận về những lợi thế (ít nhất là
tạm thời) của giải pháp này vốn đặt Tu hội Salêdiêng dưới sự kiểm
soát của Hiệp hội Quốc gia Ý. ‘Trong các Tu hội do Hiệp hội quản
lý, các tu sĩ được phân công tác về đây không ra mắt như những nhà
truyền giáo nhưng chỉ là giáo viên, và Hiệp hội đại diện cho các
trường giao dịch với các nhà chức trách giáo hội, chính quyền địa
phương và các quan chức lãnh sự Ý. Do đó, các tu sĩ tự quản về vấn
590 Được giữ gìn trong FdR 3170A8-9; X. Annali II, 321.

46.4 Page 454

▲torna in alto
454 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đề với tất cả các cơ quan lãnh sự, nhiệm vụ duy nhất của họ là công
dân tốt để tỏ lòng tôn trọng Lãnh sự quán Ý’.591
Tuy nhiên, nhà sử học đã không dự đoán được rằng thời khắc mà
người Salêdiêng sẽ không còn là người Ý nữa, đã rất gần, cũng như
không dự đoán rằng, trên hết thảy toàn bộ khu vực sẽ đòi quyền tự
trị về chính trị và văn hóa của mình.
Constantinople và Smyrna
Vài năm sau, cha Rua đi đến một thỏa thuận với Hiệp hội Quốc
gia để thành lập hai cơ sở cùng một lúc ở Thổ Nhĩ Kỳ, một tại
Constantinople và một tại Smyrna. Hợp đồng cho Constantinople
được cha Rua và Giáo sư Schiaparelli cùng ký ngày 20 tháng Bảy năm
1903. Cha Rua cam kết mở một trường tiểu học cho các thiếu niên ở
Constantinople vào tháng Chín năm đó. Một khu vực cho việc đào
tạo nghề sẽ được thêm vào năm sau và dần dần các lớp khác nữa khi
nhu cầu phát sinh. Trước ngày 15 tháng Chín, Hiệp hội sẽ trả 7000
lire Ý để đền bù cho các chi phí ban đầu, cung cấp tài liệu học tập
và bảo đảm hỗ trợ vật chất và tinh thần.592
Ngày 26 tháng Sáu năm trước, qua Schiaparelli, Hiệp hội Quốc
gia đã cung cấp cho cha Rua hai trường học dành cho các thiếu niên
cho tháng Mười năm sau. Trường đã được chính phủ Ý mở tại Smyrna
năm 1878 nhưng đang tiêu tan ‘vì giáo dục Kitô hữu không được
nuôi dưỡng ở đó’. Hiệp hội sẽ chịu trách nhiệm trên các trường này
với các điều khoản tương tự như những cơ sở được nhận làm trường
học ở Ai Cập và Tripoli.593 Cha Rua và Hội đồng của ngài vội vã đưa
cho Schiaparelli một câu trả lời tích cực, đến nỗi biên bản cuộc họp
của Tu Nghị Bề trên ngày 21 tháng Tám năm 1903 ghi nhận: ‘Người
Salêdiêng sẽ lên đường vào tháng Chín và sẽ tiếp quản các trường
học tại Smyrna'’.594
591 Annali, II, 322.
592 X. Annali, III, 414-421.
593 X. Thư của E. Schiaparelli gửi M. Rua, Torino, ngày 26 tháng Sáu, 1903 trong
FdR 3486B3-5.
594 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 21 tháng Tám, 1903 trong FdR 4244A3.

46.5 Page 455

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 455
Mọi thứ đã không diễn ra quá thuận lợi ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 21
tháng Tám năm 1905, Tu Nghị Bề trên để ý đến một khiếu nại mà
Lãnh sự Ý đã gửi đến Schiaparelli. Ông tuyên bố không hài lòng với
công cuộc của người Salêdiêng tại Smyrna; họ mong đợi nhiều hơn.
Vì trường lớp bắt đầu lại vào ngày 5 tháng Chín, một bức điện được
gửi đến Alexandria nói cha Cardano đến Smyrna trong hai hoặc ba
tuần để bắt đầu các lớp học và xưởng. Hội đồng hứng khởi xem xét
giám đốc nào nên được phụ trách công việc.595
Hiệp hội Quốc gia cũng đang vất vả để tôn trọng nghĩa vụ tài
chính của mình đối với các trường Smyrna, như tài liệu của những
năm tiếp theo chứng nhận, đặc biệt là Bản ghi nhớ liên quan đến nhà
ở Smyrna, ngày 17 tháng Hai năm 1906 ký dưới đây. Giọng điệu của
nó xem ra âu lo; các khoản nợ của công trình lên tới 35-40.000 lire
Ý; kết quả là cần phải đóng cửa khóa học nghề, ít nhất tạm thời, vì
nó tốn kém nhất, khi giả định như Hiệp hội sẽ tiếp tục chi ngân phiếu
sáu ngàn franc hàng năm mà hầu như không đủ (có lẽ thậm chí
không đủ) để hỗ trợ Trường Phổ cập Punta. Biện pháp này không
được xem là bất công; theo Memorandum [Biên bản ghi nhớ] thì không
phải, bởi vì, ngay từ đầu, Hiệp hội Quốc gia không tôn trọng thỏa
thuận vì nó bỏ mặc điều khoản về tài liệu học tập và xiết chặt các chi
phí về nước, hơi đốt và dầu sưởi ấm.596
Hiệp hội Quốc gia và những công cuộc Salêdiêng ở Palestine
Trong khi đó, Giáo sư Schiaparelli và Bề Trên Cả đang hướng chú
ý đến các công cuộc Salêdiêng ở Palestine, những công cuộc duy
nhất ở Cận Đông chưa dính líu tới Hiệp hội Quốc gia. Những hoàn
cảnh chính trị vào đầu thế kỷ tạo thuận lợi để thay đổi hệ thống bảo
hộ. Không hối tiếc, chính phủ chống Giáo hội của Pháp đang từ bỏ
quyền bảo hộ cũ của mình đối với người Công giáo và những sứ vụ
Công giáo của khu vực. Tình thế như vậy đủ để chuyển những nhà
tại Bêlem, Beitgemal, Cremisan và Nadaret cho chế độ bảo hộ Ý để
thảo một hợp đồng nối chúng với những người thụ hưởng của Hiệp
595 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 21 tháng Tám, 1903 trong FdR 4245B6
596 Bản ghi nhớ này được tìm thấy trong FdR 3486C8-D1. Tổng thể Smyrna (Izmir)
vào thời Cha Rua x. FdR 3484E10-3487C6.

46.6 Page 456

▲torna in alto
456 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hội Quốc gia trợ giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý. Vấn đề được
xem xét tại Constantinople và tại Rôma.597 Ý sẽ đạt được một thỏa
thuận với Pháp thông qua các đại sứ bảo trợ tương ứng của họ. Vì
cần được Tòa Thánh đồng ý cũng như Nước Ý không có bất kỳ đại
diện ngoại giao nào ở đó, Hiệp hội đã phụ trách các thủ tục. Do đó
ngày 9 tháng Chín năm 1904, cha Rua cùng với Schiaparelli ký một
thỏa thuận đáng được trích dẫn vì hậu quả tương lai của nó đối với
người Salêdiêng Ả Rập tại Palestine.
Lời nói đầu: 1) Như các tài liệu được đăng ký với Lãnh sự quán
Hoàng gia Ý ở Giêrusalem cho thấy, bất động sản của Bêlem,
Cremisan, Beigemal và Nadaret và mọi sự nằm trong đó, trước
đây là tài sản của Kinh sĩ Belloni quá cố vốn được nhiều người
thương tiếc, một thần dân Ý, ngoại trừ các quyền của Bộ Truyền
bá Đức tin, đã trở thành bất động sản của nhiều cá nhân khác
nhau, tất cả đều là thần dân Ý. 2) Do những trường hợp này,
bản thân bất động sản và các cơ sở tọa lạc ở đó, về mặt chính
trị phải rớt vào sự bảo hộ tự nhiên và trực tiếp của Lãnh sự
Hoàng gia Ý; giữa cha Micae Rua, Bề trên của người Salêdiêng,
đại diện cho chính cộng đoàn, và Giáo sư Ernest Schiaparelli,
thư ký của Hiệp hội Quốc gia trợ giúp các nhà Truyền giáo Công
giáo Ý, cũng đại diện cho cơ quan này, thỏa thuận sau đây đã
được soạn thảo:
Khoản 1. Cha Micae Rua đặt tất cả các Tu hội Salêdiêng ở
Palestine dưới sự bảo hộ độc quyền của các Lãnh sự Hoàng gia
Ý.
Khoản 2. Cha Rua đảm nhận: a) thêm một khóa học nghề cho
cơ sở tại Bêlem; b) chấp nhận bắt buộc việc dạy tiếng Ý, cùng
với ngôn ngữ địa phương, sẽ là ngôn ngữ chính thức của các
Viện và sẽ được các em học sinh làm theo trong đàm thoại và
bởi các giáo viên trong tất cả các lớp học của họ; c) treo cờ quốc
gia trong tất cả các cơ sở được nói tới tại nơi chốn trung tâm và
danh dự vào tất cả các ngày lễ chung và vào những ngày sinh
nhật của Hoàng gia, Vua và Hoàng hậu Ý.
597 X. Annali III, 536-537.

46.7 Page 457

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 457
Khoản 3. Các giám đốc của các cơ sở nói trên có quyền tự quản
hoàn toàn trong các chính sách tôn giáo, đạo đức, giáo dục, kỷ
luật và giáo khoa. Tuy nhiên họ sẽ xét thấy bản thân rất được
vinh dự khi các Đại biểu của Hiệp hội đến thăm để biết chắc
kết quả giảng dạy tốt đẹp và các chuyến thăm và can thiệp của
Lãnh sự Hoàng gia, đặc biệt là vào những dịp long trọng.
Khoản 4. Về phần mình, bằng cách khuyến khích, Hiệp hội
cam kết a) cung cấp cho các cơ sở nói trên một khoản tiền hàng
năm là 12.000 lire Ý, trả góp mỗi ba tháng là 3.000 lire; b)
cung cấp các vật liệu học tập của Ý hoàn toàn cần thiết cho
chính các tổ chức.
Khoản 5. Thỏa thuận hiện tại sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng
Chín năm 1904 và sẽ được gia hạn hàng năm trong thời gian
không xác định trừ khi bị một trong các bên rút lại, ba tháng
trước ngày hết hạn thông thường.
Thỏa thuận hiện tại đã được soạn thảo ngày 9 tháng Chín năm
1904 thành hai bản chính, được cả hai bên ký.
Cha Micae Rua, Bề Trên Cả Tu hội Thánh Phanxicô Salê
Ernesto Schiaparelli, Tổng thư ký Hiệp hội Quốc gia.598
Ta có thể dự đoán nhiều kháng cự trong môi trường dân tộc đa
dạng của Palestine, đặc biệt với các điểm đề cập đến quyền sở hữu
của Ý đối với các nhà Salêdiêng ở Palestine và việc bắt buộc sử dụng
tiếng Ý trong đàm thoại và giảng dạy. Nhưng Torino từ chối lắng
nghe. Trong thời gian này, năm 1904 khi có thông báo về sự thay
đổi trong chế độ bảo hộ, cha Carlo Gatti từ chức.599 Ngài không đánh
giá cao sự thay đổi của chế độ Bảo hộ và có quan hệ tốt với lãnh sự
quán Pháp. Đối với giám đốc tại Nadaret, Athanase Prun (1861-
1917), một người Pháp với thái độ nhất định, ngài từ chối bất kỳ sự
phụ thuộc nào vào Ý và cố gắng nhập lại sự bảo hộ của Pháp, khiến
Schiaparelli cắt một phần tư trợ cấp hàng năm cho các nhà
598 Bản văn gốc được tìm thấy trong F. Desramaut L’Orphelinat Jésus Adolescent,
290-291.
599 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 15 tháng Mười, 1904, trong FdR
4244B12.

46.8 Page 458

▲torna in alto
458 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Palestine.600 Vài năm sau, dưới thời cha Albera cai quản, căng thẳng
gia tăng liền sau phong trào Ả Rập. Các môn sinh Ả Rập của cha
Belloni phải nhắc các Bề trên rằng họ không phải là người Ý và sẽ từ
chối dạy giáo lý cho các em đồng bào của họ bằng một ngôn ngữ
mà họ hầu như không hiểu. Sự việc lên đến cực điểm trong 1917-
1918, trong nhiệm kỳ của cha Giám tỉnh Lu-y Sutera (1869-1948),
người không thích họ. Trong khi cuộc chiến tranh diễn ra giữa Thổ
Nhĩ Kỳ và Ý, họ đã giành được quyền kiểm soát ở Bêlem. Do đó
những người Salêdiêng Ý ở Beitgemal và Bêlem phải chịu nhiều đau
khổ và trong một số trường hợp thậm chí còn bị các hội viên của
mình tố cáo. Cuộc nổi loạn của người Ả rập sẽ bị dẹp tan khốc liệt
vào cuối cuộc chiến năm 1919 bởi Bề trên kinh lý, cha Phêrô
Ricaldone và sẽ dẫn đến một số linh mục Salêdiêng người Ả rập xin
nhập tịch vào tòa Thượng phụ Latinh.
Một cách vô thức, cha Rua đang giúp cho vụ việc về ý thức Ý, được
trù định sau này sẽ do Mussolini tự hào phát triển trong thời kỳ giữa
hai cuộc chiến tranh. Và những người Salêdiêng tự làm hại mình với
thỏa thuận năm 1904 với Hiệp hội Quốc gia Ý sẽ thất bại trong việc
hội nhập văn hóa vốn được hy vọng nhiều ở vùng Cận Đông.601
Những người Salêdiêng ở Trung Hoa
Trong những năm đầu của thế kỷ hai mươi, cha Rua cũng cử người
Salêdiêng đến vùng Viễn Đông, đến vùng đất Macao của Bồ Đào
Nha ở Trung Hoa, và đến Mylapore, gần Madras (Chennai), Ấn Độ.
Có một niềm tin rộng rãi trong các nhóm người Salêdiêng vào
thập niên 1890 rằng vào tháng Mười năm 1886, khi nói về các sứ
vụ ở Trung Hoa với cha Arthur Conelli (1864-1924), Don Bosco đã
dự tính ngày nào đó phái cha đến đấy.602 Vị linh mục ấy đã nói về
việc này với một người bạn Dòng Tên trong Civiltà Cattolica, cha
600 Những than phiền của Schiaparelli về Nadaret được Tu Nghị Bề trên ghi biên
bản trong các buổi họp ngày 10 tháng Tư, 7 và 8 tháng Tám và ngày 18 tháng
Mười Một, 1905, trong FdR 4244E10, 4245B1-2.
601 Về vấn đề bảo hộ và hậu quả của nó đối với người Salêdiêng trong suốt Thế
Chiến I, x. F. Desramaut, L’Orphelinat Jésus Adolescent, 49-63, 127-139.
602 Liên quan đến cơ sở ở Macao, x. Annali III, 596-605.

46.9 Page 459

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 459
Phanxicô Xaviê Rondina, người đề nghị cha chuẩn bị lòng trí cho
những người Salêdiêng đến bằng cách gửi một số tài liệu về Don
Bosco và công cuộc của ngài tới Macao và Hong Kong. Sau đó báo
chí địa phương đã xuất bản một số bài báo.603 Cha Rua khuyến khích
cha Conelli làm như vậy.604 Vì vậy, ngài gửi cho cha Rondina tiểu sử
của Don Bosco được Charles d’Espiney và Albert du Boys viết, một
ấn phẩm của Đức Giám mục Spinola và một số thư luân lưu của cha
Rua.
Việc vun trồng đâm rễ. Chín năm sau, Sứ Thần Tòa Thánh tại
Lisbon, Andrea Ajuti, Đức Tổng Giám mục trên danh nghĩa của
Damietta, gửi cho cha Rua yêu cầu sau đây từ Đức Giám mục Macao,
Đức Giám mục José Manuel de Carvalho, ngày 2 tháng Tư năm 1899:
‘Tôi cần một trại trẻ mồ côi nam nơi đó họ dạy nghề, hầu tại đó
bằng cách này những thiếu niên tội nghiệp có thể được thu hút và
được giáo dục, có thể được ơn trở lại quay về Đạo Thánh chúng ta.
Theo quan điểm này, tôi nghĩ đến Tu hội của Don Bosco. Do đó, tôi
tìm kiếm sự giúp đỡ và bảo vệ của Đức Cha trong nhiệm vụ này, xin
Đức Cha ân huệ đặc biệt để nhận được từ Bề trên Tổng quyền của Tu
hội ấy hai hoặc ba anh em để khởi sự, bởi vì phương tiện của chúng
tôi rất giới hạn. Và khi Đức Cha cho phép tôi làm như vậy, tôi sẽ liên
lạc với cha ấy để chúng tôi có thể đạt được thỏa thuận về các điều
kiện mà họ có thể đặt ra để đến đây’.605
Không thể dự liệu một công cuộc Salêdiêng giảm xuống chỉ còn
hai hay ba sư huynh. Hiến Luật không cho phép như vậy, như cha
Rua nhận xét; ít nhất một linh mục sẽ phải có mặt. Mặc dù vậy, ngài
đồng ý với nguyên tắc đó. Ngày 20 tháng Sáu năm 1899, Sứ thần
trả lời rằng Đức Giám mục de Carvalho, có lẽ đang quá cảnh tại
Lisbon, đồng ý thêm vào ít nhất một linh mục và một số chủng
sinh606 với các sư huynh cho trại trẻ mồ côi. Cho tới giờ dường như
603 X. Mười lá thư của F. Rondina gửi A. Conelli trong suốt năm 1890 trong FdR
3281B4-C12.
604 X. ví dụ thư của M. Rua gửi A. Conelli, Antwerp, ngày 14 tháng Năm, 1890
trong FdR 3888A5.
605 Thư của A. Ajuti gửi M. Rua ngày 25 tháng Năm, 1899 trong FdR 3281A6-7.
606 Thư của A Ajuti gửi M Rua ngày 2 tháng Sáu, 1899 trong FdR 3281A9-10

46.10 Page 460

▲torna in alto
460 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cha Conelli được đề cử dẫn đầu đoàn thám hiểm Trung Hoa. Cha Rua
gửi cho ngài một sứ điệp ngày 4 tháng Mười Hai: ‘Nếu cha nghĩ phù
hợp, giữa sự nghiêm túc và vui vẻ, hãy để Đức Hồng y Vanutelli biết
việc Don Bosco bổ nhiệm dành cho cha đến nhà Salêdiêng đầu tiên
ở Trung Hoa và các cuộc đàm phán hiện tại cho Macao’.607 Nhưng
Đức Giám mục de Carvalho qua đời (1904).
Người kế nhiệm ngài, Đức Giám mục João Paulino Azevedo vốn
đã ngưỡng mộ các xưởng của người Salêdiêng ở Lisbon, được thông
báo về các bước được Đức Giám mục de Carvalho thực hiện. Từ
Macao ngày 17 tháng Tư năm 1904, ngài viết thư cho cha Rua bằng
tiếng Bồ Đào Nha: ‘Tôi hoàn toàn chấp nhận kế hoạch đã được Bề
trên Tổng quyền và người tiền nhiệm của tôi đồng thuận. Tôi cảm
ơn ngài vì đã đề cập đến nhân chuyến viếng thăm Lisbon gần đây
của ngài.'
Công cuộc sẽ gồm những trẻ mồ côi Trung Hoa được trù định học
một nghề. Sẽ có một lưu xá sát nhập với nó cho các con cái của người
châu Âu hoặc người Bồ Đào Nha ở Macau vốn thường quan tâm
nhiều hơn đến kinh doanh và thương mại. Họ sẽ nhận được nền giáo
dục và hướng dẫn trong lưu xá và sau đó sẽ được một hộ trực đi kèm,
đến chủng viện học và các khóa học nghề ... Để lưu xá và xưởng khởi
sự hoạt động dưới sự chỉ đạo của người Salêdiêng, tôi nghĩ chúng ta
cần ít nhất một Giám đốc, ba hộ trực và ba thầy dạy nghề thủ công:
nghề may, đóng giày, in ấn. Tôi nghĩ không thể thiếu nhóm nhân sự
này ...’. Đức Giám mục cũng bày tỏ mong muốn rằng một trong
những hộ trực sẽ có thể dạy nhạc và chỉ huy một ban kèn đồng.608
Cha Rua chuẩn bị mọi thứ nhưng chờ một văn bản chính thức
trước khi cho phép những người truyền giáo của ngài đi Trung Hoa.
Cuối cùng, ngày 29 tháng Mười Hai năm 1905 tại Macao, Đức Giám
mục de Azevedo đã soạn thảo một bản dự thảo gồm mười hai điểm,
có hiệu lực trong bảy năm. Cha Rua sẽ gửi tối thiểu một giám đốc,
một hộ trực và bốn anh em để hướng dẫn và quản trị một trại trẻ
607 Thư của M Rua gửi A Conelli, Torino, ngày 4 tháng 12, 1899 trong FdR 3888B5
608 Thư của J P de Azevedo gửi M Rua, Macao, ngày 17 tháng Tư, 1904 trong FdR
3282A11.

47 Pages 461-470

▲torna in alto

47.1 Page 461

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 461
mồ côi (khoản 1). Việc giảng dạy sẽ diễn ra cả trong các trường học
và trong các xưởng (khoản 3). Giám đốc được cha Rua chọn sẽ có
toàn quyền tự do trong việc thi hành kỷ luật nội bộ của Tu hội (khoản
4). Đức Giám mục sẽ chịu trách nhiệm các chi phí (khoản 6). Ngài sẽ
nhận vé miễn phí để đi lại từ chính phủ (khoản 9).609 Đoàn thám
hiểm giờ đây được tổ chức và sẽ được cha Conelli dẫn dắt, người đã
chờ đợi khoảnh khắc này trong hai mươi năm. Không may, ngài ngã
bệnh vào đầu tháng giêng và buộc phải ở lại Ý. Vì vậy, ngày 17
tháng Giêng năm 1906, những người truyền giáo được chọn đi
Macao dong buồm từ Genoa dưới sự lãnh đạo của cha Lu-y Versiglia
(1873-1930).
Khi đến, nhiệm vụ đầu tiên của cha Versiglia, như vị đại diện của
cha Rua, là hoàn thành thỏa thuận. Ngài chấp thuận mười hai điều
khoản và ký cùng với Đức Giám mục vào ngày 20 tháng Hai năm
1906.610
Thật không may, cha Versiglia sẽ sớm bị buộc phải từ bỏ một số
hy vọng của mình có lẽ vì tình hình chính trị trở nên tệ hại nhanh
chóng ở Bồ Đào Nha, trong đó Macao là thuộc địa. Thật vậy, lấy lý
do là làm dịu lại tình trạng bất ổn gây ra bởi đảng Cộng hòa dưới
chế độ tai tiếng của vua Carlos I (1889-1908), giữa năm 1906 và
1908 đất nước phải chịu chế độ độc tài của João Chaanco II. Ngày
1 tháng Hai năm 1908, Carlos I và người thừa kế ngai vàng đã bị ám
sát; người thừa kế thứ hai, Manuel II, lên ngôi ở tuổi mười sáu. Căng
thẳng chính trị và dân tộc nổi lên bởi những sự kiện này trong thuộc
địa nhỏ Trung Hoa có thể dễ dàng tưởng tượng được. Ở đây nó là
“Mọi thứ cho Bồ Đào Nha”. Ngày 22 tháng Mười Một năm 1908,
cha Versiglia sẽ viết trong một báo cáo gửi cha Rua mà chúng tôi sẽ
kể đến.
Họ đã khởi sự thuận lợi. Ngày 6 tháng Năm năm 1906, trong một
lá thư gửi cho cha Rua, cha Versiglia bày tỏ niềm vui trong việc mở
một ‘Nguyện xá ngày lễ'.611 ‘Công việc của chúng tôi đang triển nở’,
609 Thỏa thuận theo dự án được giữ trong in FdR 3281D7-9.
610 Tài liệu được tìm thấy trong FdR 3282A12-B2.
611 X. Bollettino Salesiano, tháng Tám, 1906, 231-232.

47.2 Page 462

▲torna in alto
462 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Đức Giám mục Macao đã thông báo cho cha Rua vào ngày 16 tháng
Mười Một .612 Tuy nhiên, sau giai đoạn đầu hớn hở, tình hình của
những người Salêdiêng tại Macao đã xấu đi. Đức Giám mục đã đưa
vào trại trẻ mồ côi một ủy ban lệ thuộc chính phủ, như cha Versiglia
giải thích vào năm 1908. Trái với thỏa thuận, người Salêdiêng không
còn tự do nữa. Cha Versiglia đề xuất sửa đổi thỏa thuận và đảm trách
một sứ vụ thực sự trong khu vực. Như ngài nói với cha Rua, để làm
điều này ngài sẽ cần các chủng sinh, những người có thể học tiếng
Trung Hoa và được giao cho một nhiệm vụ đúng nghĩa ở chính Trung
Hoa. Đối với dự án này, cần có sự hỗ trợ của Thánh Bộ Truyền bá
Đức tin và Hiệp hội Quốc gia trợ giúp những nhà Truyền giáo Công
giáo Ý. Hơn nữa, ngài nghi ngờ rằng Đức Giám mục chỉ chờ hết hạn
hợp đồng bảy năm để giải tán những người Salêdiêng Ý. Tốt hơn là
nên thoát ra khỏi ngõ cụt đó, vốn do nhầm lẫn mà họ bước vào.613
Các sự kiện chính trị đẩy vấn đề đến chỗ ngặt nghèo. Ở Bồ Đào
Nha, Vua Manuel II vốn đã phản đối chế độ độc tài, mau chóng bị
lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Ngày 5 tháng Mười năm
1910, các nhà cách mạng tuyên bố là nhà nước Cộng hòa. Hiến pháp
giải tán các hội dòng tu, đã phá vỡ sự thông cảm giữa Giáo hội và
Nhà Nước, thông báo một nền giáo dục thế tục bắt buộc trong các
trường học và phê chuẩn quyền đình công. Kết quả là, cả ở thủ đô
và trong các thuộc địa, tu sĩ bắt đầu bị trục xuất khỏi các tu viện. Khi
người Salêdiêng bị trục xuất khỏi Macao năm 1911, họ đến Hong
Kong. Tuy nhiên, Chúa Quan phòng nhìn đến họ. Nhờ sự rủi ro này,
ước mơ truyền giáo của cha Versiglia cuối cùng cũng có thể trở thành
hiện thực. Người Salêdiêng tự thiết lập trên đất Trung Hoa, ở quận
Heung-Shan giữa Macao và Canton. Cuối cùng, công cuộc truyền
giáo thực sự của người Salêdiêng ở Trung Hoa có thể bắt đầu.
Công cuộc Salêdiêng ở Ấn Độ
Việc những người Salêdiêng vào Ấn Độ, và đặc biệt tới Mylapore,
612 Thư của J P deAzevedo gửi M Rua, Macao, ngày 16 tháng Mười Một, 1906,
trong FdR 3282B3-C5; cf. Annali III, 605.
613 Thư của L. Versiglia gửi M. Rua, Macao, ngày 22 tháng Mười Một, 1908 trong
FdR 3281A12-B3. Annali không biết đến tài liệu này.

47.3 Page 463

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 463
là kết quả của một loạt các cuộc đàm phán lâu dài giữa Giám mục
địa phương và cha Rua.614
Ngày 6 tháng Mười Hai năm 1898, Đức Giám mục Mylapore,
Antôn José de Souza Barroso viết một bức thư dài bằng tiếng Pháp
cho cha Rua, xin người Salêdiêng đến giáo phận của mình. Ngài rất
thông minh trong cách ngài nói, nhắc lại ý định của Don Bosco đối
với Ấn Độ. ‘Tôi biết các cha Salêdiêng và đã có dịp cảm kích những
công việc của họ. Don Bosco hăng hái mong muốn mở một nhà ở
Ấn Độ ... Do đó, tôi mạn phép cha, và cha thân mến, mời cha mở
một trại trẻ mồ côi tại Bandel, bên bờ sông Hoogly. Ở đó tôi có một
nhà thờ xinh đẹp và một đan viện rộng, cổ kính với đất đai vườn
tược tôi để cha tùy nghi sử dụng. Tôi có cảm giác rằng Bandel sẽ đáp
ứng được những nhu cầu của Tu hội của cha dành cho các thanh
thiếu niên địa phương một cách tuyệt vời, như tại Beitgemal ở
Palestine. Thứ hai là tôi có một trường cao đẳng với ba trăm sinh
viên theo học thuộc mọi tôn giáo, và bên cạnh đó, có một chủng
viện để đào tạo thanh niên châu Âu và trên hết là những thanh thiếu
niên địa phương trù định dành cho hàng giáo sĩ giáo phận địa
phương. Tôi cũng mời cha cai quản nó luôn.’615
Từ một chú thích của cha Rua trên lá thư, chúng ta biết rằng ngài
trả lời ngày 6 tháng Hai năm 1899: ‘Cho phép chúng con trì hoãn
một năm và sau đó chúng con sẽ sẵn lòng thương lượng’. Ngày 11
tháng Tư, ngay khi nhận được câu trả lời, Đức Giám mục De Barroso
thông báo với cha Rua rằng ngài đã được thuyên chuyển đến giáo
phận Porto ở Bồ Đào Nha nhưng sẽ trao lại lời hứa cho người kế
nhiệm mình, Theotonio Manuel Ribeiro Vieira de Castro. Đức Giám
mục mới có lý do cá nhân để hướng tới người Salêdiêng: ‘Hồn tông
đồ của Don Bosco thực sự muốn một hoặc nhiều cơ sở ở Ấn Độ. Vào
tháng Tám năm 1885, khi tôi học xong ở Rôma, tôi đi qua Torino
và đến một trong những ngôi nhà của hội dòng cha ở nông thôn để
614 Về cơ sở Salêdiêng trong giáo phận Mylapore (hoặc Meliapore) x. FdR
3515B11-3516D10 và bài tường thuật trong Annali III, 606-613, vốn hình thành
nền tảng của bài tường thuật của tôi.
615 Thư của A de Barroso gửi M Rua, ngày 6 tháng 12, 1898 trong FdR 3515C3-6.

47.4 Page 464

▲torna in alto
464 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nhận phép lành của Đấng Sáng lập thánh thiện của cha. Đặt tay lên
đầu tôi, ngài nói với tôi rằng ngài chúc lành cho những công việc
của tôi. Và công việc nào ngài sẽ chúc lành hơn là công việc rất cần
thiết và thích hợp để hợp tác trong việc cứu rỗi đời đời của 300 triệu
người không phải tín hữu ở Ấn Độ?’616
Để vận hành các cuộc đàm phán cần thiết cho việc thành lập một
trại trẻ mồ côi của Salêdiêng trong giáo phận của mình, Đức Giám
mục Ribeiro bắt đầu bằng việc gửi một linh mục của mình, cha L.X.
Fernandez đến cha Rua. Ngài đến giới thiệu mình với Bề Trên Cả
ngày 3 tháng Tư năm 1901 với một bản ghi nhớ được viết bằng
tiếng Latinh.617 Với sự thận trọng thông thường của mình, cha Rua
trả lời theo bốn điểm bằng cùng một ngôn ngữ: 1) ‘Scribat nobis
Episcopus’ [để Đức Giám mục viết cho chúng tôi]; 2) Cho phép thời hạn
trì hoãn bốn năm để người Salêdiêng chuẩn bị nhân sự; 3) Lo liệu
một chuyến hành trình gồm sáu người đến Mylapore và ít nhất một
chuyến hành trình khứ hồi; 4) Ngoài nhà ở cho người Salêdiêng và
học sinh của họ, cung cấp bất cứ thứ gì cần thiết cho họ trong khoảng
thời gian năm năm.618 Cha Rua không muốn gửi những người truyền
giáo của mình vào một cuộc phiêu lưu mà không có lối thoát. Tuy
nhiên, câu trả lời của ngài gửi Đức Giám mục đã bị thất lạc và các
cuộc đàm phán kéo dài trong một thời gian dài. Vì vậy, năm sau Đức
Giám mục Ribeiro nhờ ‘Đức Thượng phụ’ Goa, An Tôn Sebastian
Valente, người sẽ đi ngang qua Rôma, can thiệp với cha Tổng Đại
diện Marenco, và ngài đã báo cáo với cha Rua ngày 8 tháng Tư năm
1902.619 Không lo lắng, ngày 30 tháng Tư, cha Rua lặp lại các điều
kiện của mình, do đó thuyết phục Đức Giám mục Mylapore viết một
lá thư dài vào ngày Giáng sinh nhắc lại đề nghị của ngài về một trại
trẻ mồ côi. Ngài ghi rõ: ‘Sau khi xem xét tất cả các trường hợp, trong
số các sứ vụ của giáo phận của tôi, tôi đã chọn Tanjore làm địa điểm
cho trại trẻ mồ côi Salêdiêng của chúng ta. Tuy nhiên, khi các con
616 Annali III, 607.
617 X. tài liệu trong FdR 3515C10.
618 Bản thảo thư của M Rua gửi T M Ribeiro Vieira de Castro trong FdR3515C11-
12.
619 Thư của G. Marenco gửi M Rua, ngày 8 tháng Tư, 1902 trong FdR 35d15D3.

47.5 Page 465

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 465
cái của Don Bosco đến Ấn Độ, nếu họ nghĩ rằng một nơi khác trong
giáo phận của tôi phù hợp hơn, tôi sẽ không phản đối.’ Sau đó ngài
tiếp tục trình bày những lợi thế của thành phố Tanjore.620
Sau đó là một cuộc trao đổi thư từ giữa Đức Giám mục vốn rất
muốn đạt được mục tiêu của mình và cha Rua vốn quyết tâm không
gửi những người truyền giáo của mình đến Ấn Độ trước năm 1905.
Cuối cùng, ngày 19 tháng Mười Hai năm 1904, thỏa thuận được hai
bên ký tại Torino, Bề Trên Cả và Đức Giám mục Ribeiro, lúc đó đang
ở Ý trong chuyến thăm ad limina. Người ta cảm nhận được mối quan
tâm bảo vệ người Salêdiêng hết sức có thể để khỏi bị thải hồi mà
không có bất kỳ thu nhập nào của riêng họ và để mặc họ tự xoay sở
lấy ở châu Á xa xôi. Tuy nhiên, nếu họ được hỗ trợ tốt, họ sẽ được
tự do tiếp tục công việc của họ. Bây giờ chúng ta hãy đọc văn bản
Thỏa thuận đầy thú vị:
Đồng ý rằng:
1. Bề trên của người Salêdiêng sẽ gửi ít nhất sáu người đến giáo
phận Mylapore để chỉ đạo và quản lý một trại trẻ mồ côi nam
với trường nghề kèm theo.
2. Đức Giám mục sẽ chu cấp một chuyến đi ra nước ngoài miễn
phí (lớp 1 hoặc lớp 2) cho sáu người và ít nhất một chuyến
khứ hồi cho mỗi người và đối với những thay đổi mà trong
năm năm đầu, có thể phải được thực hiện cho vấn đề sức khỏe
hoặc động cơ hợp lý khác.
3. Trong năm năm đầu Đức Giám mục sẽ không chỉ cung cấp
nhà cửa, thực phẩm và quần áo cho người Salêdiêng và học
sinh của họ mà còn bao gồm tất cả các chi phí cần thiết của
cơ sở đó (nhà đó).
4. Mặc dù nhà (cơ sở) này sẽ thuộc quyền tài thẩm của Đức Giám
mục giáo phận, tuy nhiên, Giám đốc được Bề trên chỉ định sẽ
có toàn quyền tự do chỉ đạo, quản trị và thi hành kỷ luật nội
620 Thư của T M Ribeiro Vieira de Castro gửi M Rua ngày 25 tháng 12, 1902, trong
Annali III, 569.

47.6 Page 466

▲torna in alto
466 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
bộ trong cở sở này.
5. Việc tiếp nhận học sinh thuộc về cả Đức Giám mục và giám
đốc, chăm sóc để các thiếu niên được khỏe mạnh, được tiêm
ngừa, không dưới tám tuổi và không lớn hơn mười lăm tuổi.
6. Tuy nhiên, giám đốc có thể đuổi những người mà ngài thấy
không thích hợp cho trại trẻ mồ côi nhưng ngài sẽ thông báo
cho Đức Giám mục.
7. Người Salêdiêng sẽ cố gắng học tiếng Tamil và tiếng Anh vốn
là hai ngôn ngữ chính được sử dụng trong giáo phận.
8. Giám đốc và Đức Giám mục sẽ luôn cố gắng đồng ý mọi thứ,
vì sự khai trí của các linh mục và người dân địa phương và vì
lợi ích của linh hồn và mối lợi của Tu hội.
9. Cả hai bên sẽ có quyền giới thiệu những sửa đổi mà sau một
thời gian thử nghiệm hai năm, họ cho là hợp lý.
Torino, Nguyện xá Salêdiêng 19 tháng Mười Hai năm 1904
Ký tên:
Đức Giám mục Theotonio Mylapore
Cha Micae Rua Bề Trên Cả của người Salêdiêng Don Bosco.621
Cuộc viễn chinh truyền giáo gồm ba linh mục, một chủng sinh,
một sư huynh và một đệ tử; cha George Tomatis (1865-1925) lãnh
đạo họ. Họ giương buồm từ Genova ngày 18 tháng Mười Hai năm
1904. Cha Rua đã nài xin một phép lành đặc biệt cho họ từ Đức Giáo
Hoàng. Đức Piô X trả lời thông qua Bộ trưởng Ngoại giao Merry del
Val rằng: ‘'Đức Thánh Cha gửi một phép lành đặc biệt cho cha
George Tomatis và các bạn đồng hành sắp đi Ấn Độ và cầu xin Thiên
Chúa sẽ không chỉ biệt đãi họ trong hành trình dài mà còn khiến sự
mệt mỏi của họ sinh hoa trái, để sứ mệnh mới có thể khiến các con
cái Don Bosco xứng đáng hơn với Giáo hội.’622 Họ cập cảng Bombay
621 Thỏa thuận được sao chép lại trong FdR 3516C8-12; x. Annali III, 570, ghi
chú.
622 Annali III, 571.

47.7 Page 467

▲torna in alto
Người Salêdiêng Mở Rộng vào Khúc Quanh của Thế Kỷ | 467
ngày 6 tháng Giêng năm 1905 và đến Tanjore vào ngày 14.
Như vậy một công việc truyền giáo ở Ấn Độ được trù định đã ra
đời, qua nhiều năm, để đạt được một sự mở rộng phi thường. Đây
là lần gieo trồng thành công thứ hai ở vùng Viễn Đông mà cha Rua
chịu trách nhiệm. Về sự phát triển toàn cầu của Tu hội của ngài,
nhiệm kỳ Bề Trên Cả của ngài mang tính quyết định cho châu Á như
Don Bosco đối với Nam Mỹ.

47.8 Page 468

▲torna in alto
468 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
31
NĂM 1907
Vụ việc phong chân phước của Don Bosco
Năm 1907 là một năm vui vẻ tràn trề dành cho cha Rua, một niềm
vui, nhưng đồng thời cũng đi kèm đau khổ do một phiên tòa khủng
khiếp.
Vụ việc tuyên thánh của Don Bosco mà ngài rất nặng lòng với nó,
đã đi đến giai đoạn quyết định. Độc giả sẽ cho phép chúng tôi quay
trở lại năm 1888 để hiểu rõ hơn về vấn đề này. Quá trình tuyên chân
phước và tuyên thánh trên thực tế thật khá phức tạp, hầu như là vòng
đua vượt chướng ngại vật. Được Đức Hồng y Bảo trợ và các vị bảo
trợ Salêdiêng trợ giúp, cha Rua đã qua được giai đoạn đầu tiên. Năm
1907, ngài có thể thông báo cho Tu hội rằng ‘Don Bosco là Đấng
Đáng Kính’. Nhưng ngài đã phải chịu đựng mười chín năm mới đạt
được kết quả quan trọng đầu tiên đó.623
Đầu tiên ngài phải được Đức Tổng Giám mục Torino chấp thuận
để khai mạc tiến trình cấp giáo phận của việc tuyên chân phước và
tuyên thánh vốn sẽ làm cho thủ tục mới tiến hành. Ngày 16 tháng
Bảy năm 1889, cha Rua khởi sự bằng cách gửi một thư luân lưu cho
các Giám mục của Piedmont và Liguria về danh tiếng sự thánh thiện
và những phép lạ của Don Bosco.624 Bằng phương pháp khuyến
khích, ngày 16 tháng Tám, ngài gửi cho họ một bức thư thứ hai dẫn
chứng bằng tư liệu một số vụ chữa lành nhận được qua sự cầu bầu
của Don Bosco mà con người không giải thích được.625 Một số Giám
623 Ở đây tôi dựa chủ yếu vào nghiên cứu được chứng minh bằng tư liệu rõ ràng
của P. Stella, Don Boco nella storia della religiosità cattolica, vol.III: La canonizzazione,
Rôma, LAS, 1988, 61-148.
624 X. MB XIX, 35-36.
625 X. M.B. XIX, 36.

47.9 Page 469

▲torna in alto
Năm 1907 | 469
mục trả lời bày tỏ lời ca tụng và khen ngợi. Vì vậy, ngày 6 tháng
Chín, ngài đã có thể yêu cầu bốn mươi chín thành viên của Tổng Tu
Nghị, tập hợp tại Valsalice, ký một đề nghị được dẫn chứng rõ ràng
bằng tư liệu gửi cho Đức Hồng y Alimonda để nhanh chóng mở tiến
trình. Ngài đính kèm các lá thư của các Giám mục để thỉnh cầu. Đơn
thỉnh cầu của các thành viên Tổng Tu Nghị bắt đầu: ‘Chúng con tin
rằng Đức Hồng y sẽ vui lòng xem xét lời chúng con thỉnh cầu. Niềm
hy vọng của chúng con được mở rộng bằng cách nhìn thấy các Đức
Giám mục Piedmont và Liguria, những người có thể biết được những
nhân đức nổi bật và những công trình vĩ đại của Tôi Tớ Thiên Chúa,
cũng đồng ý với chúng con và ấp ủ cùng một mong muốn, như Đức
Hồng y sẽ nhận thấy từ những bức thư mà chúng con trình bày.’
Cùng với một bức thư của cha Rua, đơn thỉnh cầu chỉ được trao cho
Đức Hồng y Torino ngày 31 tháng Giêng năm 1890, có lẽ để có thời
gian thu thập nhiều thư hơn từ các Giám mục.626 Ngày 8 tháng Hai,
Đức Hồng y trả lời tán thành nhưng yêu cầu trì hoãn một chút, có lẽ
e rằng một số Giám mục phản đối. Tuy nhiên, ngày 8 tháng Năm,
mọi thứ được suôn sẻ khi trong một hội nghị khoáng đại của các
Giám mục thuộc các tỉnh Torino và Vercelli, chính ngài đã đề cập đến
vấn đề này. Đơn thỉnh cầu của người Salêdiêng được nhất trí chấp
thuận. Thực vậy, hai Giám mục (Manacorda và Richelmy) nổi bật vì
sự nhiệt tình của họ đối với Don Bosco. Cùng ngày Đức Hồng y
Alimonda quyết định mở quy trình cung cấp thông tin.
Công việc tiến hành nhanh chóng. Ngày 2 tháng Sáu, cha Rua bổ
nhiệm cha Bonetti làm Tổng Thỉnh viên [Postulator] của án kiện tuyên
thánh; ngày hôm sau, cha Bonetti đã trình bản thỉnh nguyện cho Đức
Tổng Giám mục. Người ta phải lập tòa án. Đức Tổng Giám mục đã
xem xét nó trong một thời gian và thiết lập nó ngay lập tức.627 Cha
Rua có thể rất hài lòng về việc này. Nhiệm vụ của người cổ xúy đức
tin (tổng công tố viên, thường được gọi là công tố viên của quỷ) đã
được giao cho Giáo sĩ Micae Sorasio vốn có thiện cảm với người
Salêdiêng thay vì Giáo sĩ Emanuele Colomiatti, nổi tiếng vì ngài phản
626 X. M.B. XIX, 38-41.
627 X. M.B. XIX 42, 398.

47.10 Page 470

▲torna in alto
470 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đối mãnh liệt vụ án tuyên thánh của Don Bosco. Ngài sẽ phải hài
lòng với việc hành động ở hậu trường, viết thư cho Đức Hồng y
Caprara ở Rôma. Ngày 6 tháng Sáu, cha Rua khá xúc động và rõ
ràng là lo lắng, đã viết một thư luân lưu dài cho người Salêdiêng về
việc mở ra quá trình tuyên chân phước cho Đấng Sáng lập. Ngài xin
các hội viên và học sinh mỗi ngày khẩn cầu Chúa Thánh Thần soi
sáng và Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu bảo trợ, cả ở nơi công cộng
và riêng tư, cho Đức Tổng Giám mục Torino, cho các thành viên của
tòa án mà ngài đã chọn, cho Tổng thỉnh viên của án tuyên chân
phước và cho tất cả những người được gọi là để làm chứng. Họ sẽ
cầu nguyện rằng nhờ ơn trên hướng dẫn, những người liên quan
không được nói hoặc làm điều gì, cũng không được bỏ sót bất cứ
điều gì trái ngược với các sắc lệnh của Giáo hội liên quan đến vấn đề
này.628 Những khó khăn không ngờ được trong thủ tục khiến ngài lo
lắng.
Hai phiên họp đầu tiên của quá trình này được tổ chức vào các
buổi sáng ngày 4 và 27 tháng Sáu. Trong phiên họp thứ hai, cha
Bonetti đệ trình cho tòa án một loạt các điểm hoặc bài viết. Biết một
điều gì đó về nguồn gốc của chúng có thể là hữu ích vì chúng sẽ
hướng dẫn lời khai của các nhân chứng.
Vào lúc Don Bosco qua đời, cha Rua đã yêu cầu cha Bonetti làm
một bản tóm tắt cuộc đời và các nhân đức của Đấng Sáng lập, xét
đến cơ hội có thể được tuyên thánh. Với sự hỗ trợ thành công của
chuyên viên lưu trữ văn thư, Gioakim Berto, Bonetti đã viết thành
bốn quyển vở với hơn tám trăm bài báo (hoặc đoạn văn). Theo lời
khuyên của cha Tổng Đại diện Caesar Cagliero ở Rôma, Bonetti đã
trình chúng cho luật sư Rôma, Hilario Alibrandi. Năm 1890, bản văn
dài đã được rút ngắn cho phù hợp và các bài báo giảm xuống còn
406 trang. Phần đầu tiên kể lại cuộc đời của Don Bosco và danh tiếng
thánh thiện quanh ngài. Phần thứ hai được trình bày, với bằng chứng
tài liệu, nhân đức anh hùng mà ngài đã thực hành theo ba nhân đức
đối thần (đức tin, đức cậy và đức mến), bốn nhân đức trụ (khôn
ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ), các nhân đức phù hợp với
628 L.C., 45-48.

48 Pages 471-480

▲torna in alto

48.1 Page 471

▲torna in alto
Năm 1907 | 471
bậc tu trì (khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục) và cũng là những
nhân đức luân lý chính, trên tất cả, lòng đạo đức và sự khiêm nhường
(nhân đức cuối cùng này đã được thêm vào theo lời khuyên của
Alibrandi). Các bài báo nhắm cho thấy có những nhân đức này trong
cuộc đời của Don Bosco đặc biệt trong quãng đời khó khăn của mình,
ngài phải đối mặt với những khó khăn trong gia đình và xã hội, bệnh
tật, bị ma quỷ cám dỗ và dày vò, những hiểu lầm về phía họ hàng
và các cộng tác viên, các bề trên và các chức sắc dân sự và tôn giáo.
Các bài báo kết thúc với lời minh định rằng tất cả mọi thứ về Don
Bosco chứng tỏ ngài có sự tương hợp hoàn hảo với ân sủng, kiên trì
làm việc lành và sự anh hùng trong ‘nhân đức’ của ngài theo nghĩa
rộng nhất của từ này. Đọc những bài viết này chắc hẳn làm cha Rua
vô cùng hài lòng; ngài đã sẵn sàng làm một nhân chứng tham gia
trong quá trình này.
Các lời khai trong quá trình cung cấp tài liệu (informative
process)
Hai mươi tám nhân chứng được cha Bonetti tập hợp xuất hiện
trước tòa án trong nhà nguyện của chủng viện tổng giáo phận trong
khóa họp thứ ba (23 tháng Bảy năm 1890).629 Có một Giám mục
(Đức Giám mục Bertagna), tám linh mục giáo phận với nhiều tước
hiệu khác nhau, chín linh mục dòng Salêdiêng (với cha Rua ở hàng
đầu), hai sư huynh và tám giáo dân (các doanh nhân, nông dân và
một thợ lót gạch). Vào cuối buổi điều trần, số lượng nhân chứng tăng
lên bốn mươi lăm, sáu người trong số họ đã được chọn ex officio, và
một người khác, linh mục giáo phận, Gioan Turchi, được người
Salêdiêng thuyết phục để tham gia vì họ quan ngại đến tình thế xoay
chuyển do vụ việc các cuốn sách mỏng chống Gastaldi bị quy là do
Don Bosco.630
629 X. danh sách các nhân chứng trong P. Stella, La canonizzazione..., 75.
630 X. danh sách cuối cùng các nhân chứng thực sự được thẩm vấm trong Taurinen.
Beatificationis et Canonizationis Servi Dei Ioannis Bosco Sacerdotis Fondatoris Piae
Societatis Salesianae. Positio super Introductione Causae. Summarium et Litterae
Postulatoriae, Rôma, Schola Typ. Salesiana, 1907, 1-22 (được trích Positio). Xem
thêm chi tiết: x. P. Stella, La canonizzazione...,117-124.

48.2 Page 472

▲torna in alto
472 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Cha Rua được gọi là một nhân chứng chỉ lúc bắt đầu của năm năm
dài dành cho quá trình cung cấp tài liệu. Trong khi đó, Tổng Thỉnh
viên Gioan Bonetti đã qua đời (ngày 5 tháng Sáu năm 1891) và đã
được Phó Tổng Bề trên, Đaminh Belmonte (1843-1901) thay thế. Tòa
án đã nghe cha Rua nói tại ba mươi tám buổi, dao động từ ngày 29
tháng Tư đến ngày 10 tháng Bảy năm 1895.631 Ngài trả lời chi tiết
các câu hỏi về công tác mục vụ đầu tiên của Don Bosco, về việc thành
lập và sự mở rộng Tu hội Salêdiêng, và đặc biệt những việc truyền
giáo ở Nam Mỹ. Đây là tất cả các tình hình mà bản thân ngài trực
tiếp biết và đích thân ngài thường can dự. Rõ ràng ngay từ đầu rằng
với những câu hỏi thứ hai mươi mốt và hai mươi hai, ngài đã không
mất thời gian khi cho thấy mức độ anh hùng của các nhân đức đối
thần trong cuộc đời của Đấng Sáng lập. Ngài có đức tin không?
‘Trong suốt ba mươi sáu năm tôi sống cạnh Don Bosco, tôi luôn luôn
nhận thấy ở ngài sự chính xác và nhạy cảm tuyệt đối trong việc tuân
theo các điều răn của Thiên Chúa và của Giáo Hội’ (Positio, 436). Còn
đức cậy thì sao? ‘Sự tin cậy vào Thiên Chúa thật hiển nhiên bất cứ khi
nào ngài phải thực hiện những công việc khó khăn hoặc đồ sộ’
(Positio, 478). Còn đức mến Thiên Chúa của ngài? ‘Tôi tớ Thiên Chúa
nổi trội trong tất cả các nhân đức, nhưng có thể nói mạnh mẽ rằng
lòng bác ái tỏa sáng nơi ngài cách đặc biệt’ (Positio, 503). Tình yêu
của ngài dành cho người lân cận thế nào? ‘Được tình yêu Thiên Chúa
khởi hứng, ngài không thể khác hơn là bừng cháy lòng mến với
người lân cận. Tôi đã đề cập rằng ngài là thiên thần hộ mệnh của
những người bạn đồng trang lứa của ngài [...] Một khi đã được thụ
phong, cuộc sống của ngài trở thành một mạng lưới các công việc
bác ái không ngưng nghỉ’ (Positio, 555).
Về vấn đề sự khôn ngoan của Don Bosco, cha Rua trả lời: ‘Tôi
mong ước được thêm một điều gì đó về sự khôn ngoan anh hùng
của Tôi tớ Thiên Chúa. Dù ngài giao tiếp với tầng lớp nào, giàu hay
nghèo, ngài luôn tử tế như nhau và ngài đã rất nỗ lực để không làm
ai ra về phải khó chịu’ (Positio, 595). Trả lời các câu hỏi về nhân đức
631 Những đóng góp trong lời khai của Cha Rua được tìm thấy trong FdR 2405D12-
2414D3

48.3 Page 473

▲torna in alto
Năm 1907 | 473
của công bằng, ngài khẳng định: ‘Ngài cũng thể hiện sự tôn trọng
đối với các chức sắc dân sự và chính phủ, cũng như không thiếu sự
tôn trọng dành cho người đứng đầu Nhà Nước’ (Positio, 630). Về sức
mạnh đạo đức, ngài tuyên bố: ‘Don Bosco dũng cảm kiềm chế các
đam mê, chịu đựng sự mệt mỏi, những bất tiện và khổ cực, điều đó
thật đáng ngưỡng mộ và đầy anh hùng, cũng như khi ngài dấn thân
và kiên trì trong những nhiệm vụ gay go nhất. Cha Rua đào sâu điều
này với nhiều dẫn chứng để chứng minh (Positio, 667). Theo Bề Trên
Cả, sự tiết độ của Don Bosco liên quan đến lòng yêu mến sự thanh
khiết của ngài (Positio, 716-723). Về sự khiêm tốn, ngài khẳng định:
‘Với sự khiêm nhường tuyệt vời, ngài đón nhận những đề xuất từ các
học trò của mình và vui lòng chấp nhận những nhận xét của các em;
đến độ tôi có thể nói ngài thậm chí nhận sửa lỗi. Tôi nhớ lại ...
’(Positio, 759-765). Sau khi kể lại cuộc đời của Đấng Sáng lập, cha
Rua nói thêm: ‘Để trình bày chi tiết những nhân đức mà Tôi Tớ Thiên
Chúa đã thực hành trong đời ngài, tôi thường ám chỉ rằng tôi ngạc
nhiên trước phong cách anh hùng mà ngài thực hiện chúng. Tuy
nhiên, thật phù hợp khi nói thêm tôi thấy ngài liên lỷ thực hành các
nhân đức ấy biết bao, đến nỗi ngài đạt tới sự hoàn hảo khi năm
tháng trôi qua, hơn là giảm sút lòng hăng hái’ (Positio, 369).
Sau cha Rua, giữa ngày 7 và 23 tháng Mười, cha Gioan Turchi đưa
ra bằng chứng. Trên hết, người Salêdiêng và cha Rua sẽ khám phá
lời chứng của ngài có tính quyết định thế nào về những cuốn sách
mỏng chống Gastaldi. Thật vậy, ngay cả khi không có một sự thừa
nhận chính thức, bất cứ ai đọc lời khai có thể hiểu rằng cha Turchi là
tác giả của các cuốn sách nhỏ mà Kinh sĩ Colmiatti cứ dai dẳng quy
cho Don Bosco.632
Mặc dù cung giọng rất vừa phải, lời khai của cha Rua là một trong
những phần quan trọng nhất của quá trình và chiếm 273 trang trong
ấn bản công khai. Nó chỉ bị vượt qua bởi lời khai của Gioakim Berto
(337 trang) và Giulio Barberis (283 trang) vốn là hai phong cách
632 X. P. Stella, La canonizzazione..., 88.

48.4 Page 474

▲torna in alto
474 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
rườm rà hơn.633
Ngày 1 tháng Tư năm 1897, Đức Tổng Giám mục Torino, Đavit
Riccardi, chủ trì phiên họp kết thúc của quá trình cung cấp thông tin.
Nó đã kéo dài bảy năm do sự gián đoạn gây ra bởi một vài cái chết
và những thay thế cần thiết tiếp theo. Trong thư luân lưu ngày 6
tháng Tám năm 1907, cha Rua viết: ‘Các thẩm phán đã cho thấy kiến
thức tuyệt vời của họ trong việc thu thập các lời khai của nhiều nhân
chứng. Đáng chú ý là thay vì chán nản bởi sự kéo dài và mức độ
nghiêm túc của công việc, dường như mỗi ngày họ càng thêm nhiệt
tình.’634 Vào tháng Tư, cha Belmonte đã có thể cung cấp tất cả tài
liệu cồng kềnh của quá trình Torino cho Thánh Bộ Phụng tự (Lễ Nghi)
ở Rôma.
Tại Rôma, tiến trình trôi theo dòng của nó. Ngày 30 tháng Tám
năm 1897, cha Rua chỉ định Tổng Thỉnh viên, cha Caesar Cagliero
cũng là Tổng Đại diện của ngài với Tòa Thánh. Bộ Phụng tự [Lễ Nghi]
quyết định ngày 25 tháng Mười năm 1898 ra lệnh tất cả các tác
phẩm của Don Bosco phải được bàn giao. Chỉ thị này được Đức Tổng
Giám mục Riccardi lặp lại ở Torino bởi chính cha Rua trong một lá
thư gửi cho người Salêdiêng ngày 8 tháng Mười Hai.635 Những cuộc
kiểm tra các tác phẩm diễn ra từ năm 1902 đến năm 1904 dưới sự
bảo trợ của Đức Hồng y uyên bác Lu-y Tripepi, ngài rất tán thành án
tuyên thánh này. Người kiểm duyệt được chỉ định không tìm thấy gì
để phản đối ngay cả lời biện hộ chống Gastaldi vốn đã bị Kinh sĩ
Colmiatti bàn cãi rất nhiều trong Esposizione agli Ementissimi Cardinali
(1881); kết luận cho thấy Don Bosco đã không làm gì ngoài việc biện
hộ chính mình, mặc dù bằng một giọng điệu hơi khó chịu.636
Ngày 18 tháng Mười Một năm 1901, cha Rua là nhân chứng đầu
tiên được gọi để thề là không có sự sùng bái nào được dành cho Don
633 X. P. Stella, La canonizzazione..., 83.
634 L.C., 518-519.
635 L.C., 186-187.
636 Positio super revisione scriptorum, Rômae, typis Vaticanis, 1906. P. Stella, La
canonizzazione..., 127-130.

48.5 Page 475

▲torna in alto
Năm 1907 | 475
Bosco [Super cultum numquam praestito].637 Không có khó khăn nào
trong việc công nhận danh tiếng thánh thiện của ngài đã vang lừng
ngay khi còn ở dương gian. Đây là điều đã thu hút đám đông tôn
kính ngài, đặc biệt là trong những chuyến đi tuyệt vời cuối cùng của
ngài. Nhưng không bao giờ có sự cúng bái công khai nào trong
phòng tang lễ hay tại mộ phần của ngài ở Valsalice. Thậm chí cha
Rua còn không nhận thức được bất kỳ hình thức sùng bái nào quanh
những bức chân dung của Don Bosco ở bất cứ nơi nào chúng được
trưng bày.
Những sự chống đối và những lời đáp trả. Don Bosco là Đấng
Đáng Kính
Giai đoạn quan trọng của quá trình này đã đạt được vào năm
1907. Đức Giám mục Alexander Verde, công tố viên [hoặc phổ biến
hơn là người biện hộ của quỷ] đã làm cho người ta chú ý vào năm
1905 và 1906 vì sự cứng rắn hiệu quả trong những lời ngài bình
phẩm về án tuyên thánh cho Anna Maria Taigi và Tu sĩ Minim,
Bernard Clausi. Được bổ nhiệm để kiểm tra án tuyên thánh của Don
Bosco, năm 1907 ngài trình bày Animadversiones [Những bình phẩm]
của mình, nhắm tới việc đưa ra ý kiến phản đối sự xúc tiến kế hoạch
tuyên chân phước.638 Về cơ bản, Đức Giám mục Verde tố cáo một sự
trùng lặp nhất định trong Don Bosco, bắt đầu từ tuyên bố của cha
Cafasso đã được thuật lại trong lời nói đầu của tiểu sử được viết bởi
Tiến sĩ D’Espiney. Lập luận của ngài được cô đọng trong câu cách
ngôn, ‘Don Bosco là một bí ẩn’, được quy cho cha Cafasso. Thật
không may cho Giám mục Verde (và cho ký ức của Don Bosco) toàn
bộ phần trích là thành quả của một công trình hùng biện của Lu-y
Cartier, tác giả thực sự của lời nói đầu. Có lẽ lời biểu hiện đích thực
duy nhất của Cafasso là một câu nói khác được Cartier trích dẫn: ‘Hãy
637 Tư Iiệu trong giai đoạn này của quá trình được tìm thấy trong FdB 2435A7-
2439A4. Lời chứng của Cha Rua trong FdR 2435E7-2436A11.
638 25 trang của Animadversiones này, ngày 26 tháng Ba, 1907, được tìm thấy trong
phụ lục của Positio super Introductione Causae, 1907.

48.6 Page 476

▲torna in alto
476 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
để ngài xúc tiến nó!’639 Tuy nhiên, Đức Giám mục Verde xem xét
cuộc đời của Don Bosco mà mọi người coi là được ân sủng thiêng
liêng gìn giữ để cho thấy danh tiếng thánh thiện là do dựa vào những
giấc mơ và những lời tiên tri được trình bày một cách gian trá. Trong
thực tế, thái độ quen thuộc của ngài không phải thứ mà người ta
mong chờ từ một vị thánh. Ngài có vẻ giống một người đang tìm
kiếm thành công và hành động bởi một niềm tự hào tinh tế. Người
Salêdiêng đã nỗ lực hết sức mình để tôn vinh ngài và sắp đặt sự thánh
thiện giả tạo của ngài.640
Đối với người Salêdiêng, do Chúa Quan phòng, lời đáp trả theo
phong tục đã được giao phó cho một linh mục trẻ tài giỏi, cha Charles
Salotti (sinh năm 1870), một người ngưỡng mộ nồng nhiệt phong
thái giáo dục Salêdiêng mà đích thân ngài đã trải nghiệm. Theo ngài,
toàn bộ lập luận của Animadversiones có khuynh hướng xuyên tạc các
sự kiện bằng cách bỏ qua những tình huống quan trọng, đặt quá
nhiều tin tưởng vào các nhân chứng đáng ngờ và phóng đại tầm
quan trọng và tác động của họ. Ngay từ thời thơ ấu của một thiếu
niên làm xiếc leo dây, ngài đã đưa ra bằng chứng về cảm thức cầu
nguyện và lòng bác ái nhiệt tình đối với những đồng bạn của mình.
Những giấc mơ của ngài, bắt đầu từ một giấc mơ khi ngài chín tuổi,
là những mặc khải từ trời. Sự thận trọng cực độ của ngài khi kể lại là
một bằng chứng về sự khôn ngoan của ngài ngay từ khi còn nhỏ.
Nơi ngài không có chuyện nói suông nhưng là một sự khẳng định có
ý thức rằng những thành công của ngài là thành quả của đức tin và
sự cầu bầu của Đức Maria. Không có những cách ăn năn hành xác
phô trương, nhưng là sự vui vẻ dâng hiến chính mình trong những
buổi xưng tội không dứt của giới trẻ và trong tất cả việc gây quỹ ở
các thị trấn và thành phố ở Piedmont, Ý và Châu Âu, trong suốt
những hành trình mệt lử mà không hề nhắm đến những thu hút du
lịch. Do đó, giới thiệu ngài như một tấm gương sáng cho toàn thể
xã hội Kitô giáo, và trước tiên, cho các linh mục, quả là phù hợp. Là
639 Tôi đã có thể tham dự vào việc dựng lại phần cuối này của công trình nghiên
cứu của tôi về tiểu sử của Don Bosco bởi Jacques-Melchior Villefranche, RSS 9
(1990) 85-89.
640 X. Phân tích của P. Stella trong La canonizzazione...,131-136.

48.7 Page 477

▲torna in alto
Năm 1907 | 477
một linh mục trẻ, ngài đã được cha Giuse Cafasso giới thiệu là một
tông đồ của Torino; sau đó ngài đã đưa ra bằng chứng dồi dào về
lòng nhiệt thành tông đồ của Don Bosco với mọi loại người, và với
những hội viên của mình, ngài đã cống hiến hết mình để đào tạo
những người trẻ cách lành mạnh.641
Cuộc tranh luận đi tới một khúc ngoặt thuận lợi hơn bao giờ hết.
Đức Hồng y Lu-y Tripepi đã qua đời ngày 29 tháng Mười Hai năm
1906, Tổng Thỉnh viên Salêdiêng, cha Marenco, tìm kiếm vô vọng
một người thay thế trong số các Hồng y, Rampolla, Gatti và Cretoni.
Cuối cùng, khi ngài thông báo cho cha Rua ngày 7 tháng Giêng năm
1907, ngài phát hiện một tu sĩ Capuchin, José Calasanz Vivés y Tuto,
một Hồng y sẵn sàng giúp đỡ và thậm chí còn nhiệt tình với vai trò
này.642 Ngài được bổ nhiệm làm Ponente ngày 23 tháng Hai năm
1907 và lập tức bắt tay vào việc với tư cách là Animadversiones và
Responsio vào tháng Ba và tháng Tư. Cha Marenco viết cho cha Rua:
‘Đức Hồng y Vivés y Tuto dồn hết tâm trí, tôi không nghĩ chúng ta
có được một Ponente nào sẵn sàng và tận tâm như vậy’.643 Cuối cùng,
Thánh Bộ Phụng Tự cũng đi đến một kết luận ngày 23 tháng Bảy.
Để trả lời câu hỏi về sự phù hợp của việc giới thiệu án tuyên chân
phước và tuyên thánh của Don Bosco, các Hồng y và những chuyên
viên của họ đã bỏ phiếu thuận. Ngày hôm sau, Đức Piô X ký văn
bản, nhằm ngày 28 tháng Bảy năm 1907. Một cha Marenco hớn hở
đã viết thư cho cha Rua vào ngày Đức Giáo Hoàng ký: ‘Bây giờ cha
có thể đánh trống và kéo chuông!’644
Sắc lệnh Supremus humanae familiae phê chuẩn việc giới thiệu án
‘tuyên chân phước và tuyên thánh của Tôi Tớ Đáng Kính của Thiên
Chúa, Gioan Bosco, linh mục và Đấng Sáng lập của Tu hội Salêdiêng’
641 Lời biện hộ dài của Carlo Salotti (81 trang), có tên là Responsio, ngày 10 tháng
Tư, 1907, có vẻ như một phụ lục cho Positio super Introductione Causae, 1907.
642 Thư của G. Marenco gửi M Rua, Rôma, ngày 7 tháng Giêng, 1907, trong FdR
3830D3-4.
643 Thư của G. Marenco gửi M Rua, Rôma, ngày 10 tháng Tư, 1907, trong FdR
3830D12-E3.
644 Thư của G. Marenco gửi M Rua, Rôma, ngày 24 tháng Bảy, 1907, trong FdR
3831A1-4.

48.8 Page 478

▲torna in alto
478 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
được ký bởi Đức Hồng y Tổng Trưởng, Serafino Cretoni, đặt cuộc đời
và công việc của ngài theo gót các linh mục-giáo dục thánh thiện của
thời hiện đại:
Cũng như trong quá khứ, trong thời đại chúng ta ngày nay,
Thiên Chúa Đấng sáng tạo tối cao của gia đình nhân loại, canh
phòng xã hội Kitô giáo với sự chăm sóc đặc biệt, đến trợ giúp
bằng việc giúp đỡ và sửa chữa đúng lúc, trong những con người
xuất chúng, nổi tiếng vì những nhân đức chói ngời và thiết thực.
Trong đời họ, dường như họ thông giao tinh thần và sự nhiệt
tình hiến thân của chính họ cho tất cả mọi người. Trong số đó,
vào thế kỷ vừa qua, Đấng Toàn Năng đã gửi sự trang sức và
bảo vệ cho Giáo Hội của Ngài là linh mục Gioan Bosco, người
mà đi theo bước chân của những con người thánh thiện như
Giuse Calasanz, Vinh Sơn Phaolô, Gioan Tẩy Giả de la Salle và
các vị thánh tương tự khác, cùng với Tu hội Salêdiêng mà ngài
đã sáng lập và với các công cuộc khác, đã hiến mình hoàn toàn
để cứu rỗi các linh hồn và đặc biệt là giáo dục giới trẻ trong sự
đạo đức, văn hóa và nghề nghiệp, khi trở thành mọi sự cho mọi
người để dẫn đưa tất cả tới ơn cứu độ.645
Trong tài liệu này không có quy chiếu đến ơn kỳ diệu của Don
Bosco trong suốt cuộc đời của ngài hoặc sau khi ngài qua đời. Toàn
bộ cuộc đời và công trình của ngài chỉ được coi là một loại ‘thần
hiển', được dành riêng cho Giáo hội trong những thời điểm khó khăn,
như Phêrô Stella viết với trực giác và sự nhạy bén có phê phán.646
Cha Marenco đánh điện báo tin ngay ngày 24 tháng Bảy, sau đó
ngài đến Torino để đích thân đưa văn bản cho cha Rua. Bề Trên Cả
hớn hở vui mừng. Văn bản phê chuẩn Don Bosco là đấng đáng kính.
Tràn ngập niềm vui, ngày 6 tháng Tám, ngài gửi thư luân lưu cho
những người Salêdiêng, một thư hoàn toàn dành riêng cho sự kiện
này:
645 Sắc lệnh dài bằng tiếng Latinh này với một bản dịch kèm theo nó được xuất
bản trong Bollettino Salesiano số tháng Chin, 1907, 260-265.
646 La canonizzazione..., 147.

48.9 Page 479

▲torna in alto
Năm 1907 | 479
Don Bosco là Đấng Đáng Kính! Khi chính cha phải thông báo
cho cả gia đình Salêdiêng về cái chết của Don Bosco, với bàn
tay run rẩy, cha viết đó là tin buồn nhất mà cha từng phải
truyền đạt hoặc cha có thể phải làm trong cuộc đời mình. Trái
lại, giờ đây tin vui Don Bosco là Đấng Đáng Kính, đúng là tin
ngọt ngào nhất mà cha có thể đưa cho anh chị em trước khi
cha được đặt dưới mộ phần. Nghe tin này, tim cha vỡ òa lên
bài thánh ca vui mừng và tạ ơn. Nếu trong nhiều năm qua,
chúng ta thấy người Cha tốt lành của mình bị đè nặng bởi rất
nhiều rắc rối, hy sinh và sự bách hại không thể nói ra, thì giờ
đây thật an ủi khi nhìn thấy Giáo hội Công giáo sẵn sàng hành
động làm rạng danh ngài trước toàn thế giới! Nếu chúng ta
từng có chút nghi ngờ rằng liệu Tu hội chúng ta là công việc
của Thiên Chúa hay không, thì bây giờ chúng ta có thể bình an,
vì nhờ vào giáo huấn không thể sai lầm của mình, Giáo hội gọi
Đấng Sáng lập của chúng ta là Đấng Đáng Kính. Chúng ta phải
biết ơn Đức Giáo hoàng Piô X rất nhiều, người đã rủ lòng đề
xuất án tuyên thánh của Don Bosco để Thánh Bộ nghiên cứu
sớm hơn nhiều so với thông lệ ngay cả đối với những người đã
chết trong hương thơm thánh thiện! Đức Hồng y Vivés y Tuto,
Ponente của án tuyên thánh của Don Bosco, khi chúc mừng Tu
hội Salêdiêng về sự đáng kính của Don Bosco, nói về ngài bằng
những từ ngữ khiến mắt chúng ta rơi lệ và làm cho chúng ta
quý trọng việc chúng ta được gọi là con cái của ngài như là một
tình yêu rất đặc biệt của Chúa Quan phòng.647
Vụ việc Varazze
Bất cứ ai đọc lá thư luân lưu ngày 6 tháng Tám đều có thể thấy rõ
cha Rua cố giữ bình tĩnh. Song nếu người ta xem xét những đau khổ
của ngài vì vấn đề đạo đức vào cuối tháng Bảy gây ra bởi vụ việc
Varazze quả thật hoàn toàn ngoại thường. Thật không may, đó
không phải là vụ bê bối đầu tiên bị báo chí khui lên. Ngày 21 tháng
Năm năm 1906, trong khi Tu Nghị Bề trên đang họp, cha Baratta
đột nhiên xông vào phòng báo tin vị Giám đốc (sở) Giáo dục đã ra
647 L.C., 516-521.

48.10 Page 480

▲torna in alto
480 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lệnh sơ tán tất cả học sinh trong nhà tại Intra trong vòng bốn mươi
tám tiếng đồng hồ.648 Đó là phản ứng của một câu chuyện về ấu
dâm được công bố trên báo chí. Vụ kiện chống lại chủng sinh S. O.
sẽ đưa ra xét xử ngày 25 tháng Năm năm 1908, bị cáo bị kết án
mười một tháng tù giam.
Trái lại, vụ Varazze được dựa trên những lời khai man và mang các
khía cạnh hoàn toàn khác nhau.649 Cha Ceria nói về nó như một công
việc thực sự và chính xác của ma quỷ nhằm phá hủy Tu hội Salêdiêng.
Chính tôi dựa vào bài tường thuật của ngài, nhận thức rằng một số
chi tiết bên lề nhất định, ví dụ, những tiêu đề của báo chí hoặc từ
ngữ thực tế của các câu hỏi trong các cuộc kiểm tra có thể là thành
quả của tinh thần phong phú của cha Amadei. Mặc dù vậy, cấu trúc
của toàn bộ vụ việc mà chúng tôi tìm thấy trong bản ghi nhớ về cáo
buộc phỉ báng và các can thiệp của luật sư chắc chắn là chính xác.
Chúng ta hãy kể lại các sự kiện trong vài ngày đầu tiên, chúng sẽ cho
chúng ta biết nguồn gốc của câu chuyện đặc biệt bẩn thỉu này.
Ngày 29 tháng Bảy năm 1907, một ngày sau khi kết thúc năm
học, vào khoảng 7 giờ sáng, khoảng hai mươi học sinh đang chờ đợi
trở về gia đình của các em, ở trong nhà nguyện Collegio Civico ở
Varazze, do người Salêdiêng điều hành, các em đang đọc kinh và dự
Thánh Lễ. Đột nhiên một nhóm viên chức và cảnh sát xuất hiện từ
phòng thánh, bước vào nhà thờ và đi đến tận lan can cung thánh,
và, không để ý đến bản chất thiêng liêng của các nghi lễ, ra lệnh mọi
người ngừng đọc kinh và ra ngoài ngay lập tức. Những em học sinh
nội trú bị tách ra khỏi những người Salêdiêng và bị cảnh sát dẫn vào
phòng ăn, trong khi những người Salêdiêng bị tập hợp trong một
lớp học. Cha Giám đốc Charles Viglietti tò mò muốn biết tất cả những
648 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 21 tháng Năm, 1906, trong FdR
4246A2.
649 X. I fatti e gli scandali di Varazze (luglio 1907). Memoriale-denunzia per calunna dei
Salesiani del Collegio Civico,Torino, Tipografia Salesiana, 1908, pp. 62; I Fatti e gli
scandali di Varazze (luglio 1907). Rilievi dei querelanti, Torino, Tip. S.A.I.D. Buona
Steampa, 1909, pp4; Corte di Appello, Genova, Le origini della calunnia contro i R.R.
Salesiani a Varazze (luglio 1907-ottobre),Torino, Tip. Baravalle e Falconieri, 1910,
pp.44. Ceria dành toàn bộ chương ‘Vụ việc Varazze’ trong Annali III, 672-702.

49 Pages 481-490

▲torna in alto

49.1 Page 481

▲torna in alto
Năm 1907 | 481
hoạt động bất thường này là gì. Ngài vội vã đi theo, đụng vào vị phụ
tá Phó Bề trên (sub-Prefect) Savona, nói với ngài: ‘Thưa Cha, một việc
nghiêm trọng, một việc nghiêm trọng. Một việc đồi bại không thể
tin được diễn ra ở đây.’650 Sau buổi điểm tâm, các em học sinh được
đưa theo nhóm đến các nhà kho xấu xí của carabiniere để thẩm vấn
với sự hiện diện của một phụ nữ và một cậu bé, người mà chúng ta
sẽ nói đến. Những đứa trẻ tội nghiệp thực sự không biết phải trả lời
cái gì.
Cuối chiều, cũng trong các nhà kho xấu xí đó nơi những người
Salêdiêng được đưa đến, cha Viglietti đã được Giám đốc (sở) Giáo
dục của Genoa hỏi và cuối cùng khám phá ra đó là chuyện gì. Ngài
lập tức ghi chép, do đó bảo đảm cho chúng tôi về tính khách quan
tương đối. Ngài hỏi tính chất của những cáo buộc chống lại người
Salêdiêng. Giám đốc trả lời: ‘Lễ đen, dĩ nhiên, lễ đen!’ ‘Lễ đen? Tôi
không biết ý ông nói lễ đen là gì.’ ‘Đừng giả ngây thơ! Nói đi, lễ đen
được tổ chức ở trường học, đúng hay không?’ ‘Nhưng tôi có thể xin
ông giải thích ông đang nói về điều gì không?’ Vị đại diện Giám đốc
đó được gọi đến; ông ta bước vào, có vẻ bực mình, và đọc một nửa
trang những lời tục tĩu từ một quyển sổ nhỏ. Sau đó, tự ngắt lời, ông
ta hét lên: ‘Tôi sẽ không cho ông ta được chút hài lòng nào; tôi sẽ
không đọc thêm gì nữa. Lễ đen, ông biết nó là gì, vì vậy đừng giả
khờ, nó có nghĩa là vào ban đêm tất cả mọi người trong nhà, các bề
trên và thanh niên thường khỏa thân nhảy múa với các nữ tu. Về
phần còn lại, ông biết rất rõ phần còn lại. Và rồi đám rước trẻ em,
nội trú và ngoại trú, tất cả khỏa thân, với các nữ tu và thầy tu, bên
trong và bên ngoài nhà, đốt cháy các bức chân dung của Victor
Emanuel II và Garibaldi. Ông biết bọn linh mục các ông bạo hành
với thanh thiếu niên – nói thế đủ rồi!’ Sau khi nói xong, ông ta phóng
ra ngoài, đóng sầm cửa. Giám đốc nói tiếp: ‘Vậy, giờ đây, ông có
thú nhận không?’ Viglietti trả lời: ‘Theo sự thật, tôi buộc phải phủ
nhận tất cả. Chúng tôi không biết bất kỳ nữ tu nào; không nữ tu nào
từng bước chân vào nhà chúng tôi. Đây là những việc làm xấu xa
không thể tin nổi. Không có gì tương tự như vậy, ông có thể chắc
650 Annali , III, 685.

49.2 Page 482

▲torna in alto
482 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chắn, không có gì, không có gì đã từng diễn ra trong trường học.’
‘Nhưng còn trong quá khứ thì sao ... trong quá khứ ...’ ‘Tôi đã ở đây
tại Varazze chỉ từ tháng Mười và không có gì trong tất cả những điều
này từng xảy ra. Mặc dù vậy, tôi không tin bất cứ điều gì thuộc loại
này đã diễn ra trong quá khứ. Và đối với việc bạo hành các em, tôi
biết nhân viên của mình và trả lời cho tất cả những người Salêdiêng.
Tôi nghĩ rằng không ai có thể hành động như vậy - không ai. Hãy
mang đến cho tôi thậm chí chỉ một thanh niên cáo buộc một người
Salêdiêng về những việc này.’ ‘Ngay cả Calvi cũng không? Ngay cả
Disperati và Crosio cũng không?’ ‘Cũng không.’ ‘Nhưng hãy cẩn
thận, đơn kiện đã được nộp ... cẩn thận, tối nay ông sẽ bị bắt.’ ‘Thưa
Giám đốc, tôi không biết phải nói gì, tôi phủ nhận mọi thứ.’ ‘Được
rồi, tất nhiên ông đi đi, tôi mặc ông cho số phận.’651
Ngày hôm sau, ngày 30 tháng Bảy, những người Salêdiêng được
để yên. Tuy nhiên, các cuộc lục soát và thẩm vấn lan truyền đến các
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và các nữ tu của Mẹ Vô Nhiễm,
các nữ tu của Đức Mẹ Tuyết, các thầy Capuchin, linh mục hạt trưởng
(archpriest) và những người khác nữa. Tất cả bị tố cáo là đã tham gia
vào các cuộc truy hoan của những buổi lễ đen được tổ chức trong
chín tháng tại trường học này, từ tháng Mười Một đến tháng Bảy.
Cơ sở Thánh Catarina do Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu điều
hành được cảnh sát đến thăm vào một buổi sáng, họ tập hợp các nữ
tu và hai mươi chín học sinh chưa đi nghỉ trong phòng khách. Bốn
nữ tu và một học sinh đã được nhận diện bởi một cậu bé được cảnh
sát đưa vào (cậu bé mà chúng ta sẽ nói tới) là đã tham gia vào buổi
lễ đen ngày 23 tháng Tư, khoảng chín giờ. Lúc đầu họ tin rằng,
giống như một số trẻ em, rằng ‘lễ đen’ có nghĩa là một Thánh Lễ cầu
hồn mà vào thời điểm đó được cử hành với áo lễ màu đen và do đó,
theo lẽ tự nhiên, họ thừa nhận biết nó là gì. Sau đó một viên cảnh
sát giải thích một cách thô lỗ. Kinh hoàng, các nữ tu lập tức trình
bằng chứng ngoại phạm của họ. Thay vào đó, các cô gái, một thiếu
niên lớn tuổi hơn, trả lời các viên cảnh sát với một vẻ kiêu ngạo.
Trong khi đó, cha Viglietti đã nhận được ấn bản mới nhất của tờ
651 Annali III, 686-687.

49.3 Page 483

▲torna in alto
Năm 1907 | 483
báo chống giáo hội ở Savona, Il Cittadino, mang các tiêu đề và đề
mục phụ như ‘Những khám phá tục tĩu trong trường học Salêdiêng
tại Varazze’; ‘Thầy tu và nữ tu thỏa hiệp’; ‘Những vụ bê bối nghiêm
trọng’; ‘Đóng cửa trường học’. Tờ báo bình luận về cuộc điều tra của
cảnh sát: ‘Có vẻ như những điều không thể tin được, khủng khiếp,
quái dị chưa từng thấy trong các biên niên của các trường học được
các tu sĩ và nữ tu hướng dẫn đã xảy ra.’652 Đó là khởi đầu của một
chiến dịch phỉ báng.
Một phụ nữ lớn tuổi, Vincenzina Besson, góa phụ của một Lãnh
sự, và một cậu bé mười lăm tuổi, Charles Marlario, một đứa trẻ bị bỏ
rơi mà Vincenzina khiến mọi người tin rằng đó là Alexander con trai
bà, đã ngấm ngầm dự tính âm mưu trong quá trình học hành.
Charles Marlario là một học sinh học ban ngày tại Istituto Civico. Một
ngày nọ, qua đệ tam nhân, Vincenzina Besson trao cho các nhà chức
trách một cuốn sổ tay có xuất xứ bí ẩn, được gán cho cậu bé. Đó là
cuốn sổ mà Viglietti đã bị buộc phải nghe một đoạn trích trong khi
thẩm vấn. Cuốn sổ chứa một câu chuyện được góa phụ Besson nghĩ
ra. Rõ ràng là cậu bé đã phát hiện ra mọi loại hành vi đáng xấu hổ
đang phạm phải trong trường học. Thay vì rút cậu khỏi trường, người
được cho là mẹ cậu, muốn cậu tiếp tục theo học, để dự những buổi
nói tục tĩu và viết xuống hết chuyện này đến chuyện khác trong cuốn
sổ của cậu. Khi năm học sắp kết thúc, cuốn sổ đến Rôma. Ở đó người
ta sao ra một bản mà bây giờ có mặt ở Varazze. Cha Ceria xác nhận
rằng các trang giấy viết cho thấy một kiểu văn hóa khiêu dâm và một
kiến thức về thuật ngữ y học rất khó xảy ra với một cậu bé mười lăm
tuổi. Tuy nhiên, tối ngày 30 tháng Bảy, cuộc đối đầu với giám đốc
Viglietti trước vị đại diện hoàng gia và một thẩm phán điều tra từ
tòa án ở Savona thật đáng kinh ngạc. Viglietti ghi lại trong nhật ký
của mình: ‘Ngay từ đầu tôi đã có cảm giác rằng cậu bé đang trả bài
mà em đã được học, và tôi đã nói như vậy. Nhưng sau đó cảm giác
của tôi là cậu bé đáng thương bất hạnh này đã bị quỷ nhập’. Thực
vậy, ngài nghe em nói chính xác về địa điểm, gọi tên người, đáp lại
những lời phản đối, mô tả các lễ đen với nhiều chi tiết đến nỗi khiến
652 Annali, III, 688-689.

49.4 Page 484

▲torna in alto
484 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hoàn toàn bị hoang mang.653 Vụ án phỉ báng mà người Salêdiêng sẽ
tố cáo là vu khống, thường sẽ trở lại với lời khai rất dài của cậu bé.
‘Đó là sự rõ ràng và chính xác đến kỳ diệu. Không một sơ suất. Không
có sự khác thường trong ngôn ngữ, ký ức của em không bao giờ
trống rỗng, không có bất kỳ mâu thuẫn nào trong cách nói của
em’.654 Nếu Charles Marlario đã học bài, em đã học nó tới mức hoàn
hảo.
Tin tức bùng ra và chẳng mấy chốc tới mọi vùng ở nước Ý. Các tờ
báo chính in một số ấn bản. Mỗi ngày công chúng càng thêm tò mò.
Các đầu đề đã được dàn xếp để kích thích sự chú ý: ‘Sự bẩn thỉu chưa
được nghe tới ở Varazze. Một chuồng heo ở Varazze. Sự xấu xa chưa
được nghe biết trong trường học Salêdiêng tại Varazze. Những vụ bê
bối đen. Lễ đen hoặc những lạc thú thiên giới. Những vụ bê bối gớm
ghiếc tại Varazze. Những phát hiện tục tĩu về các linh mục. Thờ
phượng đen’.655 Nếu loại thông tin đó phải chịu sự phán xét có phê
phán tối thiểu thì rõ ràng là không nhất quán. Quả vậy, nó gây ra
các cuộc biểu tình bạo lực, thậm chí cả những cuộc biểu tình man rợ
ở các thị trấn và thành phố khác nhau. Ví dụ, ở La Spezia, đám đông
đã đi qua các đường phố la hét và huýt sáo phản đối các linh mục,
trút cơn giận của họ lên các nhà thờ, chạm trán với cảnh sát, đến
mức phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Tại Sampierdarena, Alassio,
Savona, Faenza, Florence và các nơi khác, các trường đại học
Salêdiêng bị những kẻ cuồng tín nhắm vào. Sự hỗn loạn lan rộng
đến các thị trấn nơi không có trường Salêdiêng như Leghorn và
Mantua.656 Tin đồn lan truyền rằng cảnh sát đã bắt giữ và tống giam
một chủng sinh và một sư huynh cao niên từ Varazze. Trong Quốc
hội, những kẻ chống giáo hội kêu gọi việc bãi bỏ các cơ sở được các
tu sĩ điều hành.
Ngày 2 tháng Tám, một sắc lệnh từ Quận trưởng đã ra lệnh tạm
thời đóng cửa trường học Varazze. Ngày 3 tháng Tám, một sắc lệnh
653 Annali III, 690.
654 Memorandum – tố cáo vu khống.
655 Annali, III, 690.
656 Annali , III, 690.

49.5 Page 485

▲torna in alto
Năm 1907 | 485
tương tự được ban hành cho cơ sở Thánh Catarina thuộc Con Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu. Mặc dù những người Salêdiêng ban đầu bị
choáng váng bởi những lời vu cáo dồn dập, họ rõ ràng bắt đầu phản
ứng lại theo cách tốt nhất có thể được. Được bạn bè, cựu học sinh và
Cộng Tác viên khuyến khích, đến phiên mình, họ quyết định tố cáo
sự phỉ báng và đòi công lý. Dân chúng Varazze ủng hộ họ và tấn
công góa phụ Bresson. Ngày 3 tháng Tám, được các luật sư từ các
tòa án ở Torino giúp đỡ, những người Salêdiêng đã đưa ra một vụ
kiện về tội phỉ báng và làm mất danh dự. Và chiều hướng bắt đầu
xoay chuyển.
Tuy nhiên, các thủ tục pháp lý cần có thời gian. Sắc lệnh của Bộ
Ân xá và Công lý cho phép mở lại trường cao đẳng tại Varazze chỉ
đến vào ngày 26 tháng Mười Một. Sau đó, tháng Sáu năm 1908, tòa
án ở Savona đã công nhận các cáo buộc chống lại người Salêdiêng
là hoàn toàn bịa đặt. Hai năm nữa trôi qua và chỉ đến ngày 2 tháng
Tám năm 1910, cùng một tòa án pháp luật xử có lợi cho người
Salêdiêng trong vụ kiện phỉ báng vì làm mất danh dự trước công
chúng. Những người Salêdiêng tin rằng người của hội Tam Điểm đã
thao túng hai kẻ buộc tội, đặc biệt là một bác sĩ ở Varazze, mà theo
lời góa phụ Besson, đã gợi ý cho bà hãy bảo Charles Marlario viết
một bản tường trình về tất cả những việc không đứng đắn mà em đã
dự hoặc đã nghe từ những người bạn của mình.657 Nhưng cuộc điều
tra bổ sung bị mắc cạn vào năm 1912.
Một Cha Rua bị chòng chành vì bão tố
Bây giờ chúng ta quay lại Torino để tập trung vào cha Rua. Vào
cuối tháng Bảy năm 1907, khi tin tức về vụ bê bối loan ra, ngài đang
bị ốm.658 Khách đến thăm thông báo cho ngài về những gì đang xảy
ra. Dù buồn vô hạn, ngài vẫn giữ được bình tĩnh và thanh thản anh
hùng. Ngài cầu nguyện và kêu gọi người khác cầu nguyện. Đôi khi
ngài yêu cầu xem các tờ báo thù địch và sẽ lắng nghe mà không bị
xúc động đoạn trích dẫn và hạn chế thốt lên: ‘Xem người ta dám viết
657 Về vai trò của vị bác sĩ này, x. I fatti e gli scandali di Varazze (tháng Bảy, 1907),
34-36.
658 Ở điểm này tôi theo Ceria, Vita, 466-467.

49.6 Page 486

▲torna in alto
486 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thế!’ Ngài sẽ nói chắc chắn thành trì vớ vẩn hết sức vô lý sẽ sớm sụp
đổ. Ngài thường thủ tâm, ‘Chúng ta phải cầu nguyện’.659
Tuy nhiên, ở quanh ngài, các cựu học sinh đang huy động. Tối
ngày 2 tháng Tám, Hiệp hội Don Bosco ở Torino đã bỏ phiếu cho
một cuộc biểu tình mạnh mẽ chống lại chiến dịch ác tà được sắp đặt
để gây thiệt hại cho người Salêdiêng và chống lại các lực lượng pháp
luật và trật tự đã không can thiệp. Ngày hôm sau khi vị chủ tịch của
Hiệp hội đưa cha Rua xem bản văn, Bề Trên Cả cảm ơn ông, nhưng
nói thêm: ‘Liệu không phải là quá mạnh sao?’ Ngài tin rằng các quan
chức nghĩ rằng họ đang làm nhiệm vụ của họ và do đó không nên
bị phán xét. Chủ tịch ngạc nhiên và phải chịu nghe một thuyết giáo
đáng yêu về lòng bác ái và giáo huấn truyền giáo là yêu thương
người lân cận như chính mình (Gc 2, 8). Nhưng bức điện đã được gửi
đi rồi ...660
Cùng ngày, một cựu học sinh khác, Gioan Possetto, vội vã đến
Torino để nói chuyện với cha Rua. Ông đã không đọc trong các tờ
báo về việc người Salêdiêng đưa ra bất kỳ hình thức tự vệ nào và sợ
rằng không có gì đang được thực hiện. Ông để lại một báo cáo chi
tiết tuyệt vời về cuộc gặp gỡ của ông với cha Rua, giọng điệu và một
số điểm của nó giờ đây sẽ được nhắc lại.661 Possetto thấy cha Rua
ngồi gần bàn viết của ngài, ngập đầy báo chí và thư từ. Chân ngài
bị băng và duỗi trên một chiếc ghế đặt cạnh ngài. Ngài xanh xao,
nhợt nhạt như xác chết, tái mét, gầy gò, với cặp mắt sưng ửng đỏ
vốn đang nén một giọt nước mắt sẵn sàng rơi xuống nơi khóe mắt.
Sự sống động đã biến mất khỏi cặp mắt của ngài và từ toàn bộ vẻ
mặt khổ hạnh của ngài. ‘Cha Rua đáng thương, chúng tôi chưa bao
giờ, chưa bao giờ nhìn thấy ngài xuống tinh thần và buồn sầu như
vậy.’ Ngài nói ngài cảm thấy không có khả năng dũng cảm đương
đầu với một tràng vu khống tuôn xuống Tu hội Salêdiêng. Hơn nữa,
659 Các lời chứng của Giuseppe Balestra và Cha Luigi Terreno trong Tiến trình tông
tòa trong Positio 1947, Summarium, 504 và 541.
660 Ceria, Vita, 466-467.
661 ‘Per la storia e biografia di D. Rua’, Torino, tháng Tư, 1920 trong FdR 2855D5-
E1; được Amadei đề cập đến, III, 328-332.

49.7 Page 487

▲torna in alto
Năm 1907 | 487
đây là hình phạt của ngài, một món nợ ngài phải trả cho việc dám
chấp nhận chức vụ mà ngài đang nắm giữ. Bất cứ điều gì xảy ra với
chúng ta, thiện hay ác, luôn là ý Thiên Chúa. Ngài tìm nơi trú ẩn
trong lời cầu nguyện và nước mắt, cầu xin Thiên Chúa cất bỏ gánh
nặng của phiên tòa trên chỉ mình ngài. Chỉ có một phép lạ mới có
thể đi đến tận đáy của những lời vu khống đang phá hoại Tu hội của
ngài. Possetto cố hết sức an ủi ngài. Cần phải thức tỉnh các nhà chức
trách. Toàn bộ Tu hội Salêdiêng đang bị tấn công. Những lời vu
khống làm tổn thương danh dự của ngài. Chúa giúp những ai biết tự
giúp mình. Tất nhiên, người ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa trợ
giúp nhưng họ phải hành động ngay bằng một cuộc biểu tình mạnh
mẽ, sau đó yêu cầu một cuộc điều tra trong tất cả các nhà của người
Salêdiêng. Cha Rua đáng thương phản đối hết lần này đến lần khác;
ngài nói đến việc cam chịu và ngài không muốn kích động thêm kẻ
thù của họ bằng một cuộc điều tra như vậy. Cuộc họp kéo dài lâu
giờ. Cuối cùng, cha Rua cho phép mình được thuyết phục: ‘Không,
không, ngài kêu lên, portae inferi non praevalebunt [cửa hỏa ngục sẽ
không thắng nổi].
Ngày nay chúng ta không thể tưởng tượng được tầm quan trọng
của vụ bê bối được giải phóng tại Varazze và hậu quả của nó lan ra
không chỉ đến tận Sicily và biên giới đất nước, mà còn trên toàn thế
giới. Chúng ta hãy đọc những điều cha Rua viết cho các Cộng Tác
viên trong Bollettino Salesiano vào tháng giêng năm 1908: ‘Anh chị
em cũng nhận thức được những lời vu khống đáng hổ thẹn vùi dập
tên tuổi của con cái Don Bosco mùa hè năm ngoái, những lời vu
khống vốn tạo ra tiếng vang đột ngột khắp thế giới, gây ra cớ vấp
phạm nặng nề cho các linh hồn’.662
Ở điểm này chúng tôi lồng vào một cuộc biểu tình mà theo Angelo
Amadei, cha Rua đã gửi điện tín cho Bộ Nội vụ về những rối loạn tại
La Spezia. Không còn bản thảo tài liệu này. Sử gia của chúng tôi
không tra cứu được văn khố của chính phủ Ý nên đã tự dàn dựng lại
nó như sau:
662 Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1908, 3.

49.8 Page 488

▲torna in alto
488 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Kính thưa ngài Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Rôma.
Tôi đã nhận được tin tức từ La Spezia khiến tôi rất lo lắng về sự
an toàn cá nhân của vị Bề trên và các học sinh của Tu hội
Salêdiêng ở đó, bị đe dọa bởi một đám đông man rợ. Thật
đáng buồn là một cơ sở bác ái, nằm gần trung tâm của một thị
trấn lớn, một cơ sở mà nhiều con em của người dân được che
chở, phải trải qua nhiều ngày lo âu, do những hành động của
kẻ lưu manh, trong khi nhà chức trách không cung cấp được sự
che chở cần thiết. Tôi yêu cầu Ngài sẵn sàng khắc phục tình
trạng này và tôi đòi hỏi sự bảo vệ mà mọi công dân đều có
quyền.
Cha Micae Rua.663
Dù sao đi nữa, bắt đầu từ ngày 5 tháng Tám, cha Rua bắt đầu hồi
phục. Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên minh chứng điều này, mặc
dù không theo hình thức các cuộc phản đối giận dữ như người ta có
thể tưởng tượng. Ngài theo một cung giọng hơi dịu dàng, tương tự
như của cuộc họp với Possetto. Ngài quá hiểu những điểm yếu không
thể tránh khỏi của con cái mình. Biên bản bộc lộ những cảm xúc thật
của ngài trong những ngày đau khổ đó. Ngày 5 tháng Tám, cha Rua
nhắc nhở các thành viên về thời điểm gay go mà họ đã trải qua, có
lẽ là gay go nhất mà Tu hội từng gặp phải, thậm chí ngoài sự gian
ác của con người. Ngài nói thêm rằng người ta có thể nhìn thấy trong
đó một cảnh báo từ trời từ Don Bosco và ngài muốn lợi dụng từ thời
điểm này để thanh lọc các nhà tốt hơn, loại bỏ những người không
xứng đáng và loại bỏ bất kỳ hành vi xúc phạm nào tới Thiên Chúa
vốn là mục đích thực sự trong công cuộc của Don Bosco. Trước hết,
cha Rua đề xuất rằng họ nên tiến hành từ từ và rất thận trọng khi
nhận người vào tập viện, tuyên khấn và thụ phong.664
Để biết nhân sự trong các nhà tốt hơn, nên thiết lập một cuộc tổng
thanh tra. Theo biên bản, bốn quyết định đã được đưa ra:
663 X. Amadei III, 327-328; bản văn được Ceria đề cập đến, Vita, 466.
664 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 5 tháng Tám, 1907, trong FdR
4247A11.

49.9 Page 489

▲torna in alto
Năm 1907 | 489
1. Loại bỏ tất cả những ai (linh mục, chủng sinh, sư huynh, người
có lời khấn, đệ tử hoặc viên chức nhà nước) vốn đã bị tổn
thương nghiêm trọng trong các vấn đề đạo đức hoặc bị đối
xử tệ hại khỏi giao tiếp với người trẻ.
2. Thay đổi các giám đốc không có khả năng hoàn thành nhiệm
vụ của mình, đặc biệt trong việc hướng dẫn hội viên và giám
sát người trẻ.
3. Giảm số lượng các Giám tỉnh để đáp ứng nhu cầu cần nhiều
giám đốc và các cha giải tội tốt lành hơn.
4. Trong năm 1907-1908 tổ chức đồng thời ít nhiều một cuộc
kinh lý chung tất cả các nhà của Tu hội với mục đích có được
tình trạng đạo đức, kỷ luật và kinh tế thực sự của toàn bộ Tu
hội... Cha Rua nói thêm rằng trong trường hợp có những tố
cáo về sự vô luân, các bề trên địa phương phải xem xét thấu
đáo mức độ nghiêm trọng của việc sai trái và lập tức báo cáo
ngày để có thể thực hiện các biện pháp phù hợp, kể cả cởi bỏ
áo dòng đối với một chủng sinh chưa lãnh tác vụ linh mục.665
Tu Nghị Bề trên theo dõi việc này với ba phiên họp dành cho vấn
đề này vào ngày 8 và 9 tháng Tám. Một bộ các biên bản cuộc họp
đã được thực hiện cho ba phiên họp này:
Trong ba cuộc họp này các thành viên của Hội đồng chủ yếu
quan tâm đến việc nêu tên các đối tượng mà trong phán đoán
của họ phải bị loại trừ khỏi các nhà của người Salêdiêng và lưu
ý các Giám tỉnh về những hội viên vốn phải bị loại khỏi sự liên
lạc với người trẻ hoặc những ai cần theo dõi đặc biệt. Họ cũng
chỉ ra những giám đốc của những nhà ở Ý phải được thay thế
sau một năm vì không có khả năng thực hiện trách nhiệm của
mình, đặc biệt là việc hướng dẫn các hội viên và giám sát người
trẻ. Một số tiêu chuẩn cho các Giám tỉnh được vạch ra, những
điều đã được đề cập trong bức thư của cha Albera, ngày 12
tháng Tám, và dành riêng cho họ. Các Giám tỉnh ở Ý đã được
665 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 5 tháng Tám, 1907, trong FdR
4247A12-B1.

49.10 Page 490

▲torna in alto
490 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
mời đến Torino không trễ hơn ngày 22 để được Hội đồng cập
nhật đầy đủ hơn. Những người khác được khuyến khích bày tỏ
bằng văn bản ý tưởng và kế hoạch của họ cho việc điều hành
các nhà cách tốt đẹp trong các tỉnh tương ứng của họ.666
Thực vậy, vào ngày 22 và 23 tháng Tám, từng người gặp gỡ Tu
Nghị Bề trên.
Ngày 29 tháng Chín, ngày lễ Thánh Micae, một lễ kỷ niệm hoành
tráng được tổ chức để vinh danh Đấng Đáng Kính Don Bosco gần mộ
phần của ngài ở Valsalice. Một thông điệp có chữ ký từ Đức Piô X
gửi tới ‘Cha Rua yêu dấu, Bề trên Tổng quyền’ an ủi ngài một lần là
đủ vì sự sỉ nhục mà ngài đã trải qua trong những tuần khủng khiếp
của tháng Bảy-tháng Tám.667 Các Cộng Tác viên từ Sicily cho in một
bài nói chuyện dài ba trang, cố ý vào đúng ngày 29 tháng Chín năm
1907: Gửi Don Micae Rua – lời nói tỏ lòng kính trọng và tôn kính, và một
cuộc biểu tình chống lại những lời lăng mạ phóng vào Tu hội Salêdiêng
(Torino, Tip. Salesiana, 1907).668 Cha Rua cũng yêu cầu đưa vào số
báo Bollettino Salesiano tháng Mười Một ‘tuyên bố quan trọng’ trong
đó về cơ bản tuyên bố rằng Istituto Civico ở Varazze, do các người
Salêdiêng điều hành, và Istituto Santa Caterina, do Con Đức Mẹ Phù
Hộ các Giáo Hữu điều hành, hoàn toàn vô tội về những cáo buộc phỉ
báng trong cuốn nhật ký tai tiếng của một cậu bé. Lời tuyên bố kết
luận: ‘Vì do: 1. cáo buộc là sai sự thật rằng việc xấu xa không thể tin
được, được gọi là lễ đen, được thực hiện ở đó; 2. lời buộc tội rằng
một trong những giáo viên đứng lớp ăn mặc không đứng đắn là sai;
3. cáo buộc rằng các hình ảnh của Vua và Đại Tướng Garibaldi bị bôi
nhọ cũng sai,669 hai cơ sở này buộc phải bảo vệ tiếng tốt của riêng
họ bằng cách khởi một vụ kiện tội làm mất danh dự và phỉ báng
những kẻ buộc tội.’ Làn sóng vu khống chống người Salêdiêng rút
666 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 8-9 tháng Tám, 1907, trong FdR
4247A12-B1.
667 Thông điệp của Đức Piô X được tìm thấy trong FdR 3833A5. Một bản mô tả
buổi lễ ở trong Amadei III, 347-349.
668 Bài nói chuyện này được tìm thấy trong FdR 2764A12-B2.
669 Bollettino Salesiano, tháng Chin, 1907, 281.

50 Pages 491-500

▲torna in alto

50.1 Page 491

▲torna in alto
Năm 1907 | 491
xuống còn nhanh hơn.
Kết án chủ nghĩa Tân thời
Dường như không có bất kỳ hậu quả nào đối với Tu hội Salêdiêng
từ cuộc đàn áp chống chủ nghĩa tân thời vốn lên đến đỉnh điểm vào
năm 1907 với sắc lệnh Lamentabili sine exitu ngày 17 tháng Bảy trong
đó 65 định đề về chủ nghĩa tân thời theo Kinh Thánh và thần học bị
kết án, và với thông điệp Pascendi ngày 10 tháng Chín nhằm cố gắng
tổng hợp các định hướng của chủ nghĩa tân thời theo học thuyết và
cải cách. Các vị lãnh đạo của Tu hội và các giáo viên quá trung thành
với Tòa Thánh không cho phép bản thân bị cám dỗ bởi học thuyết
chủ nghĩa tân thời vốn phát triển ở Pháp và Ý vào đầu thế kỷ này.
Storia sacra và Storia ecclesiastica của Don Bosco vẫn đang được sử
dụng. Tuy vậy, ngày 1 tháng Mười Một năm 1906, trong một thư
luân lưu, cha Rua yêu cầu các Giám tỉnh và các giám đốc phải cảnh
giác và chiến đấu chống lại bất kỳ khuynh hướng tân thời nào.670
Tuy nhiên, trong học kỳ hai mang tính quyết định năm 1907, các
thư luân lưu của cha Rua và cha Phó Tổng Bề trên Rinaldi, viết trên
danh nghĩa của bề trên mình, chứa nhiều lời khuyên thực tế của mỗi
loại (về những ngày nghỉ của các hội viên bên ngoài nhà Salêdiêng;
về lễ Giáng sinh và ngày nghỉ hè của học sinh không được phép; về
văn khố của mỗi nhà; về các quy định cho các Nguyện xá ngày lễ;
về việc tĩnh tâm thiêng liêng, vv), nhưng hoàn toàn vượt qua thuật
ngữ và các khuynh hướng của chủ nghĩa tân thời. Từ tài liệu sẵn có,
dường như chỉ có một chỉ thị phát hành từ Tu Nghị Bề trên ngày 16
tháng Chín, theo sau Pascendi. Chúng ta đọc trong biên bản: ‘Quyết
định in các bản văn tiếng Latinh và tiếng Ý của 65 định đề bị lên án
về Chủ nghĩa tân thời theo sau một lá thư của cha Rua và gửi một
bản sao cho tất cả các linh mục và sinh viên thần học của Tu Hội'.671
Sự phục tùng của Tu hội Salêdiêng đối với các chỉ thị của Rôma phải
là gương mẫu trong mọi việc. Vài tháng sau, cha Cerruti, Cố vấn lo
về học vụ, lặp lại lời chỉ thị đó yêu cầu các Giám tỉnh và các giám
670 L.C., 352-353.
671 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 16 tháng Chín, 1907, trong FdR
4247B8.

50.2 Page 492

▲torna in alto
492 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đốc nghiên cứu và truyền bá Catechismo sul modernismo của Gioan
Tẩy Giả Lemius, một tác phẩm nhỏ đặc biệt nghiêm trọng về ‘dị giáo’
mới này.672
Trong khi đó có lẽ do kết quả của lời thề được thực hiện trong cơn
bão ở Varazze,673 cha Rua bắt đầu lên kế hoạch cho một chuyến hành
hương dài đến quê hương của Chúa Giêsu. Từ ngày ngài phụ trách
Tu hội, năm 1907 đối với ngài là năm huy hoàng nhất và đau đớn
nhất. Bằng việc Đấng Sáng lập nhận được tước hiệu Đấng Đáng Kính,
ngài đã hoàn thành nhiệm vụ được bắt đầu ngay sau khi Don Bosco
qua đời và theo đuổi với sự kiên trì trong mười chín năm. Âm mưu
lớn vào tháng Bảy-tháng Tám đã không thành công trong việc bôi
xấu các cơ sở mà ngài chịu trách nhiệm, Tu hội Salêdiêng và Tu hội
Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu mà ngài rất thương mến. Âm mưu
đã bị thất bại. Do đó, ngài cảm thấy nghĩa vụ phải tạ ơn Thiên Chúa
Toàn Năng đã để ngài vượt qua được những giây phút vô cùng gian
khổ đối với thân xác lẫn tâm hồn. Đồng thời, cuộc hành hương sẽ
cho phép ngài đích thân tham gia vào việc tổng thanh tra cần thiết
của các nhà của người Salêdiêng trải rộng trên vài lục địa.
672 Thư luân lưu gửi các Giám Tỉnh và hiệu trưởng, ngày 24 tháng Ba, 1908, trong
F. Cerruti, Lettere circolari e programme di insegnamento, a cura di José Manuel
Prellezo, Rôma, LAS, 2006, 303; J-B Lemius Catechismo sul modernism second
l’enciclica ‘Pascendi Dominici Gregis’ di Sua Santità Pio X, Rôma, Tipografia Vaticana,
1908.
673 Theo Francesia, 188; nhưng không có lời nào chính Cha Rua nói xác nhận việc
này.

50.3 Page 493

▲torna in alto
Bảy tháng
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 493
32
Đau Đớn & Vui Mừng
Chuyến kinh lý ngoại thường đến các Nhà của Tu Hội
Những tháng đầu năm 1908 mang đầy cảm xúc với cha Rua. Ba
sự kiện đánh dấu những tháng này: tổ chức một chuyến kinh lý ngoại
thường đến những nhà Salêdiêng, một chuyến đi đến phương Đông
và quá trình cung cấp thông tin cấp giáo phận cho Đaminh Savio.
Ý tưởng về một chuyến kinh lý ngoại thường cho tất cả các nhà
của Tu hội đến với cha Rua giữa những xôn xao tại Varazze, là kết
quả của cuộc họp Tu Nghị Bề trên ngày 5 tháng Tám năm 1907. Kế
hoạch chín muồi và thành hình vào đầu năm sau.
Cha Rua đã khôn ngoan tự giải thích trong một thư luân lưu gửi
những người Salêdiêng ngày 18 tháng Giêng năm 1908, hoàn toàn
dành riêng cho chuyến kinh lý ngoại thường. Ngài cần tránh làm
người Salêdiêng hoảng sợ. Vì vậy, ngài ẩn náu đằng sau điều được
nói trong Quy luật. Hiến Luật yêu cầu ngài kinh lý tất cả các nhà trong
Tu hội mỗi năm một lần hoặc trực tiếp hoặc thông qua một người
đại diện. Cho đến thời điểm đó ngài đã đi rất nhiều và tất cả các
Giám tỉnh đã thay thế một cách suôn sẻ. Nhưng không có gì có thể
thay thế cho một vị kinh lý ngoại thường, không bị các mối quan hệ
tình cảm hay lợi ích liên quan đến công việc hoặc những hội viên
ràng buộc, một người khởi hứng sự tin tưởng hoàn toàn của mọi
người. Ngài sẽ ở trong tình huống tốt nhất để ghi nhận mọi thứ và
lập bản tường trình. Bề Trên Cả muốn giải thích cẩn thận rằng việc
này không phải thuộc bất kỳ loại điều tra cảnh sát nào. Ngược lại,
ngài nói ngài được thuyết phục rằng khi những vị kinh lý mà ngài đã
ủy nhiệm gặp phải một số tình huống không may - vì ‘tất cả chúng

50.4 Page 494

▲torna in alto
494 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ta đều là con cái Ađam’ - họ cũng đã an ủi khi thấy những điều tốt
đẹp đang được thực hiện trong các nhà, nhờ vào sự nhiệt tình và các
hoạt động của những hội viên đang điều hành chúng.674
Ngài cần tạo ra công cụ thích hợp cho cuộc kinh lý và sau đó cho
nó sự trang trọng phù hợp. Trong các phiên họp của Hội đồng vào
ngày 13, 14 và 15 tháng Giêng, mọi người quyết định rằng các
chuyến kinh lý sẽ bắt đầu vào tháng Ba năm sau. Hội đồng thảo
hướng dẫn cho các vị Kinh lý. Các tỉnh được chia thành 10 nhóm (sau
đó trở thành 11) và các vị Kinh lý tương ứng được bổ nhiệm. Được
gọi đến Torino (ngoại trừ những vị Kinh lý người Mỹ), họ đã tuyên
thệ trước Bề Trên Cả, trong khi những người không thể có mặt ở đó
được một đại biểu đại diện. Tu Nghị Bề trên ghi nhận bức thư của
cha Rua vào ngày 18 tháng Giêng và bản câu hỏi mà các vị Kinh lý
phải điền vào.675
Buổi lễ sứ vụ truyền giáo diễn ra trước các thành viên của Tu Nghị
Bề trên ngày 30 tháng Giêng lúc mười giờ sáng trong nguyện đường
nhỏ của Don Bosco ở Nguyện xá. Cha Rua mặc áo Alba đeo dây stola
chủ trì. Bảy vị Kinh lý được chỉ định có mặt; bốn hội viên đại diện
cho bốn vị Kinh lý vắng mặt đi cùng họ. Họ đã hát Ave Maris Stella
và Veni Creator. Cha Rua nói về thư luân lưu ngày 18 tháng Giêng.
Cha Thư ký của Hội đồng đọc thư bổ nhiệm và giới thiệu từng vị Kinh
lý. Sau lời khuyên hiền phụ từ Bề Trên Cả, các vị Kinh lý và Đại biểu
đã tuyên thệ bằng tiếng Latinh: "Tôi cầu xin Thiên Chúa làm chứng
cho tôi, rằng tôi sẽ trung thành thực hiện nhiệm vụ đã được trao cho
tôi và tôi sẽ giữ bí mật". Tất cả đều kết thúc khoảng 11 giờ với lời
cầu nguyện theo nghi thức Agimus.676 Như vậy cha Rua đã khai mào
một trong những hành động quan trọng nhất trong thời ngài làm Bề
Trên Cả. Ngài hy vọng rằng Tu hội bước ra khỏi chuyến kinh lý ngoại
thường sẽ được thanh lọc khỏi những thiếu sót vốn đã làm biến dạng
674 L.C., 378-381.
675 FdR 4247C12-D1.
676 Tên và chức vụ của các vị Kinh lý và Đại diện, cũng như việc chỉ định các vùng
chính xác sẽ được kinh lý, xuất hiện trong biên bản chi tiết phiên họp Tu Nghị Bề
trên ngày 30 tháng Giêng, 1908, FdR 4247D2-3.

50.5 Page 495

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 495
nó, và là điều mà ngài rất quan tâm. Ngài tin rằng tất cả sẽ đóng
góp để "vinh quang Thiên Chúa thêm tỏa rạng và lợi ích của các linh
hồn", mục đích thiết yếu của Tu hội vốn được giao trách nhiệm cho
ngài.
Với những tình cảm này ngài viết một thư luân lưu dài ngày 31
tháng Giêng năm 1908, có tựa đề Canh thức. Chắc chắn loạt tai tiếng
do giới báo chí đổ xuống Tu hội trong những tuần khủng khiếp vào
tháng Bảy và tháng Tám đến từ ma quỷ. Không có gì, hoàn toàn
không có gì biện minh được cho nó. Nhưng người ta cũng có thể rút
ra một lời cảnh báo bổ ích từ đó: "Những điều xảy ra trong năm qua
cũng là những cảnh báo Chúa đang gửi đến cho chúng ta để chú ý
hơn đến những nguy hiểm sẽ được tìm thấy trong sứ mệnh tinh tế
và không dễ dàng của chúng ta trong cương vị là những nhà giáo
dục của người trẻ". Sau đó ngài khuyến cáo phải tránh thiên tư tây
vị, tránh tình bạn đặc biệt, sự vuốt ve, ngay cả khi được khởi hứng
bởi tình mến quân bình. Và ngài kể câu chuyện đầy kinh ngạc của
hai anh em được cha các em gửi đến một trường đại học Salêdiêng
cốt để cám dỗ các giáo viên. May mắn là các em đã gặp những giáo
viên thuộc loại tốt nhất, tiếp cận các bí tích và được biến đổi chỉ
trong vài tuần. Khi đến thời gian các ngày lễ, khi các em sắp đi, người
anh đi tìm vị Bề trên để cảm ơn và khóc, thú nhận âm mưu bất xứng
của người cha, ("một người không tín ngưỡng hoặc không đạo đức"),
là tính lôi người Salêdiêng ra trước công lý, và tiến hành tố tụng các
tu sĩ và linh mục để có được một khoản tiền hấp dẫn do được bồi
thường. Một nhà giáo dục không bao giờ có thể thận trọng cho
đủ.677
Chuyến đi của Cha Rua đến phương Đông
Sau đó cha Rua sắp xếp để đi một chuyến dài đến phương Đông.
Ngày 20 tháng Giêng năm 1908 ngài được cấp hộ chiếu đi Châu Âu,
Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập.678 Ngài dự định đi ngang qua Trung Âu đến
tận Tiểu Á và đến Palestine và trở về qua ngả Ai Cập và miền Nam
nước Ý. Vị Tổng Quản lý, Clement Bretto (1855-1919), vị Kinh lý
677 L.C., 382-395.
678 Giấy thông hành của ngài được giữ trong FdR 2752E4-6.

50.6 Page 496

▲torna in alto
496 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Ngoại thường cho phương Đông, đi với ngài và do đó thực hiện
nhiệm vụ đặc biệt của riêng mình. Trong suy nghĩ của Bề Trên Cả,
chuyến đi vốn sẽ diễn ra từ ngày 3 tháng Hai đến ngày 20 tháng
Năm, có hai mục tiêu chính: trước hết là để biết sâu sắc hơn về tình
hình của người Salêdiêng, và sau đó tiếp xúc trực tiếp với các địa
danh thánh thiện. Như ngài đề cập đến trong thư luân lưu kết thúc
của mình, nó phải là cơ hội để kinh lý cẩn thận các nhà Salêdiêng và
hành hương đạo đức đến phương Đông.679
Chúng ta hãy theo ngài dọc theo hành trình Salêdiêng trực tiếp
hơn của ngài.680 Ngài rời Torino ngày 3 tháng Hai và đi bằng ngả
Venice, ít nhiều dừng lại ở các chặng dừng dài, tất cả đều đáng quan
tâm, trong những nhà Salêdiêng khác nhau trải rộng khắp lãnh thổ
của Đế chế Áo-Hung, đặc biệt ở Slovenia (Lubjana và Radna). Với
người bạn đồng hành của mình, ngài đã vượt qua Serbia và Bulgaria
bằng đường sắt trên tàu Orient Express và đến Constantinople ngày
16 tháng Hai. Trong suốt cuộc hành trình, cha Rua chịu đựng đáng
kể trong khoang kín, vì ngài không thể duỗi chân bị sưng.
Constantinople, Smyrna, Nadaret
Họ hiện đang ở Đế quốc Ottoman và cha Bretto thấy mình trong
Tỉnh phương Đông vốn là trách nhiệm của ngài với cương vị là nhà
Kinh lý. Mỗi điểm dừng trên đường được dành cho các yếu tố chung
trong mỗi trường hợp: các bài phát biểu và tiếng vỗ tay, lời chúc
mừng đến các tu sĩ có chức sắc cũng như các cơ quan chức sắc của
679 Thư khai trí số 11, ngày 24 tháng Sáu, 1908, trong L.C., 522-533.
680 Nguồn thông tin chủ yếu của chúng tôi về chuyến hành trình năm 1908 là bản
tường thuật viết tay dài 164 trang được Cha Bretto gửi Cha Rinaldi, được tìm thấy
trong FdR 3013E12-3016D9 (ở đây trích dẫn là Relazione). Nó đã được sửa lại kỹ
cho thích hợp, kéo dài và được chia thành 12 phần trong Bollettino Salesiano; nó
được sửa lại thành theo hình thức những lá thư đề ngày tháng và được gửi riêng
từng lá từ Costantinopole, Smyrna, Nazareth (hai "lá thư"), Bethlehem (ba "lá thư"),
Port-Said, Alexandria in Egypt, Catania, Bari và Parma (x. Bollettino Salesiano, 1908,
134-140, 164-170, 197-206). Cũng xem I. Grego, Sulle orme di Cristo. Il Beato
Michele Rua, Primo Successore di Don Bosco, pellegrino in Terra Santa, Gierusalem,
Nhà xuất bản Phan Sinh, 1973, 33-63, được cung nghiêm túc cung cấp bằng tư
liệu, nhưng có những phần phụ thuộc chủ yếu vào Bollettino Salesiano.

50.7 Page 497

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 497
Lãnh sự Ý, các cuộc thăm viếng các nhà hảo tâm và nhà của nhiều
Dòng tu và Tu hội nhưng đặc biệt họ dành chú tâm đến các trung
tâm Salêdiêng mới trong khu vực. Vì vậy ở Constantinople, nơi họ
lưu lại từ ngày 16 đến ngày 24 tháng Hai, cha Rua với tư cách khách
mời của nhà Salêdiêng bận rộn với việc viếng thăm Đại biểu Tòa
Thánh, Đại sứ Ý và bảy Tu hội: Đa Minh, Vinh Sơn, Anh em Kitô hữu,
Dòng Tên, nữ Tu viện Phanxicô, Capuchin, Nữ Tử Bác ái. Trên đường
đi, họ cũng cẩn thận liên lạc với các Giáo hội địa phương.
Ở đây chúng tôi sẽ tập trung vào những nhà Salêdiêng và những
ký ức quan trọng nhất của cha Rua; độc giả sẽ tha thứ cho chúng tôi
nếu chúng tôi bỏ qua những chi tiết về nhiều điểm dừng trung gian.
Tối ngày 24 tháng Hai, hai du khách rời Constantinople bằng thuyền
để đi Smyrna, nơi chúng ta biết những người Salêdiêng đang điều
hành hai công cuộc: một trường nghề và một trường học cho những
người bình dân với một Nguyện xá gắn liền. Họ ở đó từ ngày 25
tháng Hai đến ngày 6 tháng Ba, và cho phép họ thăm viếng Êphêsô,
nơi cha Rua muốn tôn kính ký ức về Công đồng Đại kết năm 431.
Ngài viết: "Trong số những tàn tích của ngôi đền nơi Nestorius bị kết
án và Đức Maria được long trọng tuyên bố là Mẹ Thiên Chúa, với
nước mắt tràn mi tôi cầu nguyện với tất cả sự sốt sắng mà tôi có thể
tập trung, xin Mẹ Thiên Chúa tiếp tục bảo vệ chúng ta dưới áo
choàng của Mẹ và ban cho tất cả những người Salêdiêng ơn cổ võ
nhiệt thành lòng sùng kính Mẹ và loan truyền tất cả vinh quang của
Mẹ".681
Ngày 3 tháng Ba, thứ Ba Béo, các thiếu niên ở Nguyện xá tại
Smyrna đã tổ chức một buổi chiều rất thú vị cho những vị khách với
một cuộc diễu hành vui vẻ và một vở hài kịch đầy tiếng cười. Ngày
6 tháng Ba, qua Beirut và Damascus, họ rời Smyrna đi Tiberias, trước
tiên bằng tàu hơi nước, sau đó bằng tàu hỏa và cuối cùng là ngựa và
xe ngựa. Họ băng qua hồ trong một chiếc thuyền đánh cá. Sau này
cha Rua sẽ kể với các anh em: "Tôi may mắn được xẻ sóng của Hồ
Gennêsaret trên một chiếc thuyền. Chúa Giêsu đã bước trên nó ráo
chân, dùng lời uy quyền của Người làm yên biển động, và vượt qua
681 Thư luân lưu, ngày 24 tháng Sáu, 1908, trong L.C., 527.

50.8 Page 498

▲torna in alto
498 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hồ nhiều lần trong thuyền của Phêrô. Tôi cảm nhận mình là một
phần của mẻ cá kỳ diệu đó. Khi đặt chân lên đất liền, tôi cũng tưởng
tượng rằng tôi đang nhìn vào một bờ biển đông người say sưa lắng
nghe những lời của Thầy Chí Thánh khi Người giảng dạy từ trên
thuyền. Và rất xúc động vì điều này, tôi hướng lòng tới tất cả những
người con thân yêu của tôi và thiết tha cầu nguyện rằng tất cả họ có
thể vững vàng gắn bó với chiếc thuyền của Phêrô, vì chỉ với ngài
chúng ta mới có thể an toàn đến được bến bờ cứu rỗi.”682
Như thế, thứ bảy ngày 14 tháng Ba, cha Rua và cha Bretto đến
Nadaret, họ ở lại đây một tuần. Ban đầu, Trại Trẻ Mồ Côi Thiếu niên
Giêsu ở Nadaret (1899) đã được lập ở một vị trí bất tiện trên đồi nhìn
về thành phố. Các người Salêdiêng có đất đai rộng lớn ở đó. Giám
đốc Athanasius Prun, lập tức khởi sự xây dựng một ngôi nhà lớn,
hoàn toàn sẵn sàng để ở vào tháng Mười năm 1905. Vương cung
Thánh đường xinh đẹp Chúa Giêsu Niên Thiếu sẽ được xây dựng sát
bên cạnh nó. Lễ làm phép đặt viên đá đầu tiên chỉ vừa mới được cử
hành gần đây, ngày 20 tháng Chín năm 1907.
Cha Rua đã không để mất một phút nào ở Nadaret, như chúng ta
biết được từ bản tường thuật của cha Bretto. Ngày đầu tiên ngài
dành riêng cho một chuyến viếng thăm kỹ lưỡng trại trẻ mồ côi được
xây dựng gần đây, kiểm tra các công việc trên nhà thờ vốn đang tiến
triển nhanh chóng, và cũng xem xét địa điểm cũ. Các học sinh đã
chuẩn bị một buổi tiếp tân, và ngài cảm ơn các em bằng tiếng Ý.
Chẳng ai hiểu từ nào cả. Vì vậy, để huấn từ tối, ngài đã nhờ một
người phiên dịch. Những ngày khác đã được dành riêng đặc biệt để
đến thăm các giáo sĩ và tu sĩ. Cha Rua muốn đi đến Caimakam (Thống
đốc) của thành phố, mặc dù theo Chính Thống Giáo, ông đã xin cha
Rua chúc lành ngôi nhà và gia đình ông. Sau đó, Thống đốc nhanh
chóng đáp lại chuyến thăm bằng cách đi đến trại trẻ mồ côi cùng với
các chức sắc chính của địa phương và chỉ huy quân sự từ Jaffa vốn
đang viếng thăm Nadaret. Các trẻ cảm thấy rất vinh dự và biểu diễn
tốt nhất những tiết mục âm nhạc của mình. Họ trò chuyện cho đến
khi mặt trời lặn, tại thời điểm đó người Hồi giáo rút lui một lúc ở
682 L.C., 528.

50.9 Page 499

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 499
dưới những mái vòm để cầu nguyện theo nghi thức của họ. Vị Tư
lệnh quân đội không thể che giấu sự ngưỡng mộ của ông đối với cha
Rua. Ông ta nhận xét: "Ông ấy thực sự là một vị Thánh!".683 Cảm xúc
của cha Rua mang tâm tình của người tu sĩ. Ngài thú nhận: "Tôi
không thể ngừng nói về những ngày trải qua tại trại trẻ mồ côi của
chúng ta ở Nadaret như thế nào, mỗi lần tôi thấy mình ở giữa những
đứa trẻ thân yêu khi các em nắm tay tôi đầy tình cảm như vậy; các
em hôn tay tôi, rồi đưa nó lên trán các em, dường như tôi đang nhìn
Chúa Giêsu khi Người ở độ tuổi đó. Trong lòng tôi thường cảm ơn
Người vì đã kêu gọi chúng ta làm thiện ích nào đó cho những người
đồng bào của Người.684
Nadaret là chặng đầu tiên của cuộc hành hương qua Đất Thánh.
Bề Trên Cả không muốn bỏ qua bất cứ điều gì, đặc biệt là thành phố.
Ngài đi vài lần đến Đền thờ Truyền tin và cử hành Thánh Lễ ở đó.
Ngài tôn kính những tàn tích của một Vương cung Thánh đường
được xây dựng trong quá khứ trên nền nhà mà mọi người tin là nhà
của gia đình Thánh Gia. Sau đó, ngài đến thăm những tàn tích mà
"truyền thống" cho đó là nơi tọa lạc xưởng mộc của Thánh Giuse,
"Giếng Đức Mẹ" là nơi Đức Maria kín nước cho cả gia đình, tàn tích
của một hội đường cũ, nhà nguyện Trembling, nơi mà Đức Maria
được cho là đã chạy khi Mẹ nghe nói rằng họ sắp đẩy Chúa Giêsu
xuống từ đỉnh đồi, và cả Mensa Christi, một khối đá khổng lồ, nơi mà
Truyền thống một lần nữa cho rằng Chúa Giêsu ăn với các tông đồ
sau khi Phục sinh.
Không xa Nadaret, chúng ta tìm thấy Núi Tabor, một truyền thống
nói nơi đây diễn ra việc Chúa Giêsu hiển dung. Chiều ngày 16 tháng
Ba, cha Rua và cha Bretto, cùng với cha giám đốc Rosin và cha Giám
tỉnh Phêrô Cardano đi đến chân núi. Từ đó họ dẫn ngài đến nhà do
những tu sĩ Phanxicô coi sóc nơi họ nghỉ qua đêm. Các ngài được
đón tiếp chu đáo. Sáng hôm sau, sau khi cử hành Thánh Lễ, những
khách hành hương leo lên đỉnh núi. Một tu sĩ Phanxicô làm hướng
dẫn viên cho họ. Có sẵn những súc vật thồ nhưng cha Rua muốn tự
683 Bản tường thuật, 79.
684 L.C., 528-529.

50.10 Page 500

▲torna in alto
500 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
leo lên. Khi đường lên trở nên rất dốc, ngài chỉ chấp nhận ngồi chênh
vênh trên một con lừa.685 Cả nhóm lên đến đỉnh núi, địa điểm được
cho là nơi diễn ra việc Biến hình, và nhìn thấy tàn tích của Vương
cung Thánh đường cổ bị phá hủy trong các sự kiện từ nhiều thế kỷ
qua. Một bàn thờ được đặt ở giữa họ trong một khu vực bằng phẳng,
nơi người ta nói rằng trong các cuộc hành hương lớn Thánh Lễ
thường được cử hành. Những khách hành hương không thể thu đủ
bức tranh toàn cảnh tráng lệ trải dài dưới mắt họ. Họ sửng sốt: Núi
Hermon lớn và nhỏ hơn, những ngọn núi Gilboa, đồng bằng
Esdrelon phía sau mà họ có thể thoáng thấy những ngọn núi ở
Samaria. Chiêm ngưỡng cảnh này nhắc nhở họ về một miêu tả trong
Kinh Thánh như con trai bà góa thành Nain sống lại và Phù thủy
Endor, hoặc các sự kiện lịch sử như Thập tự chinh, Saladin và
Napoléon. Thông thường cha Rua sẽ không quá phấn khích. Nhưng
cha Bretto bảo đảm với chúng tôi rằng lần này ngài kêu lên: "Đến
Nadaret mà không leo núi Tabor sẽ mang tội".686
Tại Nadaret, cha Rua chuẩn bị cho tất cả mọi người nhân ngày lễ
Thánh Giuse, sẽ được tổ chức vào ngày 19 tháng Ba. Ngài xin cha
Prun kể cho các em biết cách đây mười năm, khi trại trẻ mồ côi bắt
đầu, Thánh Giuse đã cho họ một món quà tuyệt vời như thế nào.
Ngày 3 tháng Ba năm đó, họ sửa soạn gửi học sinh đi vì thiếu tiền.
Giám đốc đã gửi các bạn trẻ đến cầu nguyện Thánh Giuse. Một lá
thư bảo đảm đến một vài ngày sau đó, ngày 3 tháng Ba, tặng mười
ngàn franc để trả các khoản nợ và năm ngàn để duy trì công việc
tiếp tục hoạt động.687 Ngày lễ Thánh Giuse được tổ chức rất sôi nổi
và thân tình.
Bêlem, Giêrusalem, Cremisan, Beitgemal, Haifa
Ngày hôm sau, ngày 20 tháng Năm, những khách hành hương đi
thẳng đến Giêrusalem và Bêlem. Đó là một cuộc hành trình gian nan
nhưng có phong cảnh đẹp như tranh vẽ, lúc đầu trên lưng ngựa. Vì
thiếu kinh nghiệm cưỡi ngựa nên không thể tránh bị ngã vài lần. Cha
685 Bản tường thuật thứ hai của Cha Rosin, được lấy trong Amadei III, 383-384.
686 Bản tường thuật, 82.
687 Bản tường thuật, 84.

51 Pages 501-510

▲torna in alto

51.1 Page 501

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 501
Rosin, người đi với họ, nói: "Cha Rua, được khuyến khích để leo lên
con ngựa của ngài, vì không có phương tiện vận chuyển nào khác,
chỉ bỏ cuộc sau một thời gian dài, và chỉ để làm hài lòng chúng tôi".
Rủi thay con ngựa bị vấp và hất người cưỡi đáng thương khiến chúng
tôi hoảng hồn. Ngài đập đầu xuống đất và trán bị thâm tím. Ngài
đứng dậy ngay lập tức, cười và nói rằng ngài không sao cả, nhưng
ngài không muốn leo lên yên ngựa lần nữa".688
Họ tiến chậm chậm đến Naplusa, qua đêm ở đó trong giáo xứ
thuộc Tòa Thượng Phụ Latinh, và ngày hôm sau, ngày 22 tháng Ba,
họ thuê một chiếc xe ngựa chạy dọc theo con đường xuống cấp nặng
để cuối cùng đến Giêrusalem. Họ đang được chờ đợi ở trường học Ý,
nơi đây họ chỉ nghỉ lại một đêm.
Ngày 23 tháng Ba, viện cô nhi của người Salêdiêng tại Bêlem đã
sẵn sàng đâu đấy một bữa tiệc chào mừng sôi động. Một khải hoàn
môn tò vò đã được dựng bên kia con đường dẫn tới cơ sở. Một đám
đông dân địa phương và học sinh chào đón người kế vị Don Bosco.
Chỉ trong chớp mắt nhà thờ đầy những người là người. Cha Rua cảm
ơn đám đông và ban phép lành Thánh Thể cho họ. Bêlem là nơi ngài
ở lại trong bốn tuần tiếp theo khi ngài đi quanh khu vực này.
Để không bị lạc trong các tiểu tiết nhỏ vốn sẽ gây nhàm chán cho
bất cứ ai không quen thuộc với các địa danh, chúng tôi trích dẫn chỉ
một số chi tiết liên quan đến cha Rua. Ngài viết trong một lá thư gửi
cho những người Salêdiêng ngày 24 tháng Sáu: "Ngày 24 tháng Ba,
nhờ vào lòng tốt của các cha dòng Phanxicô, cha được may mắn cử
hành Thánh Lễ ở Bêlem tại Hang động Giáng sinh, và cha có thể bảo
đảm với anh chị em rằng cầu nguyện ở nơi đó không chỉ khiến lòng
bừng cháy tình yêu dành cho Thiên Chúa, Đấng đã tự hạ mình trở
thành phàm nhân để cứu rỗi chúng ta, nhưng người ta cảm thấy một
sự thúc đẩy mạnh mẽ để bắt chước Người trong sự khiêm nhường và
khó nghèo".689
Chúng ta hãy tiếp tục với một "phép lạ" đã trở thành một phần
688 Amadei III, 385-386.
689 L.C., 529.

51.2 Page 502

▲torna in alto
502 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
của "các truyền thuyết vàng" về vị anh hùng chúng ta, và được các
Nữ tu Salêdiêng nhiệt tâm truyền lại cho chúng ta. Ngày 28 tháng
Ba, cha Rua cử hành Thánh Lễ tại Giêrusalem trong nhà nguyện của
Nữ tu dòng Salêdiêng. Amadei kể câu chuyện được Sơ Felicina
Vaccarone chứng kiến - và chúng tôi sẽ để Sơ chịu trách nhiệm về
nó.
Biết rằng ngài hạ cố đến thăm cơ sở chúng tôi, tất cả các em
gái từ trường, và trẻ nhỏ từ trường mẫu giáo đã tụ họp dọc
theo hành lang dài gần lối vào. Vừa khi ngài ở giữa chúng tôi,
các em gái đọc một bài diễn văn để chào đón. Người Cha tốt
lành khuyến khích các em và chúc mừng các em vì phát âm
tiếng Ý chuẩn, và cho các em một số lời khuyên tuyệt vời, thúc
giục các em làm người tốt. Sau đó ngài quay sang cha Bretto
và nói: "Bây giờ chúng ta cần cái gì đó để tặng các em gái tốt
lành này". Cha Bretto mỉm cười, rồi thọc tay vào túi và rút ra
một túi giấy nhỏ với khoảng ba mươi viên kẹo bạc hà ở trong,
và đưa cho cha Rua. Người Cha đáng kính thấy rằng có quá ít
cho quá nhiều em, và hết mực khiêm nhường và tin tưởng vào
Thiên Chúa, nói: "Vậy thì, chúng ta hãy bắt đầu phát kẹo và
Thiên Chúa Toàn Năng .... sẽ đến trợ giúp chúng ta". Chúng ta
có thể nói gì? Với các em gái và trẻ em từ trường mẫu giáo có
khoảng 200 em và có đủ kẹo bạc hà cho tất cả mọi người, mỗi
em được 5 hoặc 6 viên. Khi đã phát xong cho các em học sinh,
người Cha tốt lành nói: "Tôi cũng muốn tặng một ít cho các Nữ
tu ..."; và ngài đã làm vậy: ngài cho tất cả chúng tôi một ít và
có mười hai người trong chúng tôi, và có đủ. Tôi nhớ rất rõ là
người cuối cùng, Sơ Agatha Tomaselli, nhận được kẹo bạc hà
của mình và chiếc túi giấy. Và như vậy kết thúc việc phát kẹo
kỳ diệu, mà mọi người đều thấy. Các Nữ tu và các em gái ở đó
là những người làm chứng. Sau đó, cha Bretto không thể nào

51.3 Page 503

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 503
quên quay sang các Nữ tu chúng tôi và nói: "Đó là một phép lạ
thực sự. Chẳng có gì để cười cả!".690
Cha Rua rất cẩn thận không bỏ qua lý do chính cho chuyến hành
hương của mình đến Đất Thánh: "Cuối cùng, ngày 30 tháng Ba, run
run đầy cảm xúc, cha dâng Thánh Lễ tại Mồ Thánh. Đó là lúc cha tạ
ơn Chúa vì đã cho phép Tu hội chúng ta chiến thắng những lời vu
khống của kẻ thù chúng ta và vì đã giành được lợi thế lớn lao cho
các công cuộc chúng ta bởi lý do đó. Trong đền thờ đáng kính đó,
cha lặp lại lời tận hiến Tu hội chúng ta cho Thánh Tâm Chúa Giêsu
và cuối cùng cầu nguyện cho mọi hội viên chúng ta được bền đỗ
trong ơn gọi của mình và không một ai bị hư mất".691
Cha Rua dành những ngày cuối cùng trong tháng Ba và những
ngày đầu tiên trong tháng Tư đến thăm những Nhà Salêdiêng ở
Cremisan và Beitgemal với những mảnh đất rộng rãi sẵn sàng để
trồng trọt. Theo thói quen khi thanh tra các công cuộc ở Ý, ngài để
lại một loạt các mục được đánh số cần chú trọng, cho thấy những
mối quan tâm chính của ngài, cả về tinh thần lẫn vật chất.692
Tại Cremisan, ngài có thể thấy những bất tiện khi bị buộc phải sử
dụng tiếng Ý trong cuộc sống hàng ngày ở những nhà tại Palestine
mà chúng tôi tự nhắc nhở chính mình, chính ngài đã yêu cầu. Vì vậy,
theo yêu cầu của vị Kinh lý, cha Bretto, ngài viết một danh sách
những điều cần chú trọng:
1. Kinh Sáng bằng tiếng Ả Rập.
2. Huấn đức cho người trẻ bằng tiếng Ả Rập vào Dọn mình
Chết lành.
690 Amadei III, 389-390. I. Grego (Sulle orme di Cristo, 4) giải thích rằng các Sơ
Maria Cattan và Emila Ayub, và cựu học sinh Latife Shaer – người cuối cùng này
từ Cha Fr Laconi – đích thân kể sự kiện này với ngài.
691 L.C., 529.
692 Chúng ta đọc những việc này trong Amadei III, 390-393. Tính xác thực của
chúng dường như được bảo đảm bởi việc chúng được viết theo văn phong đánh
số thông thường của Cha Rua.

51.4 Page 504

▲torna in alto
504 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
3. Các linh mục để có kinh nghiệm trong việc giảng thuyết mỗi
ngày Chúa Nhật thứ hai (bằng tiếng Ả Rập).
4. Lập nhà tập ở đó cho các thầy và chọn một tập sư tốt.
5. Gửi các sinh viên (thuộc Giáo hội) Latinh có ơn gọi đến
Cremisan, từ tất cả các nhà ở Trung Đông.
6. Chăm sóc rượu vang và rượu grappa và tăng sản lượng.
7. Trồng cây trên diện rộng của đất đai.
8. Thúc đẩy trồng trọt ngũ cốc, trái cây và rau quả.
9. Nhắm đến việc dựa vào các sản phẩm của riêng mình là thức
ăn và chất đốt, ngoại trừ ánh sáng và nhờ rượu vang, tất cả
các chi phí khác.
10. Tỉnh dòng phải lo liệu xem tất cả các việc đăng ký thích hợp
cho tài sản, đặc biệt quan tâm đến kế toán và quản trị.
Thật vậy rượu Cremisan sẽ sớm nổi tiếng khắp Palestine và sau đó
là ở Israel.
Cha Rua và Bretto ở lại Beitgemal từ ngày 1 đến ngày 5 tháng Tư.
Danh sách những vật phẩm tinh thần và vật chất (mà theo Amadei
đã được trao cho Giám tỉnh Cardano một tháng sau đó tại Alexandria)
rất chi tiết: hai mươi mốt thứ liên quan đến vật chất và, tôi cho là,
được cha Bretto tập hợp lại; mười một thứ thuộc loại tinh thần và
hành chính, được dành cho giám đốc và Quản lý. Những thứ này
phản ánh những mối quan tâm của cha Rua về việc quản trị các nhà
Salêdiêng và ý tưởng của ngài về nhiệm vụ của Giám đốc Salêdiêng.
Dành cho Beitgemal, cho giám đốc và Quản lý.
1. Giám đốc được nhắc nhở rằng vai trò của ngài mang tính
thiêng liêng hơn thế tục, do đó ngài hãy cẩn thận đừng để
bị những vấn đề vật chất choán tâm trí gây thiệt hại cho tinh
thần.
2. Lo liệu có hai bài giảng mỗi Chúa nhật, một buổi sáng, một
buổi tối.

51.5 Page 505

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 505
3. Huấn đức các hội viên hai lần mỗi tháng và nhận bàn hỏi
thân tình với họ hàng tháng.
4. Cũng ban huấn đức hàng tháng cho các nữ tu vào Dọn mình
Chết lành.
5. Xem liệu những gì có thể cần sửa chữa cho nhà ở của các nữ
tu.
6. Cung cấp các lớp thần học cho NN. ít nhất ba lần một tuần.
7. Khuyến khích các sư huynh và gia đình bằng những lời tốt
đẹp và sự thân tình hiền phụ, cho họ biết phải làm gì và cho
họ cơ hội giải thích các hoạt động của họ.
8. Quản lý phải coi sóc tất cả việc kế toán và đăng ký, nhưng
trong hoàn cảnh hiện tại, vì ngài thường phải ra ngoài, ngài
có thể chia sẻ vai trò quan trọng này với giám đốc.
9. Cũng vậy ngài không được dành tất cả thời gian của mình
cho những vấn đề vật chất; ngài phải có mặt để thực hành
việc đạo đức trong cộng đoàn, và dành riêng ít nhất một ít
thời gian để học hỏi về thiêng liêng.
10. Trong quản lý vật chất hãy để ngài được một sư huynh đáng
tin cậy và có năng lực giúp đỡ nhiều nhất bao có thể.
11. Bảo đảm rằng hệ thống đàn áp không được đón nhận, và
phải nói chuyện với bất cứ ai có cách tiếp cận đó.
Một lần nữa chúng ta thấy những gợi ý của cha Rua vị Kinh lý cho
những nhà Piedmontese trong thời gian 1872-1876.
Tôi trích dẫn một văn bản quan trọng mà Bollettino Salesiano loại
ra, có lẽ theo yêu cầu của cha Rua. Ngày 11 tháng Tư, sắc lệnh châu
phê Don Bosco là Đấng Đáng Kính được long trọng tổ chức tại Jaffa,
ngôi nhà được Hiệp hội Quốc gia trợ giúp những nhà truyền giáo Ý
giao phó cho những người Salêdiêng. Một buổi tiếp tân đi liền sau
Thánh Lễ trọng thể mà cha Rua chủ trì. Phó Lãnh sự Allonso muốn
phát biểu bằng tiếng Ả Rập. Thanh tra của các trường học Thổ Nhĩ
Kỳ, rất ấn tượng, ca ngợi công cuộc của người Salêdiêng và cuối cùng

51.6 Page 506

▲torna in alto
506 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
cha Rua cảm ơn những người ở đó đơn giản đến mức khi ra về, theo
Bretto, người viết lại sự kiện này, thái độ của ngài dường như là
"nhiệt tình đến nỗi mọi người ra về nói rằng 'Chúng tôi đã chứng
kiến một vị Thánh và chúng tôi đã nghe những điều mà chúng tôi
chưa từng mong đợi được nghe'.”693
Tuần Thánh đến (12-19 tháng Tư). Cha Rua theo tất cả các buổi lễ
tại Bêlem hoặc Giêrusalem. Bản thân ngài muốn chủ trì việc "rửa
chân" mười ba thiếu niên từ viện trẻ mồ côi Bêlem. Vào Thứ Sáu Tuần
Thánh, ngài tham dự Via Crucis ở Giêrusalem do các thầy dòng
Phanxicô tổ chức dọc theo Via Dolorosa. Bị buộc phải đứng lâu giờ,
giữa những đám đông không thể tránh khỏi, chân ngài bị sưng rất
đau đớn. Chúng tôi biết việc này từ bản miêu tả chi tiết của cha
Bretto.
Nó tạo nên một cảnh tượng hoành tráng: ngàn ngàn khách
hành hương Kitô hữu, không phải tất cả là người Công giáo,
sốt sắng theo cha dòng Phanxicô, người đã đưa một nhận xét
ngắn xúc động ở mỗi Chặng, sau đó đọc lời kinh thông thường.
Tuy nhiên, thật không may, buổi cầu nguyện này thường bị
quấy rầy bởi những người lính Thổ Nhĩ Kỳ, họ đi qua đám đông
các Kitô hữu mộ đạo nhiều lần để nhấn mạnh họ đang kiểm
soát những nơi này. Thật vậy năm nay chúng tôi vẫn đang tập
trung trên con đường phía trước sân trong của người Thổ Nhĩ
Kỳ tại Chặng đầu tiên thì một cuộc diễu hành với binh lính cầm
cờ và âm nhạc Thổ Nhĩ Kỳ buộc chúng tôi đứng dạt sát vào
tường. Họ cứ tiếp tục đến, mang theo những súng nòng dài
nạp đạn, trên lưng ngựa với những khẩu súng trường được
giương lên sẵn sàng, những người khác với đôi chân có các mũi
giáo. Có nhiều loại đồng phục và họ có màu da nâu đến đen
sậm. Đằng sau họ là người đứng đầu tôn giáo của họ, cư trú
tại Giêrusalem, trên lưng ngựa.
Khi cuộc diễu binh đã đi qua, đám rước bắt đầu, nhưng ở một
vài chặng, việc di chuyển từ chặng này đến chặng kia gặp khó
693 Bản tường thuật, 119, in FdR 3015E12.

51.7 Page 507

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 507
khăn vì đám đông lớn, trong khi cha đang nói chúng tôi nghe
thấy tiếng kèn thông báo một đội lính tuần tra lớn đang đến.
Vị linh mục yêu cầu mọi người nhường chỗ mà không tỏ ra bất
kỳ dấu hiệu thiếu kiên nhẫn nào; họ đi qua và sau đó chúng tôi
bắt đầu trở lại trên con đường dọc theo Via Dolorosa.
Chúng tôi vây quanh cha Rua đáng thương để bảo vệ ngài khỏi
bị xô đẩy và chen lấn từ tứ phía; nhưng con người tội nghiệp
ấy chắc hẳn đã rất mệt mỏi vì vào buổi tối chúng tôi thấy hầu
như ngài không thể đứng nổi. Tại một thời điểm dọc theo Via
Crucis, nơi những con phố hẹp và đám rước phải tự lùi lại,
chúng tôi nghe thấy một tiếng huyên náo bất thường và mọi
người la hét, khiến chúng tôi sợ rằng đã gặp phải một dạng
bạo động, nhưng cách tiếp cận đầy nghị lực của một số các
thầy dòng Phanxicô và một số cận vệ trả lại sự tĩnh lặng và
chúng tôi đi tiếp lên đồi Calvê, nơi có một số chặng, tất cả trong
Vương cung Thánh đường Mồ Thánh.
Tại điểm này việc đi vào trở nên khó khăn hơn. Đám đông
khổng lồ chen chúc và chúng tôi phải chống chọi để giữ cho
cha Rua được gần vị linh mục đang giảng thuyết, để có thể
nghe rõ. Chúng tôi hăng hái cho ngài lẫn chính chúng tôi, vì
vậy chúng tôi đã đẩy mình lên các bậc thang dẫn thẳng dốc tới
vị trí đồi Calvê. Sau đó, cũng nỗ lực như vậy và rất cẩn thận,
chúng tôi vội vã quay lại để đến chỗ của chặng cuối cùng tại
Mồ Thánh.694
Buổi lễ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đó là một Via Crucis đích thực
cho cha Rua. Chắc chắn với một người sùng mộ như ngài nó nâng
tâm hồn ngài lên. Ngày Chúa nhật Phục sinh 19 tháng Tư, cử hành
tại Bêlem, cuộc hành hương đến những linh địa, được gọi đúng đắn
là thế, đã kết thúc. Ngày hôm sau chuyến đi trở về Ý bắt đầu bằng
đường biển. Chúng tôi sẽ tóm tắt việc này, vì bản tường trình, đặc
biệt là trong phiên bản lớn hơn được Bollettino đăng tải (có liên quan
tới việc đáp ứng và đề cập đến tất cả các công cuộc và những người
694 Bản tường thuật, 124-126, in FdR3016A5-7.

51.8 Page 508

▲torna in alto
508 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đã gặp), khá phong phú.
Ngày 20 tháng Tư, cha Rua và Bretto bắt đầu lên tàu tại Haifa đi
đến Alexandria ở Ai Cập, nơi những người Salêdiêng điều hành một
ngôi trường Ý thành công. Từ ngày 21 đến 30 tháng Tư, họ đã làm
cuộc kinh lý cặn kẽ về công cuộc. Trong khi đó, ngày 24 tháng Tư,
Phó Tổng Bề trên Rinaldi gửi cho các Giám tỉnh và giám đốc một bức
thư luân lưu dài từ Torino về chuyến đi của Bề Trên Cả đến Trung
Đông, Tiểu Á và Đất Thánh.695 Bằng cách này toàn Tu hội có thể
đồng hành với Bề Trên Cả.
Ngày 30 tháng Tư chiếc tàu hơi nước Orione rời Alexandria đi
Messina ở Sicily. Họ lên bờ ngày 4 tháng Năm, sau một cuộc vượt
biển gay go vì bão. Cha Rua đến thăm những nhà Salêdiêng trên
đảo. Ngày 5 tháng Năm, ngài ở Syracuse, sau đó lên tàu từ đây đi
Malta và La Valletta, ở đó ngài khánh thành một cơ sở Salêdiêng mới
(Sliema), một dịp có nhiều lễ hội khác nhau. Ngày 8 tháng Năm
chúng tôi thấy ngài ở Sicily và thứ ba ngày 12 trở lại ở lục địa
Calabria. Sau đó ngài tiếp tục đến Bari, Foggia, Macerata (17 tháng
Năm), rồi đến Loreto, Bologna (ngày 19 tháng Năm), và cuối cùng
đến Alessandria (ngày 20 tháng Năm). Ngày hôm đó ngài đến thăm
các Nữ tu Salêdiêng trong thành phố, các chị em buồn bã thấy ngài
cực kỳ mệt mỏi như thế nào: "Môi ngài khô khốc, trông ngài giống
như một người bị đóng đinh". Tối hôm đó, ngài bước vào lại Nguyện
xá ở Torino, nơi sau các buổi lễ dành cho tháng Đức Maria, ngài ban
phép lành Thánh Thể và ngâm nga Te Deum tạ ơn Chúa vì đã đưa
cuộc hành trình đến hồi kết thúc, cuộc hành trình dài nhất trong cả
đời ngài. Ngày 24 tháng Năm, trong một thư luân lưu gửi các Giám
tỉnh và Giám đốc, Cha Tổng Phó Bề trên Rinaldi, có thể nói rằng Bề
Trên Cả, "trở về từ chuyến đi dài của ngài để thăm các nhà của chúng
ta ở Trung Đông", cảm ơn "các hội viên thân yêu một cách nồng
nhiệt vì những lời cầu nguyện đồng hành với ngài trong những tháng
qua” và hy vọng rằng họ sẽ "qua tháng Thánh Tâm Chúa Giêsu sắp
695 Thư luân lưu này, kết quả của những lá thư được viết giữa Cha Bretto và Cha
Rinaldi trong suốt chuyến đi, được giữ trong FdR 4074E7-12.

51.9 Page 509

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 509
đến cách thánh thiện".696
Những cảm nghiệm trong chuyến đi
Cha Rua dành lá thư luân lưu ngày 24 tháng Sáu viết về chuyến
đi của mình đến Trung Đông. Ngài bày tỏ sự hài lòng, thực sự là ngài
hài lòng quá độ (nếu tôi có thể liều lĩnh dùng tính từ hiện đại này).
Không những chuyến hành hương đến những thánh địa làm ngài
thỏa mãn, như chúng ta vừa thấy, mà nó còn cho ngài cách để thấy
ở mọi nơi những lời vu khống nhằm phá hủy Tu hội vào những tháng
trước đã không để lại dấu vết nào. Ở mọi nơi ngài thấy lời khen ngợi,
không có bóng dáng của sự dè dặt ở bất cứ nơi đâu. Trước khi viết
tiếp về những cảm tưởng mà ngài có về những địa điểm linh thánh,
ngài nhấn mạnh với đầy đủ chi tiết về sự hài lòng của mình về công
trình của các con cái mình ở những vùng xa xôi đó.
Trước hết chuyến đi này cho phép cha viết về kết quả chuyến
viếng thăm mà cha đã thực hiện đến nhiều nhà của chúng ta
trong suốt cuộc hành trình của cha. Ở mỗi nơi, cha cố gắng lưu
lại lâu hết sức có thể để có được ý tưởng chính xác về những
công cuộc mà các hội viên chúng ta đang điều hành, những
khó khăn mà họ gặp phải trong công việc tông đồ vốn không
phải lúc nào cũng dễ dàng và kết quả họ đạt được từ những nỗ
lực của mình. Từ những gì chính mắt cha nhìn thấy, chính tai
cha nghe được và, có thể nói, chính tay cha chạm đến, cha rút
ra được niềm an ủi sâu thẳm khi có thể kết luận rằng Chúa tiếp
tục chúc lành cho Tu hội chúng ta, và Ngài không ngừng dùng
chúng ta như một công cụ vì lợi ích của nhiều linh hồn.
Lời khen ngợi dư đầy khắp nơi: ở Áo-Hung, ở Tiểu Á, ở Đất Thánh,
ở Ai Cập, Malta, Sicily, và khắp bán đảo Ý. "Những lời vu khống và
sự bách hại của những cá nhân khó chịu chống lại các bề trên và giáo
viên cũ trước đây của họ, thay vì khiến những cựu học sinh xa lánh
chúng ta, thì lại cho thấy tình cảm và sự nhìn nhận được thức tỉnh
một cách an ủi và thúc giục họ cùng sát cánh và cho thấy họ càng
trung thành hơn với việc giảng dạy họ đã nhận được". Chúng tôi lưu
696 FdR 4075A1-3.

51.10 Page 510

▲torna in alto
510 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
ý rằng hội Cựu Học sinh Salêdiêng ra mắt chính xác vào năm 1908.
Nhưng ngài vội vã nói thêm rằng tất cả những lời khen ngợi phải
được gửi đến Don Bosco:
Cha thú nhận rằng về phần mình, cha thích rằng họ bỏ qua bản
thân tội nghiệp của cha, và chỉ nói những gì cho vinh quang cả
sáng của Thiên Chúa và lợi ích các linh hồn. Nhưng không ai
được thuyết phục hơn cha rằng bất cứ điều gì được thực hiện
để tôn vinh cha Rua, chỉ là sự phản ánh tình cảm và sự tôn kính
mà họ dành cho Don Bosco; vì vậy cha không tin rằng mình
nên ngăn chặn những dấu hiệu như vậy. Thật vậy, liên quan
đặc biệt đến chuyến đi cuối cùng của cha, cha thấy dường như
mình có nhiệm vụ chấp thuận và cho phép những cách thể hiện
lòng quý trọng này vốn sẽ được các Cộng Tác viên chúng ta
biết đến [ám chỉ đến các bài viết để theo dõi trên tờ Bollettino],
để họ có thể biết rõ hơn công cuộc chính của ngài, cùng với
Don Bosco, thậm chí ở những vùng xa xôi, được trân trọng biết
bao; đó là, Tu hội chúng ta. ... Cha có bằng chứng rõ ràng,
trong những chuyến hành trình gần đây, về lòng quý trọng mà
các chức sắc giáo hội và dân sự, các Dòng Tu, những công dân
được kính trọng nhất dành cho Tu hội Salêdiêng. ... Trong
cương vị Bề Trên Cả ở mọi nơi mọi người đều muốn tôn vinh
Tu hội chúng ta; với sự hoan hô, khen ngợi, các buổi văn nghệ
mà họ dành cho cha, ngoài sự tôn kính cho Don Bosco, họ bày
tỏ lòng biết ơn họ cảm nhận được đối với tất cả những người
Salêdiêng. Và đây là lý do tại sao tại thời điểm đó con người
khiêm hạ của cha biến mất, và Tu hội chúng ta được tán dương
và Đấng Sáng lập đáng kính của chúng ta được hoan hô.697
Một thế kỷ sau, có lẽ những lời đạo đức và tình mến này không
thuyết phục chúng ta. Thật vậy, bất cứ nơi nào ngài đến thì đó là do
họ muốn thấy và nghe người kế vị thánh thiện của Don Bosco. Điều
này thật hiển nhiên và những độc giả của Bollettino năm 1908 biết
điều đó mặc cho chuyến đi được kể lại theo đường nét nào.
697 L.C., 522-527.

52 Pages 511-520

▲torna in alto

52.1 Page 511

▲torna in alto
Bảy Tháng Đau Đớn và Vui Mừng | 511
Quá trình tuyên chân phước và tuyên thánh Đaminh Saviô
Ngày 4 tháng Tư năm 1908, trong khi chuyến hành hương ở
Palestine vẫn còn đang tiếp diễn, quá trình cung cấp thông tin tại
Torino cho việc tuyên chân phước và tuyên thánh của Đaminh Savio
mở ra. Cha Rua được trích dẫn là một trong những nhân chứng ưu
tiên,698 cùng với năm người khác: Giáo sĩ Gioan Tẩy giả Anfossi và
Giacinto Ballesio, những người Salêdiêng Cagliero và Cerruti, và giáo
dân Charles Savio, một nông dân từ Mondonio. Bốn nhân chứng
chính thức khác sau đó được bổ sung: cha Francesia, người Salêdiêng,
và các linh mục giáo xứ cha Piano, Pastrone và Vaschetti.
Giữa nhóm nhân chứng, chắc chắn cha Rua là người cung cấp
thông tin nhiều nhất. Ngài can thiệp trong sáu phiên tòa, từ ngày 23
tháng Sáu đến ngày 20 tháng Bảy năm 1908. Chúng tôi tìm thấy các
câu trả lời của ngài trong Summarium với 243 trang trong một phần
của bộ sưu tập mang tên Positio super introductione causae
beatificationis và canonizationis Servi Dei Dominici Savio.699 Cha Rua đã
không tiếc lời khen ngợi người bạn đồng liêu trước đây của mình tại
Nguyện xá ở Valdocco. Cậu đã kết thân với cha Rua từ khi ngài đến
Nguyện xá ở Valdocco vào tháng Mười năm 1854, cho đến khi cuối
cùng cậu ra đi, vào đêm cậu qua đời tháng Ba năm 1857. Sau năm
mươi năm, ngài được thẩm vấn về các nhân đức của người môn đệ
đồng liêu, tiếp tục khơi dậy nơi ngài sự ngưỡng mộ nồng nhiệt. Niềm
tin của thiếu niên ấy là một niềm tin cực kỳ “đơn sơ”. "Tôi Tớ Chúa
được hướng dẫn trong mọi hành động bằng hy vọng về phần thưởng
đời đời". "Tôi được thuyết phục rằng Tôi Tớ Chúa không bao giờ
phạm một trọng, tôi sẽ nói, cũng như không có bất kỳ tội nhẹ nào".
“Cậu thường đi vào trạng thái ngây ngất trước Thánh Thể hoặc bàn
thờ Đức Mẹ. Cậu nhiệt tâm lo việc cứu rỗi linh hồn gần tới mức độ
anh hùng. Cậu anh hùng khi thực hành công bằng, khôn ngoan, can
đảm, tiết độ, khiết tịnh, khiêm nhường và vâng phục. Cậu thực sự là
698 P. Stella, La canonizzazione, 152.
699 Asten. et Taurinen. Beatificationis et Canonizationis Servi Dei Dominici Savio
adolescentis laici alumni Oratorii Salesiani. Summarium super dubio, Rome, Istituto Pio
IX, 1913.

52.2 Page 512

▲torna in alto
512 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
một vị Thánh. Bên cạnh đó, sau khi qua đời, các đồng bạn của cậu
lập tức bắt đầu cầu nguyện xin cậu cầu bầu, và các tu sĩ xuất sắc
mong đợi cậu được tuyên thánh”. Cha Rua cũng trích dẫn hai sự chữa
lành được ban nhờ cậu chuyển cầu: “Tôi đã nghe nhiều về các ơn
nhận được nhờ Tôi Tớ Chúa chuyển cầu, một số chính tôi đã viết
xuống khi những người được nhận ơn đọc cho tôi chép, và chúng có
thể được tìm thấy trong phụ lục cho cuốn Cuộc đời [Đaminh Savio]
được Đấng Đáng Kính Gioan Bosco viết, và trong số những ân sủng
nhận được nhờ Tôi Tớ Chúa chuyển cầu, một số có vẻ kỳ diệu”.700
Những phiên họp dài trước tòa án giáo phận, có nhiệm vụ chuẩn
bị án kiện tuyên Chân phước cho Đaminh Savio, cùng với thông báo
của ngài về chuyến kinh lý ngoại thường và chuyến đi đến phương
Đông, sự kiện thứ ba năm 1908 đã khiến bảy tháng đau đớn nhưng
đầy an ủi đó trở nên đáng nhớ với cha Rua. Chuyến kinh lý ngoại
thường tới các nhà của người Salêdiêng, được thông báo vào tháng
Giêng, có được những kết quả an tâm. Cuộc hành trình dài qua Trung
Âu, Tiểu Á, Palestine, Ai Cập và miền Nam nước Ý đã an ủi trái tim
ngài. Bây giờ quá trình mở án kiện phong thánh cho Đaminh Savio
cho phép ngài sống lại một số khoảnh khắc ưu tuyển thời trẻ của
mình.
700 Ibid., 179.

52.3 Page 513

▲torna in alto
33
Cung Hiến Thánh Đường Santa Maria Liberatrice | 513
CUNG HIẾN
Thánh đường Santa Maria Liberatrice
Thánh đường Santa Maria Liberatrice ở Rôma
Giống như Don Bosco hai mươi mốt năm trước, cha Rua cũng vậy,
trước khi qua đời, đã đến Rôma lần cuối cùng để cung hiến một nhà
thờ được giao phó cho người Salêdiêng. Vào tháng Năm năm 1887,
Don Bosco đã tham dự vào lễ khánh thành Sacro Cuore [Thánh đường
Thánh Tâm], mà việc xây dựng đã khiến ngài chịu nhiều đau khổ. Vào
tháng Mười Một năm 1908, cha Rua tham dự lễ cung hiến Nhà thờ
Santa Maria Liberatrice, trong một vùng ngoại ô có vấn đề của thành
phố.701
Từ tháng Mười năm 1904, Đức Piô X đã bày tỏ dấu cảm kích đối
người Salêdiêng, trước hết ban tới tấp những ơn tiểu xá và đại xá
cho các Cộng Tác viên,702 sau đó (tháng Giêng năm 1905) trao cho
họ, gratis, Nhà thờ San Giovani della Pigna, được trù định trở thành
trung tâm hoạt động của Văn phòng Tổng Truyền Giáo Salêdiêng.703
Cùng năm đó, hầu như bằng cách 'đền bù', Đức Giáo Hoàng giao
phó Tu hội việc hoàn tất xây dựng một nhà thờ khác ở Rôma. Ở vùng
ngoại ô hẻo lánh mới Testaccio, trong một khu vực dưới sự kiểm soát
của thế giới ngầm của thành phố ("Trung Hoa ở La Mã" họ từng gọi
thế), người Salêdiêng đã mở một trường học và một Nguyện xá ngày
701 Ở đây tôi theo đúng Ceria, Vita, 494-509.
702 X. Tổng hợp các Ơn xá, Đặc ân và Đặc miễn được ban cho các Hiệp hội Cộng Tác
viên Salêdiêng được Đức Thánh Cha Piô X phê chuẩn, tại buổi triều yết ngày 13 tháng
Bảy, 1904, trong Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1905. 8-10.
703 Cha Rua giải thích trong thư luân lưu ngày 19 tháng 2, 1905, trong L.C., 324-
325.
513

52.4 Page 514

▲torna in alto
514 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
lễ bắt đầu cho thấy kết quả,704 nhưng dân chúng cảm thấy bị bỏ bê
theo nghĩa tôn giáo: không nơi thờ phượng cho người lớn, không có
sự hiện diện rõ ràng của Giáo Hội. Cần tạo ra một giáo xứ. Đức Lêô
XIII đã thiết lập một quỹ để bắt đầu xây dựng. "Họ bắt đầu đặt nền
móng khoảng hai mươi năm trước đây", cha Rua giải thích với các
Cộng Tác viên trong một lá thư tháng Giêng năm 1906. Nhưng dự
án đã lâm vào cảnh khó khăn. Đức Piô X đã có một giải pháp triệt
để. Ngài lấy công trình ra khỏi Khu Đại diện Tông Tòa của Rôma và
giao phó cho những người Salêdiêng. Vào năm 1905, Đức Hồng y
Tổng Đại diện nhận được lệnh tiếp tục các vấn đề bỏ dở với cha Rua.
Cha Rua viết, công việc bắt đầu ngay lập tức "theo các bản vẽ của
kiến trúc sư Mario Ceradini". Ngài chắc chắn rằng các Cộng Tác viên
sẽ giúp đỡ nhiệm vụ này.705 Giáo xứ sẽ được dâng hiến Maria
Liberatrice [Đức Maria Đấng Giải phóng]. Việc này là để làm sống lại
tên của một tòa nhà tôn giáo cổ xưa đã biến mất từ lâu vốn tọa lạc
Tòa án Rôma.
Công trình không mất nhiều thời gian. Đến cuối năm 1907, những
người thợ nề đã xây đến tận mái hiên. Nhờ vậy việc này cung cấp
một dịp để khuyến khích các Cộng Tác viên hào phóng: tháng Chín
năm 1907 lễ hội bắt đầu cho năm thánh kỷ niệm Đức Piô X thụ
phong linh mục. Cha Rua yêu cầu công việc được tăng tốc để ngài
có thể tặng nhà thờ làm quà cho Đức Giáo Hoàng cho lễ kỷ niệm
Kim khánh linh mục của ngài. Ngài viết cho các Cộng Tác viên vào
tháng Giêng năm 1908: "Nhưng để hoàn thành nhà thờ như được
đề xuất, điều tuyệt đối cần là mọi người phải giúp cha ngay".706
Sự hỗ trợ cá nhân cho Đức Giáo Hoàng sẽ rất đặc biệt đối với
ngài. Ngày 25 tháng Chín năm 1907, ngài viết thư cho Đức Piô X:
"Tu hội Salêdiêng và Hiệp hội Cộng Tác viên Salêdiêng, muốn có
phần trong việc biểu hiện long trọng lòng sùng kính con thảo mà
704 Thư luân lưu ngày 31 tháng Giêng, 1909, trong L.C., 401.
705 Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1906, 13.
706 Có thể tìm thấy những câu hỏi được in trong FdR 3983D5-7; trong FdR 3983D8
chúng tôi tìm thấy những câu hồi đáp được Đức Giáo Hoàng chấp thuận và đề
ngày 21 tháng Tám .

52.5 Page 515

▲torna in alto
Cung Hiến Thánh Đường Santa Maria Liberatrice | 515
thế giới Công giáo đang chuẩn bị để kỷ niệm Kim khánh linh mục
được chờ đợi từ lâu của Đức Thánh Cha, muốn tặng Đức Thánh Cha
Nhà thờ Santa Maria Liberatrice, hoàn thành và mở cửa để thờ
phượng. Nó đang được xây dựng tại Testaccio ở Rôma, và sẽ sẵn
sàng trước khi kết thúc năm thánh. Đúng là vẫn còn nhiều việc phải
làm để thực hiện mong muốn mãnh liệt này, nhưng con chắc chắn
nó sẽ đi đến kết cục viên mãn nếu Đức Thánh Cha ban Phép lành Tòa
Thánh trên tất cả các Cộng Tác viên Salêdiêng vốn đang khẩn trương
hoàn thành nhà thờ quan trọng nhất này". Đức Giáo Hoàng sẵn sàng
ban phép lành trên tất cả các Cộng Tác viên, cùng với lời cảm ơn
chân thành vì sự đóng góp của họ.707
Ước muốn của cha Rua đã được đón nhận. Công cuộc được tiến
hành khẩn trương. Vào tháng Năm năm 1908, các bức tường của
nhà thờ và phần chính điện đã được hoàn thành. Ủy ban trung ương
cho các lễ hội năm thánh đã được thành lập ngày 16 tháng Mười
Một, ngày kỷ niệm hai mươi bốn năm thụ phong Giám mục của Giuse
Sarto như là điểm cao trào cho các lễ kỷ niệm của Rôma. Vì vậy, đó
là ngày hy vọng để tất cả mọi thứ được sẵn sàng. Người ta đưa ra
quyết định: lễ cung hiến nhà thờ Santa Maria Liberatrice sẽ vào ngày
15 tháng Mười Một. Cha Rua dự định đi Rôma một vài ngày trước
đó.
Những thiếu niên ở Nguyện xá, được các Bề trên khuyến khích, sẽ
cầu nguyện và hiệp thông để người cha của họ hành trình đi về được
an toàn. Mọi người đều biết thực tế sức khỏe của cha Rua đã trở nên
không ổn định như thế nào. Giữa tháng Bảy và tháng Chín, ngài đã
muốn tích cực tham gia một loạt các đợt tĩnh tâm cho người
Salêdiêng: Valsalice, Sampierdarena, Nizza Monferrato, một lần nữa
tại Valsalice, Foglizzo và lần thứ ba tại Valsalice, rồi Ivrea, Lanzo và
cuối cùng ở Lombriasco. Đến giờ đôi chân của ngài đầy vết thương,
gây đau đớn tột độ.
707 Ghi chú được gửi tới Circolo Don Bosco, gửi cho "Cha Rua thân mến, Bề trên
Tổng quyền ", ngày 24 tháng Chin, 1907, trong FdR 3833A5.
515

52.6 Page 516

▲torna in alto
516 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Không mất mát gì nhiều để hủy bỏ chuyến đi đến Rôma vào tháng
Chín, sau một sự cố xảy ra trong thời gian tĩnh tâm tại Lanzo. Vào
dịp đó cha Rua lại muốn đến thăm Đền Thánh Ignatius, trên đỉnh
Núi Bastia gần đó, nơi Don Bosco đã đưa ngài đến nhiều lần trong
thời trẻ của ngài. Người có tuổi yêu thích hình thức trở về quá khứ
này. Ngài muốn đi bộ lên. Lên đến đó ngài cầu nguyện, nói chuyện
với các tư giáo của những vị Truyền giáo Consolata vốn đang đi nghỉ
tại đó, hồi tưởng lại những ký ức trong quá khứ. Sau đó ngài bắt đầu
đi xuống. Một linh mục tốt lành từ nơi này đi cùng ngài và nắm lấy
cánh tay ngài, nhưng dọc theo con đường tắt đột nhiên mất thăng
bằng và đôi giày đinh đầu to của vị linh mục đập vào xương ống
chân của cha Rua. Ngài gần như bất tỉnh, nhưng ngài trấn tĩnh lại và
nén cơn đau khủng khiếp, tiếp tục đi xuống. Buổi tối, tại trường đại
học, khi cởi giày, ngài thấy rằng ngài đã mất nhiều máu. Ngài tự
chăm sóc mình trong một tháng cho đến khi cha Rinaldi thuyết phục
ngài đi khám bác sĩ để kiểm tra. Bác sĩ ra lệnh nghỉ ngơi ngay lập
tức, bằng không, không đi Rôma được. Ngày 1 tháng Mười, cha Rua
chủ trì cuộc họp Tu Nghị Bề trên trong phòng của mình.708 Ngài đón
khách trong văn phòng, ngồi trên chiếc trường kỷ, chân giơ cao. Tất
cả Nguyện xá biết về bệnh tật của ngài. Ngày 9 tháng Mười Một,
trước ngày khởi hành, ngài có mặt để phát giải thưởng cho các thiếu
niên lao động, và được một tràng pháo tay dài chào đón, như sử
biên niên địa phương nói.709
Trên đường đi Rôma
Cuối cùng, ngày 10 tháng Mười Một, cha Rua đã có thể lên đường
đi Rôma, theo các chặng đường ngắn, được cha Francesia đi kèm.
Họ dừng lại ở Sampierdarena, rồi Livorno, và tại Colle Salvetti. Họ
đến Rôma vào thứ bảy ngày 14. Trong những lần dừng chân, cha
Francesia muốn cha Rua được yên tĩnh, nhưng không thành công.
Cha Rua không bao giờ miễn thứ cho mình. Khán thính giả lũ lượt
kéo đến. Bạn đồng hành của ngài viết từ Livorno, một ngày sau khi
708 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 1 tháng Mười, 1908, trong FdR
4248A8.
709 Amadei III, 451.

52.7 Page 517

▲torna in alto
Cung Hiến Thánh Đường Santa Maria Liberatrice | 517
họ lên đường: "Cha Rua đã kiệt sức. Ngài không thể che giấu sự thật,
nhưng tạ ơn Chúa, ngài đã bình tĩnh xử lý sự mệt mỏi từ những
chuyến thăm và các bài huấn đức này".710 Thật vậy bất cứ nơi nào
cha Rua đến, ngài đều muốn nói chuyện với các hội viên. Và không
bao giờ nói ngắn.
Người ta nói rằng tại Livorno ngài tiên đoán tương lai của hai đứa
trẻ. Họ đã đi thăm gia đình Cộng Tác viên Richard De Ghantuz
Cubbe, ông này giới thiệu hai đứa con của họ cho ngài, một em tên
là Gioan, năm tuổi, và em kia tên Raphael, lên bốn. Cậu bé lớn hơn
thích thú với các nghi lễ tôn giáo đến nỗi cha mẹ cậu đã làm cho cậu
một bàn thờ nhỏ ở đó cậu chơi trò làm linh mục. Mẹ cậu may áo lễ
vừa với khổ người cậu. Người cha và người mẹ thấy những dấu hiệu
rõ ràng về ơn gọi linh mục ở cậu. Họ kể cho cha Rua nghe, ngài chỉ
vào Gioan nói: "Đứa này, không", và sau đó với Raphael: "Đứa này,
đúng!" Người cha giữ một cuốn sổ ghi chép các sự kiện trong gia
đình nhỏ, và ghi chú ngày 11 tháng Mười Một năm 1908: "Cha Rua
không biết Raphael hiếu động ra sao". Theo thời gian những thích
thú về phụng vụ của Gioan biến mất, trong khi vào năm 1921
Raphael nhập tập viện Dòng Tên và được thụ phong linh mục ngày
26 tháng Bảy năm 1934. Cha Rua đã đúng.711
Tại Colle Salvetti, các học sinh đã tổ chức một buổi văn nghệ nhỏ
để vinh danh ngài, và cha Rua đã cho các em huấn từ tối.
Cung hiến Thánh đường
Ở Rôma, hai du khách ở lại Văn phòng Truyền giáo Salêdiêng tại
San Giovani della Pigna. Sáng hôm sau, cha Francesia ngạc nhiên thấy
cha Rua giúp lễ cho cha Tổng Đại diện trong nhà thờ gần đó. Ngày
hôm đó, ngày 15 tháng Mười Một, là ngày Chúa nhật. Bề Trên Cả
vội vã đi thăm nhà thờ Santa Maria Liberatrice. Các công nhân đã bắt
tay vào việc nhưng không thể hoàn thành. Điều đó không thể, một
710 Thư của G.B. Francesia gửi Cha Rinaldi, Livorno, ngày 11 tháng Mười Một,
1908, trong FdR 3016D12.
711 Ceria, Vita, 498-499.
517

52.8 Page 518

▲torna in alto
518 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
phần vì một phần bàn thờ chính, từ Milan, vẫn chưa đến. Không ai
biết thậm chí nó ở đâu. Vì vậy việc cung hiến được xếp vào ngày 29
tháng Mười Một, ngày Chúa nhật đầu tiên của Mùa Vọng.
Chúng ta đừng nghĩ rằng cha Rua tận dụng sự chậm trễ để nghỉ
ngơi. Ngày 16 ngài tham dự các lễ nghi Năm Thánh ở quảng trường
Thánh Phêrô. Cha Tổng Đại diện đã dành một chỗ tốt cho ngài với
các giáo sĩ, cạnh bàn thờ của Đức Giáo Hoàng. Buổi lễ kéo dài ba
tiếng đồng hồ. Cha Francesia nghĩ Đức Piô X đã nhận ra cha Rua và
quay về phía ngài tại một khoảnh khắc quan trọng. Có thể. Dù sao
thì Bề Trên Cả đang bị đau. Cha Francesia viết: "Tôi lo lắng về đôi
mắt của ngài, vì mắt ngài trông lờ mờ hơn và ngài không thể che
giấu sự thật rằng nó đang làm ngài khó chịu, vì ngài cứ phải nhắm
mắt thường xuyên và dụi nó."712 Những vị khách quý đến gặp ngài
tại Văn phòng Truyền giáo, vì Lễ kỷ niệm của Đức Piô X đã thu hút
nhiều người đến Rôma.
Để được nghỉ ngơi một chút, người ta đề nghị cha Rua ghé thăm
những ngọn đồi ở Rôma nơi người Salêdiêng có một số nhà. Ngài
đến Genzano vào buổi tối, và những tập sinh làm ngài bất ngờ với
sự chào đón bằng ánh đuốc ở lối vào thành phố. Cha Rua đã ban
huấn từ tối. Thư ký Francesia ngài rất ngạc nhiên khi thấy ngài vẫn
"tươi như hoa". Cha giám đốc thậm chí còn kinh ngạc hơn. Chúng tôi
đọc những gì cha Anrê Gennaro nói trong quá trình tuyên thánh:
"Ngày 18 tháng Mười Một năm 1908 tại Genzano ở Rôma, cha Rua
gọi tôi đến phòng ngài sau khi giờ kinh chiều. Tôi đến; khi tôi bước
vào ngài đang ngồi và ngài nhờ tôi cởi giày và vớ của ngài, vì tự ngài
không thể làm được. Tôi đã gần như quỳ gối vì lòng kính trọng hơn
là vì sự cần thiết phải làm việc đó. Sau khi cởi giày tôi lột chiếc vớ
đầu tiên ra. Nhìn chân màu đen tái nhợt của ngài, tôi xúc động kêu
lên: "Ôi chao! cha Rua, nhìn đôi chân này! - Nhưng cha Rua bảo tôi
nhanh chóng cởi chiếc vớ kia, và tử tế chúc tôi ngủ ngon, để tôi đi.
Tôi có cảm tưởng rằng các bệnh giãn tĩnh mạch mà ngài chịu đựng
712 Được Ceria trích dẫn, Vita, 500.

52.9 Page 519

▲torna in alto
Cung Hiến Thánh Đường Santa Maria Liberatrice | 519
đã ảnh hưởng đã ảnh hưởng nặng nề đến đôi chân.713
Mặc dù tòa nhà chưa hoàn toàn sẵn sàng, buổi lễ cung hiến thánh
đường nguy nga, xinh đẹp Santa Maria Liberatrice đã diễn ra ngày 29
tháng Mười Một. Cha Rua viết trong thư luân lưu ngày 31 tháng
Giêng như sau: "Cha không biết diễn tả ra sao bằng lời niềm vui tinh
ròng mà cha cảm thấy vào Chúa nhật ngày 29 tháng Mười Một vừa
qua, tham dự vào lễ cung hiến thánh đường mới, được điều khiển
bởi Đức Hồng y Resphigi, Đại diện của Đức Thánh Cha. Nhìn xung
quanh, và nhìn thấy người dân Testaccio đến ngôi thánh đường mới
của họ, cha rất vui khi nói rằng nhờ những hy sinh của mình, chúng
ta đã đóng góp vào việc cho họ phương thế sống như những người
Kitô hữu tốt lành”.714 Và ngài minh họa suy nghĩ của mình bằng cách
trích dẫn một đoạn dài từ Civiltà Cattolica, bao gồm một bình luận
quan trọng về chủ nghĩa xã hội, hiếm thấy trong các bài viết của
ngài, vốn được ngài cẩn thận tránh bất kỳ ám chỉ chính trị nào:
Danh hiệu vinh quang của ngôi thánh đường cổ xưa vốn nhắc
nhớ đến việc Đức Maria chiến thắng chủ nghĩa ngoại giáo trong
quá khứ trong Tòa án Rôma, giờ đây được trùng tu tại Testaccio
do Đức Giáo Hoàng mong muốn rõ ràng. Vì thế, Maria
Liberatrice giờ đây đang ngự trị ở Aventine, trong vùng ngoại ô
đông dân đang phát triển xung quanh nó, tuyên bố chủ quyền
của Mẹ đối với chủ nghĩa ngoại giáo tân thời là chủ nghĩa duy
nhiên xã hội, phong trào tìm kiếm và vẫn tìm cách tập trung
nỗ lực của nó giữa những người lao động ở đây. Dưới bóng của
Mẹ, được lòng bác ái Kitô hữu hỗ trợ, công cuộc tốt lành và
hiệu quả của con cái Don Bosco sẽ phát triển với các Nguyện
713 Lời khai từ Cha Andrea Gennaro tại Tiến trình tông tòa, trong Positio 1947, 901.
Tuy nhiên, lời chứng tỉ mỉ này lẫn lộn vớ với chân, và bổ sung: "Nhưng vì tôi rối
trí, tôi không thể kiểm tra xem vớ mà ngài cởi ra có được mang ngoài vớ dài đàn
hồi bên trong hay không." Ngài nhầm lẫn vì bất cứ ai mang vớ dài đàn hồi đều
biết cởi ra khó khăn thế nào. Chắc chắn Cha Rua sẽ nhờ ai đó cởi hộ. Do đó Gennaro
đã thực sự thấy chân đẫm máu.
714 Ở đây tôi theo dõi tiếp thư luân lưu ngày 31 tháng Giêng, 1909, trong L.C.,
400-402.
519

52.10 Page 520

▲torna in alto
520 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
xá, các nhóm, trường học và các tổ chức tương tự khác phù hợp
với thời gian và địa điểm. Như vậy cũng dưới bóng của Maria
Liberatrice, dân lao động Testaccio sẽ tăng lên, thoát khỏi thiếu
niềm tin và tật xấu. Và họ sẽ luôn được giáo dục tốt hơn để hỗ
trợ cho cuộc đấu tranh của họ bằng sự trung thực và đức tin
chống lại những loại người đáng thương bị lạc lối, những người
vội vã chống lại việc cải hóa theo đạo Kitô giáo và làm hư hỏng
vùng ngoại ô của thành phố Rôma qua sự vô trật tự, tình trạng
hỗn loạn, tội lỗi.715
Ngài cũng lưu ý rằng trong buổi triều yết Đức Giáo Hoàng ngày
10 tháng Mười Hai, Đức Piô X tỏ ra quan tâm đến tất cả những người
Salêdiêng, và vui mừng với Tu hội vì đã đưa việc công trình xây dựng
nhà thờ lớn tại Testaccio đến kết cục thành công. Ngài đã bày tỏ
những mong ước tốt nhất của mình cho việc tông đồ Salêdiêng vì
đàn chiên của ngài ở nơi đó và khuyến khích vị linh mục sẽ là linh
mục giáo xứ đó. Vào cuối buổi triều yết, Bề Trên Cả sốt sắng mang
đi một phép lành rất đặc biệt mà Đức Giáo Hoàng đã tự tay viết:
"Deus omnipotens adimpleat omnem benedictionem suam in vobis" [Xin
Thiên Chúa toàn năng đổ đầy phúc lành trên các con]. Với sự phấn khích
cha Rua nói rằng bằng cử chỉ này Đức Giáo Hoàng "không chỉ gắng
kiếm dư tràn phép lành trên tất cả Tu hội khiêm hạ của chúng ta, mà
còn thêm lời cầu nguyện của ngài rằng nó sẽ hoàn thành và hiệu
quả".
Ngài không lãng phí thời gian trong những ngày đó. Sau Rôma,
ngài đi về phía nam đến những nhà Salêdiêng ở Caserta,
Castellamare, Naples và Portici. Mặc dù ngắn ngủi, các chuyến thăm
của ngài gợi lên sự nhiệt tình giữa đám đông và người trẻ. Cha
Francesia, người đi cùng ngài, liều đưa ra nhận xét này: "Hôm nay
cha Rua đã thu hút sự nhiệt tình mà Don Bosco đã làm, và sự tôn
kính đối với ngài là loại dành cho một người có nhân đức phi
thường". Giống như Don Bosco, ngài thậm chí còn hóa bánh thánh
ra nhiều, nếu chúng ta muốn tin lời khai của Đức Giám mục người
Salêdiêng Federico Amanuel trong tiến trình tông tòa cho sự tuyên
715 L.C., 401-402, nơi Civiltà Cattolica được trích dẫn, sách 1404.

53 Pages 521-530

▲torna in alto

53.1 Page 521

▲torna in alto
Cung Hiến Thánh Đường Santa Maria Liberatrice | 521
thánh của ngài:
Tôi là Giám đốc trường cao đẳng Salêdiêng tại Caserta năm
1909, vào tháng Mười Hai khi ngài đến thăm nhà tôi. Các em
học sinh đến dự Thánh Lễ mà cha Rua sẽ cử hành. Vị giám linh
đã quên truyền phép bánh thánh. Lúc hiệp lễ, ngài mang bình
đựng bánh thánh ra thì chỉ thấy một vài bánh thánh ở đó.
Người đó bối rối và bẽ mặt nhưng cha Rua bảo: "Đừng lo lắng"
và bắt đầu trao Mình Thánh. Hai trăm ba mươi học sinh lên
Rước Lễ. Tôi không biết bao nhiêu bánh thánh vẫn còn sau đó,
nhưng có một số. Khi Thánh Lễ kết thúc, ngài cấm cha Giám
linh Phêrô Squarzon, không được nói việc này với bất cứ ai dưới
bất cứ hình thức nào. Nhưng Giám linh đó nói với tôi về điều
đó và bảo tôi giữ bí mật. Tôi cũng không nói về nó cho bất cứ
ai.716
Thảm họa Messina
Năm 1908, đầy những sự kiện hạnh phúc, kết thúc một cách bi
thảm với con cái Sicilia của ngài.717 Tối ngày 22 tháng Mười Hai, cha
Rua lặng lẽ trở về Torino. Sáng ngày 28 tháng Mười Hai, một trận
động đất dữ dội tiếp theo là một cơn sóng thần mạnh mẽ, dội vào
các bờ biển Sicily và Calabria. Trong vài giây, các thành phố Messina
và Reggio, và nhiều làng xung quanh họ, được đưa lên mặt đất với
tổng cộng hai trăm nghìn nạn nhân. Tất cả các thông tin liên lạc đã
bị gián đoạn, và tin tức đầu tiên không mô tả đầy đủ thực tế và lan
truyền khắp nước Ý và thế giới chỉ vào sáng ngày 29. Như Don Bosco
đã có kinh nghiệm động đất ở Liguria, cha Rua lập tức gửi điện báo
cho Đức Tổng Giám mục Messina, Đức Hồng y Tổng Giám mục của
Catania, và cũng là Quản lý của hai thành phố bị tàn phá.
716 Positio 1947, 472-473.
717 Tôi tham khảo ở đây bản mô tả trong Amadei III, 474-478; Amadei là một
nhân chứng trực tiếp, vì vậy là một người đáng tin cậy; ngài được Cha Rua bổ
nhiệm là Chủ bút tờ Bollettino Salesiano năm đó, 1908.
521

53.2 Page 522

▲torna in alto
522 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Sợ hãi cho số phận rớt xuống những hội viên và học sinh của
con từ Calabria và Sicily, con cầu xin Chúa ban điều lành cho
họ, và con sẽ mở cửa các cơ sở của con cho những người trẻ bị
mồ côi bởi trận động đất. Con đã gửi điện báo cho Giám tỉnh
ở Catania, cha Bartholomêô Fascie, và yêu cầu ngài theo sự sắp
xếp của Đức Cha và vị Quản lý để cung cấp các nhu cầu khẩn
cấp nhất cho những người trẻ đang đau khổ, biết rằng nó sẽ là
một công việc của đức tin và lòng yêu nước.718
Ngày 30 tháng Mười Hai, chưa có tin tức chính xác nào báo đến
Torino. Vì gặp vấn đề với đôi chân cha Rua buộc phải ở lại trong
phòng của mình, không thể đích thân đến những nơi phải chịu đựng
thảm họa này. Ngài phái cha Bertello, nguyên Giám tỉnh Sicily, với
cha Calogero Gusmano và sư huynh Tagliaferri. Cuối cùng, tối ngày
31, một bức điện tín đến, được gửi từ Catania vào ngày 29, mô tả
nhiều nạn nhân tại trường Cao đẳng Salêdiêng ở Messina. Đó là buổi
tối khi Hoa thiêng (Strenna) mừng Năm Mới được lan đi theo truyền
thống. Mặc cho tình trạng sức khỏe yếu kém của mình, cha Rua
muốn đến nhà hát để nói chuyện với những hội viên và công bố hoa
thiêng và lời cầu nguyện ngắn kèm theo. Cha Amadei bấy giờ có mặt
ở đó, nhớ lại rằng khi bình luận về Hoa thiêng, ngài có vẻ như một
nạn nhân sẵn sàng chịu bất kỳ khổ cực nào mà Thiên Chúa Toàn
Năng có thể muốn hoặc cho phép xảy ra. Sau đó, lòng đầy xúc động,
ngài tiếp tục đọc bức điện tín. Giọng nói của ngài, bàn tay run rẩy,
toàn thể con người ngài, nỗi buồn thực sự ngài cảm thấy sâu thẳm
trong tim, gây cảm xúc buồn sầu với mọi người ở đó. Họ đi ngủ và
cầu nguyện cho ngài.
Các học sinh ở Valdocco xin cha Rua dâng một Lễ trọng cho các
bạn học của các em ở Messina. Thư luân lưu ngày 2 tháng Giêng
năm 1909 gửi các Cộng Tác viên ở Torino nói đến sáng kiến này, bổ
sung thêm: “Những người Salêdiêng cũng vậy, để làm dịu nỗi buồn
của mình, muốn làm tương tự như vậy để cầu nguyện cho những hội
viên và các Cộng Tác viên của họ. Tang lễ thứ hai sẽ diễn ra vào sáng
thứ ba ngày mùng 5 tháng này, lúc 10 giờ, tại Đền thờ Đức Mẹ Phù
718 Amadei III, 475.

53.3 Page 523

▲torna in alto
Cung Hiến Thánh Đường Santa Maria Liberatrice | 523
Hộ các Giáo Hữu, cha hy vọng mình làm đúng khi gửi thông báo này
cho anh chị em, kính mời anh chị em tham dự, để cầu cho những
người đã mất được nghỉ yên đời đời và sẽ không bao giờ bị lãng
quên.”719
Một lá thư chuyển phát nhanh từ cha Bertello, đến trong những
ngày này, giải thích những hoàn cảnh khủng khiếp tại trường cao
đẳng Messina, vốn trước đây được coi là có khả năng chịu được các
trận động đất: "Các anh em linh mục đã chết và vẫn bị chôn vùi dưới
tòa nhà là: Pasquali Joseph, Pirrello Vincent, Claris Darius, Urso
Anthony, Lo Faro Archangel, Rapisarda Mauro, các giáo sĩ Manzini
Mario, Venia Joseph và Thầy Longo Joseph. 38 học sinh cũng đã chết
cùng với những công nhân trong nhà Marotta Anthony, Marotta
Salvatore, Pirrello Chaancis, Zuccarello Alfio. Nhiều người bị thương,
nhưng không ai bị nặng".
Ngày 4 và 5 tháng Giêng, các nghi lễ đã được công bố diễn ra
trong Đền thờ, tất cả đều được phủ màn đen. Sức khỏe yếu kém của
cha Rua ngăn ngài cử hành Lễ trọng như ngài muốn. Trong suốt toàn
bộ nghi lễ, ngài quỳ gần quan tài, thân thể và khuôn mặt ngài rõ
ràng hằn lên nỗi buồn. Cha Rua đáng thương. Năm 1907, một loạt
các lời vu khống đổ lên ngài, và năm 1908 một thảm họa thiên nhiên
đã đưa năm này, một năm cuối cùng đã làm ngài bình tĩnh lại, in
extremis. Kiệt sức, kiệt quệ vì bệnh tật khi ngài tiến gần đến tuổi bảy
mươi hai, giống như Don Bosco khi ngài rời bỏ thế giới này, ngài
bình tĩnh chuẩn bị theo Don Bosco. Ngài cảm giác rằng cái đích đã
gần, trong khi đó các việc chuẩn bị đang được tiến hành cho kỷ niệm
Kim khánh linh mục của ngài vào mùa hè năm 1910.
719 FdR 4001D2-3.
523

53.4 Page 524

▲torna in alto
524 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
NĂM CUỐI CÙNG
34
của Cha Rua
Chuẩn bị cái chết cho mình
Tối ngày 19 tháng Giêng năm 1909, cha Lu-y Rocca, Tổng Quản
lý của Tu hội Salêdiêng, được gọi đến cạnh giường bệnh của một
người bệnh ở Corso Regina Margherita, không xa Nguyện xá. Sau
khi ban các bí tích cho người phụ nữ, người ta nhìn thấy ngài rời khỏi
nơi đó bước đi hơi lảo đảo. Vì vậy, gia đình bà đến bên cửa sổ để
nhìn theo ngài đi bộ về nhà. Họ không thấy ngài xuất hiện. Họ mở
cửa và thấy ngài nằm trên sàn nhà, vẫn bám vào lan can cầu thang.
Ngài đã bị đột quỵ. Ngài được đưa đến Nguyện xá và chết không
lâu sau đó.
Cha Rua không thể không kết thúc bức thư của ngài ngày 31 tháng
Giêng, tập trung vào Thánh Đường Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu,
với một loạt những suy niệm về việc Dọn mình Chết lành. Cái chết
đã đột ngột đến với các học sinh và anh em ở Sicily, và bây giờ, nó
cũng đã đột nhiên lấy mạng cha Lu-y Rocca chỉ mới ở tuổi 55. Ngài
biết rằng các tu sĩ của mình luôn sẵn sàng cho bước quan trọng về
nơi vĩnh hằng. Nhưng theo ý ngài, đây là bằng chứng rằng cần phải
thực hiện Dọn mình Chết lành hàng tháng cách đều đặn và tốt đẹp.
Don Bosco đã rất quan tâm đến nó: "Đấng Đáng Kính Don Bosco, từ
lúc khởi đầu Nguyện xá, đưa vào thói quen Dọn mình Chết lành mỗi
tháng. Khi một linh mục ngạc nhiên trước cử chỉ tốt đẹp của rất nhiều
thiếu niên sống ở Nguyện xá, Don Bosco nói: các em tốt lành vì
chúng dọn mình chết lành mỗi tháng. Việc thực hành này nâng đỡ
nhà chúng ta. Chúng ta nhớ lại cách ngài tuyên bố trong một Huấn
từ tối một vài ngày trước, luôn luôn với một sự trang nghiêm nhất

53.5 Page 525

▲torna in alto
Năm Cuối Cùng của Cha Rua | 525
định, chúng ta vẫn có thể thấy ngài quỳ ở các bậc thềm tại bàn thờ,
đọc những lời cầu nguyện dịu dàng với chúng ta, cầu xin ơn chết
lành". Sau khi nhớ lại một khoản của Hiến Luật và một điều gì đó từ
Quy chế, ngài kết luận nghiêm túc: "Vì vậy, chúng ta không thể tự
gọi mình là người Salêdiêng đích thực nếu chúng ta bỏ qua một
phương tiện hiệu quả để đạt được ơn cứu rỗi".720
Viễn cảnh cái chết giờ đây lảng vảng với chính cha Rua. Ngài trở
nên yếu hơn và bắt đầu nghĩ về di sản mà ngài sẽ trao cho người kế
vị của mình. Y tá Giuse Balestra chứng thực rằng ngài trở nên đau
đớn nặng hơn, chân ngài bị sưng phù khủng khiếp, đầy những vết
loét; ngài đi lại thật khó khăn. "Để giúp ngài, Ballestra đắp một số
miếng gạc nóng trên các vết loét. Phương pháp này chỉ hiệu quả
chút ít. Ngài cần phải nằm trên giường hoặc trên ghế sofa với đôi
chân duỗi thẳng và ngài miễn cưỡng làm thế chỉ khi ngài không thể
làm bất cứ gì khác. Dù đứng hay ngồi, vết sưng vẫn trở nên tệ
hơn".721
Tuy nhiên ngài vẫn tìm thấy sức mạnh để viết một lá thư dài cho
các hội viên nhân kỷ niệm ngày Don Bosco qua đời, ngày 31 tháng
Giêng năm 1909. Trong đó ngài lưu ý cách thức mà công cuộc của
Vị Sáng lập Đáng Kính đã tồn tại và phát triển bất kể những nhà tiên
tri bi quan và các thủ đoạn của kẻ thù vốn đã hứa biến nó thành một
"đống đổ nát". Cũng vậy ngài rõ ràng thêm vào: "Đúng là không
phải lúc nào chúng ta cũng xứng đáng với những ân sủng nhận được;
thật không may nhiều lỗi nghiêm trọng trách cứ chúng ta". Ai biết
được chúng ta thường xuyên biết bao đáng bị Thiên Chúa ngoảnh
mặt đi và tìm kiếm những công cụ khác tốt hơn để làm sáng danh
Ngài; nhưng Ngài giàu lòng thương xót vô biên, vì những công
nghiệp của người Cha Đáng Kính chúng ta, và đã tiếp tục chúc lành,
nâng đỡ và an ủi chúng ta. Mỗi ngày chúng ta thấy những dự đoán
của Don Bosco trở thành sự thật về số con cái của ngài và những nỗ
lực của họ".722
720 L.C., 404-405.
721 Amadei III, 482.
722 L.C., 397-398.

53.6 Page 526

▲torna in alto
526 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Nói chung, khi đến gần độ tuổi Don Bosco rời khỏi thế giới này,
cha Rua sẵn sàng ra đi với tâm hồn bình an.
Các hội viên quanh ngài chuẩn bị sẵn sàng để long trọng mừng lễ
kỷ niệm Kim khánh linh mục của ngài. Ngài được thụ phong linh
mục vào ngày 29 tháng Bảy năm 1860, do đó, lễ kỷ niệm được tổ
chức ngày 29 tháng Bảy năm 1910. Theo kế hoạch sẽ có các lễ hội
kéo dài suốt học kỳ hai năm 1910. Các thành viên thuộc ủy ban trung
ương chịu trách nhiệm việc tổ chức đã được chính thức bổ nhiệm.
Toàn Tu hội đều can dự.723 Ngày lễ đã bắt đầu tại Valdocco ngày 29
tháng Bảy năm 1909: Thánh lễ cho cha Rua tại bàn thờ của Đức Mẹ
Phù Hộ các Giáo Hữu; tiệc trong nhà hát, huấn từ tối Bề Trên Cả gửi
tới toàn cộng thể tại Valdocco.724 Một bức ảnh thánh thiện với hình
của cha Rua trên đó được in như là "một lời nhắc nhở điềm lành ngày
29 tháng Bảy năm 1909, trong lễ kỷ niệm lần thứ 50 ngày thụ phong
linh mục của cha Rua đáng kính, khi các bề trên và sinh viên tại
Nguyện xá ở Valdocco, phủ phục dưới chân của Đức Trinh Nữ Phù
Hộ các Giáo Hữu, hân hoan với ngài quanh bàn thờ, chúc ngài những
điều tốt đẹp cho lễ Kim khánh của ngài".725 Ngày 30 tháng Tám năm
1909, ngài dự Hội Nghị khoáng đại lần thứ Năm dành cho các giám
đốc thuộc giáo phận của Hiệp Hội Cộng Tác viên Salêdiêng tại
Valsalice, về việc này chúng ta sẽ nói trong phần kế tiếp.726
Đời sống thường nhật của Cha Rua ốm đau
Khi cho rằng cha Rua không hoạt động vì những đau đớn hành
hạ ngài quả là sai lầm rõ ràng. Lá thư dài gửi các Cộng Tác viên được
ban hành đúng vào tháng Giêng năm 1909. Trong đó ngài trấn an
độc giả rằng Chúa tiếp tục chúc lành cho công cuộc Salêdiêng, như
được chứng minh bởi các công cuộc mới mở ở Tân và Cựu Lục địa.
Ngài cổ vũ các Cộng Tác viên hỗ trợ việc truyền giáo Salêdiêng vốn
723 Thư luân lưu của Cha Phó Tổng Bề trên Rinaldi gửi những người Salêdiêng, 6
tháng Hai năm 1909, trong FdR 2753A7-9.
724 Amadei III, 510.
725 FdR 2754B1-2.
726 Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1909, 291-294.

53.7 Page 527

▲torna in alto
Năm Cuối Cùng của Cha Rua | 527
đang tăng trưởng liên tục.727 Trong những năm trước, lá thư thường
niên cũng cung cấp thông tin về các công cuộc của các Nữ tu
Salêdiêng. Bây giờ, mặc dù đã chia tách, cha Rua không muốn quên
chúng. Sau lá thư gửi cho các Cộng Tác viên, ngài đã có một bài báo
được đưa vào Bollettino Salesiano tháng Giêng năm 1909 với tiêu đề
"Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu vào năm 1908". Bài viết,
chắc chắn được cha Rua mong muốn và thậm chí có thể do ngài viết
nữa, nói rằng bất kể sự tách biệt chính thức, Tu hội ấy vẫn tiếp tục
là nhánh ưu tuyển của Gia đình Salêdiêng.
Bên cạnh những thư luân lưu gửi cho các Cộng Tác viên và người
Salêdiêng, luôn được chứng minh rõ ràng, trung thành với thông lệ
cha Rua viết nhiều thư cá nhân. Chỉ một số lượng nhỏ trong đó đã
được gửi đến Văn khố ở Rôma, nhưng trong số các lá thư từ năm
1909, chúng tôi tìm thấy năm lá gửi cho cha Evasio Rabagliati, Giám
tỉnh, Columbia, tám lá thư cho cha Giuse Vespignani, Giám tỉnh
Argentina, mười lá thư cho Cha Arthur Conelli, Giám tỉnh miền Trung
Ý, tám lá thư cho cha Phêrô Cardano, Giám tỉnh Trung Đông, năm lá
thư cho cha Giuse Gamba, Giám tỉnh Uruguay-Paraguay. Những lá
thư dài của ngài gửi cho cha Isaac Giannini, Giám đốc trường nông
nghiệp ở Palestine, Beitgemal, ngày 25 tháng Giêng và 7 tháng Bảy
năm 1909, phản ánh mối quan tâm đặc biệt mà cha Rua dành cho
công cuộc ấy vốn đã được ngài đến thăm năm ngoái.728 Vào tháng
Bảy và tháng Tám ngài gửi ba lá thư dài cho cha Antôn Malan, Giám
tỉnh, Mato Grosso, tại trung tâm Braxin, về cách đối phó với người
dân bản địa, giúp họ sẵn sàng chịu phép Rửa Tội, v.v.729
Bất chấp thể xác đau đớn, cha Rua vẫn đi lại. Từ ngày 16 đến
ngày 18 tháng Ba, ngài giảng Tam Nhật nhân dịp lễ Thánh Giuse
cho các Nữ tu Josephite ở Torino. Các chủ đề rất đơn giản và thiết
thực: Ngày đầu tiên: Lao động, làm nhiệm vụ của mình theo gương
727 Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1909, 1-8.
728 Thư của M. Rua gửi I. Giannini, ngày 25 tháng Giêng và 7 tháng Bảy, 1909,
trong FdR 3904D2-6.
729 Thư của M. Rua gửi A. Malan, Torino, ngày 3 tháng Bảy, ngày 16 tháng Bảy
và ngày 19 tháng Tám, 1909, trong FdR 3915 D1-7.

53.8 Page 528

▲torna in alto
528 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
của Thánh Giuse; Ngày thứ 2: Cầu nguyện, chúng ta cần luôn cầu
nguyện, theo gương của Đức Maria; Ngày thứ ba: Hy sinh, biết cách
phục tùng bề trên. Các mẫu gương: Thánh Giuse, Đức Maria và Chúa
Giêsu.730 Ngày 20 tháng Ba tại Nizza Monferrato, ngài cử hành bế
mạc Tĩnh tâm cho các Nữ tu Salêdiêng. Ngài tập trung bài nói chuyện
của mình trong ba chữ "P.U.O (può)", Đạo đức, Khiêm nhường (umiltà),
Vâng lời: châm ngôn giúp ghi nhớ là kiểu ngài quen dùng.731 Ngày
21 tháng Ba có một buổi văn nghệ "để vinh danh Don Bosco và Đấng
Kế vị xứng đáng của ngài". Một bài diễn văn dài dành cho dịp này
đã được lưu giữ.732 Một suy niệm đặc trưng của cha Rua đã kết thúc
bữa tiệc: "Cha không xứng đáng với nhiều lời khen ngợi như vậy
nhưng cha nhận chúng vì theo sau chúng là lời hứa cầu nguyện cho
cha và cha cần điều này nhiều lắm. Cha muốn là một bản sao hoàn
hảo của Don Bosco, và trong khi cha đang đọc cuộc đời ngài và so
sánh nó với riêng mình, cha thấy mình hèn mọn và phải nói rằng cha
là một bản sao rất thô thiển của Don Bosco. Cha nói thế không phải
vì khiêm tốn, nhưng vì đúng là thế; vì vậy anh chị em hãy cầu nguyện
cho cha để cha có thể trở thành một bản sao thực sự!"733
Cha Rua muốn tham dự các nghi lễ Tuần Thánh tại Nguyện xá.
Vào Thứ Năm Tuần Thánh, ngày 8 tháng Tư, bất chấp bệnh tật, ngài
đích thân rửa chân cho mười hai thiếu niên và sau đó mời các em
dùng bữa với mình. Từ ngày 15 đến ngày 24 tháng Năm, ngài tham
gia vào Tuần Cửu Nhật chuẩn bị cho Lễ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu, nhưng dành vinh dự chủ trì và giảng lễ cho các Hồng y và Giám
mục khác nhau. "Lễ tạ ơn" truyền thống cho ngày 23 và 24 tháng
Sáu, trong khi diễn ra như thường lệ, thì lại trang trọng hơn bình
thường trong cung điệu. Nam tước Antôn Manno thông báo một ủy
ban đã được kết hợp lại với nhau cho lễ Kim khánh của cha Rua và
Đức Hồng y Richelmy làm chủ tịch. Các lễ hội mừng Kim khánh này
đang được chuẩn bị cho ngày 24 tháng Sáu năm 1910. Họ sẽ không
730 Theo biên niên địa phương, được dùng bởi Amadei III, 486-488.
731 X. Amadei III, 489-492.
732 FdR 2765A8-12.
733 Theo biên niên địa phương, trong Amadei III, 493.

53.9 Page 529

▲torna in alto
Năm Cuối Cùng của Cha Rua | 529
chờ đợi ngày 29 tháng Bảy, lễ kỷ niệm thụ phong linh mục của ngài.
Dường như cha Rua đã nói: "Anh chị em có thể có ngày lễ, nhưng
không có vị thánh!".734 Ngày 25 tháng Sáu, một bức thư được ủy ban
trung ương gửi cho những người Salêdiêng, và được cha Phó Tổng
Bề trên Rinaldi ký, đã giải thích chi tiết về các sự kiện Kim khánh:
triển lãm, các cuộc thi, các thư của cha Rua, ảnh, v.v.735
Theo thực hành đã được thiết lập, ngày 24 hàng tháng, cha Rinaldi
gửi các chỉ thị của Bề Trên Cả và của các cá nhân thành viên trong Tu
Nghị Bề trên cho các Giám tỉnh và giám đốc. Thực tế là tất cả các thư
luân lưu này được đánh số chính xác, theo phong cách của cha Rua,
bảo đảm tính xác thực của chúng, cùng với các mối quan tâm quản
trị và nhất là đời tu của tác giả. Cho phép tôi tóm tắt, bằng ví dụ,
những thư từ tháng Giêng đến tháng Bẩy năm 1909. Chúng cho thấy
cách Bề Trên Cả, giờ gần như tàn phế, gần gũi với con cái ngài trên
khắp thế giới. Chúng ta nên đặc biệt lưu ý ngài quan tâm, gần như
có thể nói, ám ảnh đối với các Cộng Tác viên Salêdiêng.
Ngày 24 tháng Giêng, cha Rinaldi viết rằng Bề Trên Cả: 1) thông
báo rằng sau đại thảm họa ở Messina, một sự kiện không may khác
đã xảy ra với Tu hội với cái chết do chứng vỡ mạch máu não của cha
Tổng Quản lý, Lu-y Rocca; 2) ngài khuyến cáo việc chăm sóc kỹ lưỡng
các hội viên sư huynh, và chấp nhận những nhân công tốt trong nhà
vốn có thể có những phẩm chất cần thiết để trở thành các sư huynh
xuất sắc; 3) ngài đề nghị các Giám tỉnh và giám đốc đọc lại và đem
ra thực hành các quyết định của các Tổng Tu Nghị liên quan đến các
sư huynh Salêdiêng; 4) ngài mời các Giám tỉnh và giám đốc hồi đáp
cho từng thành viên của Tu Nghị Bề trên là những người viết trong
thư luân lưu hàng tháng.
Ngày 24 tháng 2, cha Rua: 1) thông báo việc bổ nhiệm cha Giuse
Bertello làm Tổng Quản lý [Economer General]; 2) thông báo rằng
tiến trình thông thường ở cấp giáo phận cho Án tuyên Chân phước
Đaminh Savio đã kết thúc tại Torino; 3) thúc giục các nhà ở Mỹ trả
lời thư luân lưu của ngài ngày 27 tháng Mười Hai năm 1908 về vấn
734 Amadei III, 506.
735 FdR 2753B10-12.

53.10 Page 530

▲torna in alto
530 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
đề họ thuộc về Italica Gens để chăm sóc người di cư Ý; 4) khích lệ các
nhà không thuộc người Ý, đặc biệt là các tập viện, học tiếng Ý; 5)
yêu cầu các Giám tỉnh xem xét các buổi huấn đức thường xuyên cho
các Cộng Tác viên Salêdiêng; 6) mời các giám đốc không có các biểu
mẫu được yêu cầu phải xin các Giám tỉnh cung cấp; 7) ca ngợi các
giám đốc không chỉ đọc thư luân lưu công khai mà còn biến nó thành
một chủ đề cho các buổi huấn đức trong cộng thể.
Ngày 24 tháng Ba: 1) chúc mừng Lễ Phục Sinh các người
Salêdiêng và học sinh; 2) đề nghị các giám đốc chăm sóc các giáo sĩ
trong tập vụ; 3) yêu cầu các linh mục và giáo sĩ chuẩn bị các bài
giảng ngắn để tôn vinh Đức Mẹ trong tháng Năm.
Ngày 24 tháng Tư, Bề Trên Cả: 1) cổ vũ người Salêdiêng chăm lo
cho tháng Năm và gieo trồng lòng sùng kính Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu trong lòng các học sinh; 2) mời các giám đốc đọc lại thư luân
lưu tháng Giêng năm 1904 về các đặc quyền liên quan đến ngày Lễ
Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu; 3) nhắc nhở họ huấn đức cho các
Cộng Tác viên trong dịp này.
Ngày 24 tháng Năm, cha Rua: 1) đề nghị trải qua tháng Thánh
Tâm với thái độ ‘nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu’ [Ad Jesum per Mariam];
2) nhắc nhở mọi người về các thông báo từ những năm trước liên
quan đến các khu vực rửa mặt, theo Don Bosco các khuyến cáo; 3)
lập luận chống lại ý tưởng phổ biến rằng hộ trực là điều gì đó chỉ
dành cho các giáo sĩ, đang khi trái lại các linh mục phải cống hiến
mình cho những tác vụ thánh thiêng: "nó sẽ tác hại tinh thần của Tu
hội chúng ta và kết quả tốt đẹp của Hệ thống Dự phòng"; 4) mời
mọi người tránh tham quan các buổi triển lãm trưng bày những hình
ảnh xúc phạm đến luân lý; 5) thông báo rằng tiến trình phong thánh
cho Don Bosco sẽ mở tại Torino.
Ngày 24 tháng Sáu: 1) cảm ơn mọi người vì những lời chúc tốt
đẹp nhận được ngày lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, ngày mà Don Bosco
mừng ngày danh tánh của mình và ngày lễ của Bề Trên Cả được tổ
chức; 2) đề nghị tăng cường các hoạt động của các Nguyện xá ngày
lễ trong những ngày nghỉ lễ; 3) thông báo những nỗ lực của người
Salêdiêng giúp các nạn nhân trận động đất ở Messina đã thu được

54 Pages 531-540

▲torna in alto

54.1 Page 531

▲torna in alto
Năm Cuối Cùng của Cha Rua | 531
21.466,17 lire; 4) khích lệ các Giám tỉnh xao nhãng gửi báo cáo của
họ về các cuộc kinh lý cấp tỉnh; 5) mời các Giám tỉnh lưu ý thư luân
lưu ngày 3 tháng Bảy năm 1906 về nhân sự của các nhà.
Ngày 24 tháng Bảy, cha Rua: 1) một lần nữa mời các Giám tỉnh
nộp các bản tường trình của họ về các kinh lý của họ tới các nhà; 2)
hô hào các Giám tỉnh và giám đốc gửi người trẻ và nhân viên trong
nhà tỏ dấu có ơn gọi đến các kỳ tĩnh tâm; 3) chúc tất cả mọi người
ngày lễ vui vẻ và một kỳ tĩnh tâm hữu ích vì lợi ích vật chất và thiêng
liêng cho Tu hội.736
Cuối cùng ngày 24 tháng Tám năm 1909, cha Rinaldi viết một
bức thư cho những người Salêdiêng nhắc nhở họ về những khuyến
cáo của cha Rua về sự thinh lặng và hồi tâm trong những dịp tĩnh
tâm mà họ sẽ thực hiện trong kỳ nghỉ.737 Như bạn có thể thấy, Bề
Trên Cả tốt lành của chúng ta không ngừng bảo vệ lợi ích thiêng
liêng tốt đẹp cho những người của mình.
Lời khai của Cha Rua tại tiến trình tuyên thánh của Don Bosco
Cha Rua là người đầu tiên trong số các nhân chứng được đòi ra
tòa trong tiến trình tuyên thánh của Don Bosco, mở tại Torino ngày
26 tháng Năm năm 1909. Những lời khai của ngài, luôn được lập
luận cẩn thận và mạnh mẽ, kéo dài trong khoảng thời gian từ ngày
11 tháng Sáu (phiên thứ 4) đến ngày 20 tháng Mười Một (phiên thứ
35) trong tổng số 31 phiên, bị tạm ngưng trong một ngày nghỉ giữa
17 tháng Bảy (phiên thứ 19) và ngày 4 tháng Mười (phiên thứ 20).738
Từ phiên thứ 4 đến phiên thứ 12, như ngài đã làm trong suốt quá
trình cung cấp thông tin, ngài xem xét tỉ mỉ toàn cuộc đời Don Bosco,
vì ngài đã biết Don Bosco từ khi lên 8 tuổi và ở bên cạnh ngài cho
đến khi ngài mất vào năm 1888, ngoại trừ trong một vài năm từ
1863-1865 khi ngài được bổ nhiệm làm giám đốc tại Mirabello. Ngài
736 Những thư luân lưu này của Rinaldi được giữ trong FdR 4075C6–E10.
737 FdR 2753C1-4.
738 Giai đoạn đầu tiên Tiến trình tông tòa của Don Bosco, x. FdB 2439A5-2482C1.
Những lời khai của Cha Rua được tìm thấy trong FdR 2444C10-2449E6.

54.2 Page 532

▲torna in alto
532 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
nói về nền giáo dục của Don Bosco, bị anh trai Antôn ngăn chặn,
việc học hành của ngài tại trường công lập và chủng viện ở Chieri,
thời gian ở Học Viện Giáo sĩ tại Torino. Ngài nói rằng Tôi tớ Chúa luôn
nhiệt tình, đặc biệt là đối với bạn bè của mình khi còn là một đứa trẻ
và những thiếu niên mà ngài gặp. Ngài nói về những chuyến thăm
của Don Bosco đến các nhà tù và giải tội ở đó.
Trong các phiên thứ 7 đến thứ 10 ngài cung cấp một bản mô tả
chi tiết về lịch sử của nhóm giáo sĩ và giáo dân vốn được trù định,
theo thời gian, để trở thành Tu Hội Thánh Phanxicô Salê, sự ra đời
của Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và Hiệp hội Cộng Tác
viên Salêdiêng, một công việc được Đức Giáo Hoàng Piô IX ủng hộ.
Cha Rua đã không quên công cuộc 'những người con Đức Maria'
dành cho những ơn gọi muộn. Trong các phiên 11 và 12 ngài nhớ
lại cách Don Bosco bắt đầu bảo vệ Đức Giáo Hoàng khi ngài bị tấn
công, và vì điều này đã phải chịu sự bách hại và thậm chí gây hấn;
năm 1867, ngài khuyên Đức Giáo Hoàng về các mối đe dọa từ
Garibaldi; ngài đã bảo vệ tính bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng từ
thời điểm nó được công bố tại Vatican I. Sau đó ngài nhớ lại ngay từ
thời trẻ, Đấng Đáng Kính đã nghĩ đến việc đích thân rao giảng Tin
mừng cho những người vô tín ngưỡng, nhưng không thể biến giấc
mơ này thành hiện thực, bắt đầu từ năm 1875 ngài quyết định gửi
những người truyền giáo của mình đến Nam Mỹ; trong lòng nhiệt
thành của mình, ngài cũng muốn gửi họ đến Hoa Kỳ, Châu Phi và
Ấn Độ.
Từ phiên thứ 13 đến phiên thứ 19, cha Rua làm chứng về bản chất
anh hùng của các nhân đức đối thần và luân lý nơi Don Bosco; sự kết
hiệp liên lỷ của ngài với Thiên Chúa; sự sùng kính Thánh Thể cách
đặc biệt; sự tôn kính Lời Thiên Chúa; lòng sùng kính Đức Maria, và
sự thực hành các nhân đức tính gắn liền với người tu sĩ, tin cậy vào
Thiên Chúa toàn năng, bất chấp những trở ngại liên tục ngài phải
vượt qua. Cuối cùng, ngài nói về Don Bosco liên tục tuân theo ý Thiên
Chúa trước cơn bệnh cuối cùng và cái chết. Ngài nói thêm rằng ngài
luôn phó thác chính mình cho ý Chúa trước khi đưa ra những quyết
định nghiêm trọng; rằng cuộc đời của ngài là một công trình liên tục

54.3 Page 533

▲torna in alto
Năm Cuối Cùng của Cha Rua | 533
của lòng thương xót tinh thần và vật chất và rằng ngài không thể bị
cáo buộc dưới bất kỳ hình thức nào về việc gắn bó với tiền bạc.
Sau khi bị gián đoạn vì ngày lễ, các phiên thứ 20 đến 23 được
dành riêng cho các nhân đức trụ. Cha Rua làm chứng rằng Don Bosco
có bản tính nhiệt huyết tự nhiên, luôn hướng đến việc yêu thương
người lân cận. Nhưng sức mạnh thiêng liêng của ngài đầy tính anh
hùng: ngài tỏ cho thấy điều này trong việc theo đuổi ngoan cường
ơn gọi của mình. Vào mọi thời điểm trong cuộc đời, giữa mọi loại
mâu thuẫn, ngài thể hiện đức khiêm nhường sâu thẳm; ngài đích
thực và đúng đắn yêu mến đức khó nghèo và khiết tịnh. Với phiên
thứ 24, cuộc điều tra tập trung vào những ơn siêu nhiên của ngài.
Chủ đề tiếp tục trong các phiên 25 và 26. Ngài nói về ơn nước mắt
của Don Bosco, nói tiên tri, sự hiểu biết các linh hồn, thị kiến và
những người được chữa lành trong khi ngài vẫn còn sống. Phiên thứ
27 được dành cho một cuộc điều tra nhanh về các tác phẩm mà Don
Bosco đã xuất bản và kết thúc bằng cách nhớ lại cái chết của ngài.
Trong phiên thứ 28, ngài nói về đám tang và danh tiếng ngài đã có
như một vị thánh và thậm chí là một người làm phép lạ, tiếng tăm
lan rộng không chỉ ở Torino và Ý, mà còn ở những nơi khác trên thế
giới, trong khi ngài vẫn còn sống. Phiên thứ 29 đề cập đến các chủ
đề tương phản với sự ngưỡng mộ chung mà mọi người nhìn nhận về
Don Bosco; chúng bàn đến lời giải thích của các đối thủ, thật vậy, họ
chủ trương rằng ngài mất trí và cáo buộc ngài chiếm đoạt các di sản
... Cha Rua cho thấy các cuộc tấn công chính mà ngài phải chịu là do
ngài nhiệt tình bảo vệ Đức Giáo Hoàng và Giáo hội, không phải qua
những khiếm khuyết trong hành vi của ngài hay của những người
môn sinh của ngài. Sau đó ngài tiếp tục các vấn đề liên quan đến
phép lạ được quy do Don Bosco sau cái chết của ngài. Thời gian đã
được dành cho những vấn đề này trong các phiên 30 đến 32. Cha
Rua liệt kê tên của những người mà phép lạ đã được thực hiện và
mô tả chi tiết chính xác những căn bệnh mà họ đang mắc phải. Ngài
chỉ còn xác nhận và ký các lời khai của ngài, diễn ra trong các phiên
33 và 34.

54.4 Page 534

▲torna in alto
534 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Các lời khai được chứng minh của cha Rua rất quan trọng đối với
nhà sử học. Thật sự ngài có một trí nhớ tuyệt vời. Không cần phải
nói, ngài cũng có thể phạm sai lầm, như trường hợp được tuyên bố
là sự hồi sinh tạm thời của thanh niên "Charles", mà cha Rua quy cho
Don Bosco trong khi thật sự nó là một câu chuyện được linh mục từ
Valdocco kể rút ra từ cuộc đời của Thánh Philip Neri.739 Cha Rua
ngẫm nghĩ đến ý kiến chung, cảnh giác với các phép lạ khi nó liên
quan đến những chuyện kể về sự chữa lành. Nhưng đây là những sai
sót nhỏ nhặt khi so sánh với một lời chứng vững chắc và có cơ sở
vững vàng như vậy, và một lời chứng được ngưỡng mộ trong một cá
nhân già cả và ốm yếu như ngài.
739 FdR 2449 C1. Bản sửa được cung cấp bằng tài liệu trong F. Desramaut, «Autour
de six logia attribués à Don Bosco dans les Memorie Biografiche», trong RSS 10
(1991), 38-52.

54.5 Page 535

▲torna in alto
35
Thời Kỳ Xế Bóng | 535
Thời Kỳ XẾ BÓNG
Mùa hè 1909 đầy khó khăn
Giữa các khóa họp khác nhau trong tiến trình phong thánh của Don
Bosco, cha Rua đã làm những gì có thể. Ngày 30 tháng Bảy tại Valsalice,
ngài kết thúc tĩnh tâm cho các tư giáo và các bạn trẻ; ngày 13 tháng
Tám, ngài đến cử hành cho các Nữ tu Thánh Tâm ở Valsalice.740 Ngày
16 tháng Tám, ngài có mặt với các ứng sinh mới tại Valsalice. Bài phát
biểu của ngài ở đó sử dụng một từ viết tắt, BOSCO, trong tiếng Ý có
nghĩa là, Bontà (tử tế), Orazione (cầu nguyện), Studio (học), Castità (thanh
khiết) và Obbedienza (vâng phục).741 Ngày 21 tháng Tám, ngài đến
Nizza Monferrato dâng Thánh lễ cho các Nữ tu Salêdiêng và nói với các
nữ tu đôi lời khích lệ, nhưng ngài nhất quyết từ chối cho họ những chỉ
thị để họ hiểu rằng ngài không muốn sử dụng "bất cứ biện pháp nào
có vẻ trái ngược với những gì thẩm quyền Giáo hội cao hơn đã chỉ định"
liên quan đến việc tách Tu hội của họ và Tu hội Salêdiêng. Trong khi
cho thấy sự sẵn sàng ở mức nào đó, ngài đã không hỗ trợ cho những
nỗ lực thông thường của Bề trên Tổng quyền, Mẹ Daghero "để có một
Cố vấn Salêdiêng ở mỗi Tỉnh" thuộc về các Nữ tu.742
Ngày 30 tháng Tám, cha Rua thăm quan tài của Don Bosco tại
Valsalice nhân Đại Hội Thứ Năm của các giám đốc thuộc giáo phận của
Hiệp hội Cộng Tác viên Salêdiêng. Ngài đã được khuyến khích tổ chức
sự kiện này bằng một bức thư từ Đức Piô X, Diletto figlio, ngày 25 tháng
Tám trước.743 Đó là một hội nghị rất quan trọng về sự hiện đại hóa cần
740 Amadei III, 517.
741 Amadei III, 518.
742 Amadei III, 519.
743 Văn bản này được viết lại trong FdR 3833A9.

54.6 Page 536

▲torna in alto
536 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thiết của Nguyện xá Salêdiêng, một chủ đề rất thân thiết với Bề Trên
Cả. Xã hội đã thay đổi so với Nguyện xá thuở ban đầu. Quân bài đã bị
chủ nghĩa xã hội chống tôn giáo làm cho thay đổi. Nguyện xá không
còn có thể chỉ mang chức năng giải trí và tôn giáo. Hội nghị bày tỏ
mong muốn rằng các hoạt động của các Nguyện xá được hội nhập "với
các công trình mang tầm quan trọng về xã hội và kinh tế, đáp ứng hiệu
quả nhu cầu của giới trẻ để họ tìm được trong Nguyện xá nền giáo dục
xã hội và sự giúp đỡ đạo đức và vật chất vốn được các tổ chức và nhóm
chống Kitô giáo mời chào họ theo cách khác". Bản kiến nghị cuối cùng
liệt kê, có vẻ hơi tham vọng, một số nhóm có thể có được: "1) nhóm
văn hóa; 2) nhóm thảo luận xã hội 3) trường kỹ thuật; 4) tư vấn việc
làm; 5) phòng đăng ký cho Ngân hàng An sinh Xã hội Quốc gia; 6) các
nhóm bảo hiểm công nhân 7) hội nghị về vệ sinh nghiệp vụ, 8) hướng
dẫn liên quan đến luật lao động; 9) thiết lập các Hội nghị Thánh Vinh
Sơn Phaolô; 10) chuẩn bị cho nghĩa vụ quân sự; 11) trợ giúp công nhân
nhập cư trẻ theo chương trình Kolping". Bản kiến nghị khôn ngoan chỉ
ra: "nhận thấy cùng một lúc các khía cạnh giải trí và giáo dục được tất
cả các nét hấp dẫn của lý luận dạy học thời hiện đại bổ sung (ví dụ:
phim, đèn chiếu ...)".744 Theo cha Rua, Nguyện xá là một trung tâm
đích thực và phù hợp để đào tạo giới trẻ.745
Ngày 9 tháng Chín, cha Rua bế mạc kỳ tĩnh tâm dành cho những
người Salêdiêng tại Lanzo. Ngày 15, ngài ở Foglizzo, tại đây ngài nói
chuyện với các sinh viên thần học và những người mới khấn. Ngày 24
tháng Chín, ngài nói chuyện với các linh mục tại Ivrea. Ngày 28 tháng
Mười, tại Thánh đường Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, trong buổi lễ
chia tay bốn mươi người truyền giáo mới do Đức Hồng y Richelmy chủ
trì, cha Rua đã có thể theo phong tục ôm hôn những người truyền giáo
sắp lên đường. Các nhân chứng xác nhận rằng người ta hầu như không
nhận thấy rằng đôi chân của ngài đang làm ngài đau đớn kinh
744 Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1909, 292.
745 Liên quan đến vấn đề này x. bài báo được chứng minh bằng tư liệu của P. Braido,
«L'Oratorio Salesiano in Italia, “luogo” propizio alla catechesi nella stagione dei
Congressi (1888-1915)», trong RSS 24 (2005) 7-88 (đặc biệt trang 83).

54.7 Page 537

▲torna in alto
khủng.746
Thời Kỳ Xế Bóng | 537
Từ tháng Chín đến tháng Mười Một, nhiều cuộc họp Tu Nghị Bề trên
diễn ra với sự chủ trì của cha Rua, nhưng trong phòng của ngài. Vấn đề
sức khỏe của ngài ngày càng tồi tệ hơn.
Sự suy nhược
Vào giữa tháng Mười Một tại San Benigno, nơi đó các thành viên của
Tu Nghị Bề trên quy tụ lại để kiểm tra những báo cáo từ các Vị Kinh lý
Ngoại thường và chuẩn bị trước cho Tổng Tu Nghị vào năm 1910, cha
Rua trở nên yếu hơn nhiều. Thứ tư ngày 23, ngài không thể cử hành
Thánh Lễ trong nhà nguyện. Ngài phải đến phòng y tế. Việc này đã
không ngăn ngài dạy giờ học thiêng liêng cho tập sinh đang giúp ngài,
bắt đầu với cuộc đời của Thánh Clement thành Rôma, mà hôm đó trong
phụng vụ là lễ nhớ.747 Ngày 24 tháng Mười Một, sử biên niên kể cho
chúng ta những người trong cộng đoàn theo dõi chặt chẽ những gì đã
xảy ra với Bề Trên Cả như thế nào: "Hôm nay cha Rua bước sang tuổi
72, năm tháng và 15 ngày, cùng tuổi với Don Bosco [khi ngài mất].
Những người trẻ chào đón ngài bằng tràng pháo tay trước bữa trưa.
Họ đọc một số lời chào mừng. Don Rua cảm ơn họ và xin họ cầu nguyện
không phải để cuộc sống của ngài được kéo dài, nhưng để ngài có thể
trải qua những ngày còn lại một cách thánh thiện”.748
Ngài kiệt sức và cùng ngày phải trở về Torino. Ngài ra khỏi nhà nắm
cánh tay cha Albera. Các thiếu niên chào đón ngài bằng cách xếp hàng
trong im lặng, quỳ gối. Ngài chào tạm biệt họ từ xe ngựa. Khi trở lại
Nguyện xá, ngài bị buộc phải ở trong phòng và dành cả ngày với đôi
chân giơ cao trên chiếc ghế sofa cũ, nhưng luôn mặc áo dòng. Đến giờ
thì đôi chân sưng phồng không cho ngài mang giày hoặc thậm chí cả
dép nữa.749
746 Amadei III, 523-527, passim.
747 Amadei III, 540.
748 FdR 4249A11.
749 Amadei III, 541-542.

54.8 Page 538

▲torna in alto
538 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Những kết luận về các cuộc Kinh lý Ngoại thường
Ngài vẫn tích cực như thường. Các kết luận bằng văn bản về chuyến
Kinh lý Ngoại thường tất cả các nhà Salêdiêng mà ngài đã ra lệnh năm
1908, được trình cho Tu Nghị Bề trên ngày 22 tháng Giêng năm 1910.
Chúng cho thấy mức độ nghiêm trọng: thiếu nhân sự, đặc biệt nhân sự
có trình độ; thiếu các Giám đốc tốt; khan hiếm những cha giải tội tốt;
những khoảng trống trong việc đào tạo nhân sự, đặc biệt là các sư
huynh; một số yếu tố không xứng đáng vốn là mối nguy hiểm cho các
hội viên; cần phải thay đổi những Giám tỉnh và giám đốc vốn không
phù hợp, v.v.750
Một vài tuần trước đó, ngày 1 tháng Mười Hai, cha Rua đã ký một
thư luân lưu quan trọng gửi cho các Giám tỉnh và các giám đốc với
những nhận xét cá nhân của ngài sau khi đọc một số tài liệu.751 Thoạt
nhìn lá thư có vẻ làm yên lòng. Theo cha Rua, các báo cáo của những
vị Kinh lý một lần nữa chứng minh rằng "Tu hội Salêdiêng khiêm tốn"
(ngài thích tính từ này), được Chúa chúc lành, được Mẹ Phù Hộ các Giáo
Hữu hỗ trợ, và phát triển qua những lời cầu nguyện và công nghiệp
của Đấng Sáng lập Đáng Kính, đang tiếp tục đạt được những việc rất
tốt đẹp trên khắp thế giới. Các vu khống ở Varazze và Marsala, những
cuộc bách hại sau các cuộc cách mạng ở Barcelona và Colombia, chỉ
chứng tỏ rằng kẻ thù vốn đã bị đánh bại ở một phía, lại thử những cuộc
tấn công mới từ phía khác. "Ai mà biết được ngày nay hắn đang có kế
hoạch gì chống lại chúng ta? Nhưng chúng ta chẳng sợ gì, Thiên Chúa
ở cùng chúng ta". Khi nói thế, cha Rua đưa ra một nhận xét chung, một
nhận xét gợi hứng cho những gì tiếp theo trong văn bản của ngài:
chúng ta thấy rằng trong những nhà được cai quản bởi một bề trên
được ban những phẩm chất cần thiết cho vai trò của ngài, được tràn
đầy lòng nhiệt thành cháy bỏng và đích thực, một người trung thành
noi gương Vị Sáng lập Đáng Kính Don Bosco của mình, thì lòng đạo
đức triển nở, những thói quen thuần khiết ngự trị, có sự ngưỡng mộ và
tiến bộ liên tục trong việc học hành, mọi người hít thở một bầu không
khí thấm nhuần những đức tính nổi bật nhất. Thật không may các báo
750 Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 22 tháng Giêng, 1910, trong FdR 4249B5.
751 L.C., 407-418.

54.9 Page 539

▲torna in alto
Thời Kỳ Xế Bóng | 539
cáo kinh lý cho thấy những hạt ngọc như vậy hơi hiếm. Sự nhìn nhận
đáng buồn này thúc giục cha Rua thảo một danh sách những lời khuyên
và khích lệ đặc biệt nhắm vào những người chịu trách nhiệm chính các
nhà.
1) Cha Rua thúc giục họ đối chiếu hành vi của họ với Hiến Luật. "Thời
điểm thích hợp nhất cho sự xét mình này" là Dọn mình Chết lành. Báo
cáo của các Vị Kinh lý cho thấy một số giám đốc nhà dễ dãi miễn cho
mình không thực hành việc đạo đức mà Quy Luật đề ra, đặc biệt là suy
niệm và đọc sách thiêng liêng. Những người khác không chỉ "bỏ bê giải
pháp hàng tháng của các trường hợp đạo đức, nhưng còn không cung
cấp hai bài huấn đức hàng tháng vốn rất cần thiết để giữ tinh thần của
Don Bosco sống động trong lòng các hội viên, bất chấp được khuyến
cáo thường xuyên". Như vậy làm sao "những giám đốc đó không nói
chuyện thân thiện với những người thuộc quyền lại có thể giữ một
lương tâm an bình được?" Rối loạn đáng trách này có lẽ là cơ sở làm
mất đi rất nhiều ơn gọi, trong khi các giám đốc như vậy đang lãng phí
thời gian đọc báo, quá dễ dãi chấp nhận các cam kết bên ngoài nhà
hoặc thường xuyên thực hiện các chuyến thăm không cần thiết ở nước
ngoài. "Ít nhất lời nhắc nhở này được Bề Trên Cả gửi tới cho họ từ
giường bệnh nơi ngài bị giam giữ cả tuần nay vì đau bệnh, có thể giúp
họ sửa chữa sơ suất của họ".752
2) Đối với các giám đốc tuân giữ Hiến Luật thì không đủ; họ cũng
phải lo liệu để những người thuộc quyền họ tuân giữ nữa. “Khốn cho
bề trên chểnh mảng! Thánh Bonaventura không bao giờ ngừng tuyên
bố rằng người nào lạm dụng quyền lực của mình thì mắc tội với Thiên
Chúa, với những người hội viên mà họ bỏ bê mặc cho hành vi sai trái
của họ, và với chính lương tâm của họ vốn chịu trách nhiệm về lỗi của
những người thuộc quyền của mình cũng như của riêng mình". Cha Rua
đặc biệt bàn đến việc thực hành lời khấn khó nghèo mà ngài đã dành
cho một thư luân lưu quan trọng ngày 31 tháng Giêng năm 1907.753
"Thật buồn khi một số giám đốc nào đó không siêng năng và dũng cảm
752 L.C., 412.
753 L.C., 360-377.

54.10 Page 540

▲torna in alto
540 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
hơn trong việc thực hành đức khó nghèo. Các hội viên bị cấm ngặt
không được có tiền và chi tiêu vào những thú vui nhỏ ... Thật đáng
buồn khi thấy những hội viên, khi họ đổi nhà, kéo theo họ một rương
sách và đồ vật mà họ gọi là của riêng họ". Lá thư năm 1907 được đón
nhận cách thiện chí đã khiến ngài nghĩ những lạm dụng đó đã chấm
dứt. Than ôi! các báo cáo kinh lý thật rõ ràng một cách nhức nhối:
"Nhưng cha được an ủi vì hy vọng rằng anh em sẽ chú ý nhiều hơn để
liệu sao những mong muốn của cha được hoàn toàn mãn nguyện".
3) Cha Rua lên tiếng chống lại một lạm dụng khác vốn có thể xem
ra lạ lẫm với chúng ta ngày nay: "Người ta nói rằng một số cá nhân đã
bước vào Tu hội chúng ta mà không có ý định nào khác ngoài việc kiếm
lợi ích vật chất cho gia đình họ". Trong lòng, họ không quan tâm đến
Tu hội, nhưng tìm hỗ trợ tài chính vững chắc hơn bao giờ hết từ các bề
trên cho gia đình họ. Do đó ngài mời các Giám tỉnh kiểm định "xem các
thỉnh sinh hoặc tập sinh có bước vào Tu hội với mục đích duy nhất để
cứu linh hồn của họ, chứ không phải để kiếm một đời sống thoải mái
và giúp đỡ gia đình họ hay không. Cũng cần phải biết tình trạng gia
đình của thỉnh sinh, và khi các anh em thấy rằng gia đình ấy cần người
thanh niên đó hỗ trợ, hãy thúc giục người ấy đi theo con đường khác
và đừng trở thành một người Salêdiêng. Đặc biệt lưu ý để không có
những linh mục “tìm lợi ích cho riêng mình, không tìm lợi ích của Chúa
Giêsu Kitô “ [quaerunt quae sua sunt, non quae Jesu Christi ].
4) Cuối cùng ngài bàn chi tiết đến một số linh mục thờ ơ trong việc
cử hành Thánh Lễ: "Cho phép cha nhắc nhở các Giám tỉnh và giám đốc
rằng các anh em có nghĩa vụ nghiêm ngặt sửa lỗi những người thuộc
quyền của mình cử hành không nghiêm trang hoặc vội vàng thái quá
hoặc không chuẩn bị và tạ ơn thích đáng". Ngài tiếp tục bằng việc gợi
lại một số lưu ý của Thánh Phanxicô Salê, viết ra trong Dẫn vào Đời sống
Sùng mộ: "Hy tế Thánh Lễ là cốt lõi của Kitô Giáo, ở trung tâm của lòng
sùng kính, linh hồn của lòng đạo, một mầu nhiệm khôn tả tỏ lộ Thiên
Chúa yêu thương sâu xa, trong đó thật sự Thiên Chúa hiệp nhất chính
Ngài với chúng ta, và quảng đại thông truyền ân sủng và ân huệ của
Ngài".
5) Ngài đề nghị tuân thủ khoản 780 của Quy chế: "cấm học sinh của

55 Pages 541-550

▲torna in alto

55.1 Page 541

▲torna in alto
Thời Kỳ Xế Bóng | 541
chúng ta đặt tay trên nhau, nắm tay nhau, hoặc khoác tay nhau đi bộ".
Nhưng điều này không đủ. Các Giám tỉnh và Giám đốc phải liệu sao
không người Salêdiêng nào cho phép mình thân mật như vậy với học
sinh của mình. "Trong các bài huấn đức thỉnh thoảng hãy đề cập đến
người Salêdiêng chúng ta cần phải hãm dẹp xúc giác". Cấm mọi người
vuốt ve trẻ em, bắt tay chúng, nắm tay đi bộ với chúng, nựng má hoặc
cằm và đặc biệt để chúng ngồi trên đầu gối của mình". Những cử chỉ
như thế này "có thể dẫn đến các rối loạn nghiêm trọng về mặt đạo đức,
và gây cớ cho kẻ thù của chúng ta vu khống và quy những ý định mà
chúng ta không có. Đấng Đáng Kính Don Bosco vốn cũng yêu mến
người trẻ với tình cảm mãnh liệt, không bao giờ coi là đúng đắn khi
thu hút các em đến với ngài bằng những phương cách như thế và nhất
mực trách mắng bất cứ ai hành động như vậy”.
6) Cha Rua kết thúc thư luân lưu bằng cách thúc giục người Salêdiêng
không cư xử như "trẻ con" nhưng là những cá nhân trưởng thành, như
"những công nhân khỏe mạnh trong vườn nho của Chúa". Mỗi người
phải hết sức siêng năng chu toàn nhiệm vụ của mình, "như thể toàn bộ
danh dự của Tu hội chỉ phụ thuộc vào bản thân mình." Mỗi người phải
có thể "làm việc rất tốt, cách riêng vì người trẻ", quý trọng "mọi phương
tiện để tiến bộ trong tri thức và nhân đức". Không ai được cam chịu
những khuyết điểm của mình. "Trong lời nói, công việc và thái độ ai
nấy đều cho thấy mình xứng đáng với danh người Salêdiêng và con cái
của Don Bosco". Các Giám tỉnh và giám đốc phải tạo "sự nghiêm túc
cần thiết" cho cộng đoàn của họ, "tốt bụng nhưng kiên quyết lo liệu để
họ tuân thủ Hiến Luật và Quy Chế", khi đọc sách tại bàn ăn, rời khỏi
nhà, thường xuyên thực hành lòng đạo đức, kể cả trong những ngày
nghỉ v.v.
Trong phần phụ lục của thư luân lưu đó, cha Rua chúc mừng những
người trong các nhà Salêdiêng đã cổ xúy sách báo tốt.
Có lẽ cha Rua nhận thức được lá thư này sẽ trở thành di chúc tinh
thần của ngài. Nhờ vào các báo cáo từ cuộc Kinh lý Ngoại thường năm
1908 mà ngài có được bức tranh tổng thể về tình hình thực tế của các
nhà của người Salêdiêng trên khắp thế giới. Ngài đã so sánh những

55.2 Page 542

▲torna in alto
542 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
điều này với các Quy Chế được Tu Nghị Tỉnh soạn ra và với lý tưởng
của một Tu sĩ mà ngài đã nuôi dưỡng trong chính mình. Một mình
trong phòng với đôi chân sưng phồng, cha Rua vẫn tìm cách đích thân
vươn ra với tất cả con cái mình và cầu xin họ thể hiện mình là những
môn đệ xứng đáng của Don Bosco. Đây đã là mục đích của thời ngài
làm Bề Trên Cả từ ban đầu.
Những tuần cuối cùng của Cha Rua
Lá thư hàng năm của cha Rua gửi các Cộng Tác viên xuất hiện đúng
ngày 1 tháng Giêng năm 1910.754 Ngày 4 tháng Giêng, cha Rua đồng
ý đi xuống đường có mái vòm ở Valdocco để được chụp hình đội mũ
giáo sĩ màu đen và áo choàng không tay trên vai.755 Cha Ceria quan sát:
"Nếu bạn nhìn kỹ ngài, chúng ta có thể thấy một vẻ thất bại không đặc
biệt trên khuôn mặt kiệt sức và gầy gò của ngài, đôi mắt của ngài, trong
khi vẫn thể hiện sức mạnh của linh hồn, dường như có một sự thất thần
tinh tế; môi của ngài muốn hé nở nụ cười thường lệ, nhưng bạn chỉ có
thể nhìn thấy cơ co lại, thiếu vắng sự sống động để kiểm soát nó".756
Lúc này cha Rua không còn có thể đi xuống dâng Lễ tại Thánh đường
Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu nữa, nhưng cử hành trong nhà nguyện nhỏ
của Don Bosco, gần văn phòng của ngài. Việc dâng lễ khiến ngài mệt
lử, chính vì thế – rất bất thường đối với một người mộ đạo như ngài -
ngài bị buộc phải ngồi tạ ơn trên ghế bành ở phía trước bàn thờ. Một
buổi sáng, vào cuối Thánh Lễ, ngài gọi y sĩ Balestra và nói với thày:
"Cha thấy chóng mặt. Con giúp cha trở về phòng". Ngày 14 tháng 2,
bác sĩ Battistini, bác sĩ thường trực tại Nguyện xá, phát hiện ra tim ngài
bị yếu đáng báo động và khuyên ngài kiêng dâng lễ và nghỉ ngơi trong
bốn hoặc năm ngày. Tuy nhiên, ngày hôm sau ngài muốn dâng Thánh
Lễ. Đây sẽ là lần cuối cùng. Thứ tư ngày 16, từ giường của mình, ngài
754 Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1910, 2-8.
755 Xem hình phóng lớn trong trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 131.
756 Ceria, Vita, 574. Bản mô tả những tuần cuối cùng của Cha Rua, tôi ít nhiều theo
Ceria, Vita 575-584, nhưng tính đến các thư luân lưu và điện tín từ Cha Rinaldi gửi
những người Salêdiêng, và biên niên sử trên thực tế ở hai chỗ: "Những ngày sau cùng"
và "Cái chết của ngài", trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 133-149, 150-
161.

55.3 Page 543

▲torna in alto
Thời Kỳ Xế Bóng | 543
dự Thánh Lễ do cha Francesia dâng trong nhà nguyện nhỏ. Ngài thức
dậy vào buổi trưa, nhưng một tiếng sau ngài phải quay lại giường. Ngài
kiệt sức và nói với Balestra: "Con hãy lấy thư và mang đến cho cha
Rinaldi, và bảo ngài xử lý vì cha không còn khả năng". Vẫn như vậy,
nằm ngửa trên gối, ngài vẫn nhìn những người muốn đến thăm và gặp
ngài. Vào những giờ đã định, ngài suy niệm và đọc sách thiêng liêng,
với Balestra đọc cùng những bản văn đang được sử dụng trong cộng
thể.
Các bác sĩ chẩn đoán "viêm cơ tim do tuổi già", căn bệnh cho thấy
cơ thể của ngài suy nhược đến mức kiệt sức. Nhưng tinh thần của ngài
vẫn tỉnh táo và chào đón bất cứ ai đến thăm. Thật vậy trong những
ngày này bên cạnh giường ngài liên tục một dòng người gồm các Hồng
y, các giáo sĩ nổi tiếng và giáo dân, các thành viên của các gia đình quý
tộc và dân thường thường kéo đến. Những người biết về nhân đức của
ngài, thấy ngài được nâng lên đến một mức độ tâm linh phi thường.757
Ngày 14 tháng Ba, cảm thấy rằng kết tận đã gần, ngài yêu cầu liệt kê
các món đồ trên kệ và ngăn kéo bàn giấy của ngài. Ngày hôm sau ngài
gọi Balestra và đưa cho thày một chương trình hàng ngày để làm theo:
Thời gian biểu 'ad experimentum'
5: 00 Thức dậy
5.20: Thánh Lễ, Hiệp Lễ, tạ ơn
6.15: Suy niệm
6.45: Nghỉ ngơi – Từ 8-9h bác sĩ đến thăm và điểm tâm với
một số cuộc phỏng vấn
9: 00 Chữa bệnh [thuốc men] – Một số cuộc phỏng vấn với
người ngoài, tùy theo sự thuận tiện và khả năng, sau đó nghỉ
ngơi
12: 00 Cơm trưa và chuyện trò
757 Thư hàng tháng của Cha Rinaldi gửi các Giám Tỉnh và Giám đốc, N. 61, ngày 24
tháng Ba, 1910, trong FdR 4076C1-2.

55.4 Page 544

▲torna in alto
544 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
14: 00 Nghỉ ngơi
15.30: Cầu nguyện, đọc sách, giải trí
16: 00 Điều trị
18: 00 Nghỉ ngơi và giải trí
20: 00 Cơm tối, cầu nguyện và chuẩn bị nghỉ đêm.758
Trước khi thiết lập chế độ này, sinh hoạt trong ngày của ngài bắt đầu
với một chương trình rõ ràng. Lúc 5 giờ sáng, Balestra gõ nhẹ cửa và
nói Benedicamus Domino, nghe vậy cha Rua đáp lại Deo gratias. Sau đó,
ngài phải chuẩn bị dâng lễ. Ngài rửa mặt và mặc áo dòng, trải một tấm
vải trắng lên giường. Khi ngài không thể mặc quần áo được nữa, ngài
che thân bằng một chiếc khăn choàng màu đen để Rước Lễ cho xứng
đáng và tiếp khách. Cuối cùng ngài phải hài lòng với một chiếc khăn
quàng lớn. Ngài rất nhiệt tình với nghi lễ. Khi nhập lễ và khi chuông
rung báo bắt đầu Hy tế Thánh Lễ, ngài làm dấu Thánh Giá và đáp lời
vị chủ tế cùng với người giúp lễ, chăm chú đến nghi lễ.
Ngày 20 tháng Ba, Giáo hội bắt đầu Tuần Thánh. Khuôn mặt và bàn
tay của cha Rua bắt đầu sưng lên. Ngài nhận thức được điều đó, kể từ
ngày thứ tư Tuần Thánh (23 tháng Ba) ngài xin rước Mình Thánh lần
cuối vào ngày hôm sau. Thánh Thể được cha Rinaldi mang đến cho ngài
vào ngày hôm sau với các anh em trong đoàn rước của Nguyện xá cầm
nến thắp sáng. Trước khi rước Mình Thánh, cha Rua ra dấu rằng ngài
muốn nói. Họ nâng ngài dậy trên gối và ngài nói bằng một giọng khá
mạnh có thể nghe thấy trong những phòng gần đó. Những gì ngài nói
đã được viết lại:
Trong tình huống này, cha cảm thấy có nghĩa vụ nói vài lời với
anh em. Trước tiên là cảm ơn những lời cầu nguyện của anh em:
cảm ơn anh em rất nhiều, và Chúa sẽ ban thưởng cho anh em vì
những gì anh em tiếp tục làm.
Một điều nữa cha muốn nói, vì cha không biết liệu mình sẽ có cơ
hội khác để nói với tất cả anh em quy tụ lại với nhau hay không,
758 Tài liệu này được viết lại trong FdR 2779C9-10.

55.5 Page 545

▲torna in alto
Thời Kỳ Xế Bóng | 545
và cha cũng muốn anh em nói với những người không thể hiện
diện. Cha sẽ luôn luôn cầu nguyện với Chúa Giêsu cho anh em.
Cha hy vọng Thiên Chúa sẽ lắng nghe lời cha thỉnh cầu thay mặt
mọi người trong nhà bây giờ và trong tương lai. Điều rất quan
trọng với cha là tất cả chúng ta là và cố gắng trở thành những
người con xứng đáng của Don Bosco. Don Bosco trên giường chết
của ngài đã hẹn tất cả chúng ta: Hẹn gặp lại anh em ở Thiên Đàng!
Đây là lời nhắc nhở ngài để lại cho chúng ta.
Don Bosco yêu tất cả con cái của mình; vì vậy cha đề nghị với anh
em ba điều:
1. Nồng cháy yêu mến Chúa Giêsu trong Thánh Thể;
2. Sùng kính Đức Maria rất thánh Phù Hộ các Giáo Hữu;
3. Hết lòng kính trọng, vâng phục và yêu mến các vị Chủ chăn của
Giáo hội và đặc biệt đối với Đức Thánh Cha.
Đây là lời nhắc nhở mà cha cũng muốn để lại cho anh em. Hãy
cố gắng trở thành con cái xứng đáng của Don Bosco.
Cha sẽ không hề chểnh mảng cầu nguyện cho anh em. Nếu
Thiên Chúa chào đón cha vào trong Thiên Đàng như cha hy
vọng, cha sẽ cầu nguyện cho mọi người trong các nhà và đặc
biệt nhà này.759
Vì mong muốn được đầy đủ, sau này chúng tôi ghi chú làm thế nào
mà vào ngày 1 tháng Tư, cha Rua yêu cầu chính xác rõ ràng cha Rinaldi
bổ sung một nhận xét vào những đề nghị của ngài ngày 24 tháng Ba
mà ngài coi như là di chúc tinh thần của mình, vốn thật quan trọng
nghe từ chính miệng ngài: “Hãy dặn các hội viên những gì cha nói vào
ngày cha nhận của ăn đàng [Viaticum] và nhắc họ rằng vận mệnh tốt
lành của chúng ta sẽ là trung thành giữ các truyền thống của Don Bosco
và tránh sự mới lạ".760 Bình luận về những gì ngài nói, Đức Hồng y
759 Thư hàng tháng của Cha Rinaldi gửi các Giám Tỉnh và Giám đốc, N. 62, ngày 21
tháng Tư, 1910, trong FdR 4076C5.
760 Ibid, FdR 4076C6.

55.6 Page 546

▲torna in alto
546 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Maffi sẽ nói trong bài giảng tưởng nhớ ngài: "Những lời này thật ngắn
gọn, nhưng chúng tiết lộ mầu nhiệm và thế giới của một linh hồn;
chúng diễn đạt một chương trình kín đáo, một chương trình ngài theo
đuổi thực sự chân thành và giờ đây trong ánh sáng đích thực và đầy
tràn, ánh sáng chiếu ngời khi ngài hấp hối, những lời này nêu rõ nỗ lực
và khát khao liên tục là gì đối với cha Rua.”761
Không có người ngoài nào được phép có mặt tại buổi lễ, ngoại trừ
giáo sư mộ đạo Rudolph Bettazzi, người bảo vệ nhiệt tình của Công
giáo Tiến hành và tông đồ của lối sống luân lý. Ông xin việc này như
một ân huệ lớn lao. Sau đó, ông ký vào cuốn sổ khách mời và viết: "Tôi
hạnh phúc khi có mặt vào lúc một vị Thánh rước của ăn đàng". Một
cháu trai đến từ Rôma và những cháu trai khác sống ở Torino vốn đã
đến thăm ngài nhiều lần, nhưng họ không dám làm phiền ngài. Cha
Rua cho vời họ vào và lần lượt nói những lời tử tế với từng người và nói
rằng ngài sẽ gặp họ ở Thiên Đàng!
Cha Rua qua đời
Ngày 27 tháng Ba, Chúa Nhật Phục Sinh, khoảng 9:30 tối, có những
triệu chứng tắc mạch nhẹ. Cha Rua bất tỉnh. Bác sĩ trấn an các Bề trên
vốn đã hoảng hốt rằng những triệu chứng này sẽ qua đi, và thật vậy
bệnh nhân tỉnh lại và nói được. Nhưng ngài cứ yếu hơn. Do đó cha
Rinaldi đề nghị ngài được Xức dầu Bệnh nhân. Ngài lập tức trả lời: "Sẵn
sàng, sẵn sàng!" Cha đưa cho ngài cuốn sách Lễ nghi nhỏ và yêu cầu
ngài đọc toàn bộ nghi lễ cho cha nghe cùng với những lời cầu nguyện
được quy định cho việc cử hành Bí Tích. Ngày hôm sau, cha Albera xức
dầu cho ngài, với sự hiện diện của tất cả các thành viên của Tu Nghị Bề
trên. Cũng giống như với Don Bosco, hiệu quả của Bí tích là sự cải thiện
thể lý vốn là điều thường ghi nhận được sau khi nhận lãnh: bệnh nhân
trải nghiệm sự suy giảm, mà dường như là một cải thiện chung.
Chúng ta đọc thấy từ "chữa bệnh" trong chương trình hàng ngày mà
Balestra ghi chép. Cha Ceria xác nhận rằng nó đề cập đến việc điều trị
đôi chân đầy những vết loét của ngài. Thiên Chúa mới biết ngài chịu
đựng chúng ra sao. Tuy nhiên, trong thời gian bệnh tật, chẳng ai nghe
761 Ceria, Vita, 580-581.

55.7 Page 547

▲torna in alto
Thời Kỳ Xế Bóng | 547
ngài thốt ra một lời than phiền nào. Nếu có ai hỏi ngài có đau lắm
không, ngài thường trả lời với sự bình tĩnh tuyệt vời: "Không, không!",
và đôi khi: "chút xíu thôi!"
Chẩn đoán của bác sĩ trở nên đáng lo ngại hơn khi ngày tháng trôi
qua. Bệnh viêm cơ tim của ngài xấu đi. Ngài không thể tự ăn được nữa,
nên vào thứ bảy ngày 2 tháng Tư, cha Rinaldi thông báo với mọi người
trong nhà rằng cái kết đang đến gần.762 Ở tiền sảnh có những người
vẫn muốn gặp ngài. Nhưng họ đã được cha Têphanô Pagliere kiên
quyết giữ không cho lại gần. Đôi khi cha Rua ra dấu hiệu cho ai đó vào.
Có vẻ như đây là trường hợp của Gioan Possetto, người bạn đến gặp
ngài khi vụ bê bối Varazze bùng ra. Cha Rua nhẹ nhàng bắt tay ông:
"Tôi đã luôn nợ anh điều gì đó", ngài nói với ông bằng một giọng chẳng
khác gì thầm thì: "Anh nhớ không? Ở đây trong chính căn phòng này;
tôi luôn cầu nguyện cho anh và gia đình anh và bây giờ tôi chắc chắn
sắp đi, tôi muốn nói với anh rằng khi tôi lên đó được kết hiệp với Cha
nhân lành của chúng ta, tôi sẽ luôn khẩn cầu phúc lành từ trời cho anh.
Tạm biệt, người bạn tốt và trung thành".763
Ngày 1 tháng Tư, trong Thánh đường Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu,
bắt đầu ba ngày cầu nguyện cho cha Rua trước Thánh Thể. Vào tối ngày
cuối cùng, trước khi ban Phép Lành, dường như Francesia quay sang
các cậu bé và những người khác hiện diện và nói: "Ôi Chúa Giêsu, xin
hãy cho chúng con người cha, người bạn, vị ân nhân của chúng con.
Lạy Đức Trinh Nữ Rất Thánh, một ơn như thế sẽ là viên ngọc đẹp nhất
trên vương miện của Mẹ!" Tối ngày 4 tháng Tư, cha Rua gọi cha giải
tội của mình, người lập tức đến gặp ngài: "Cha hãy cử hành Nghi lễ và
đọc những lời nguyện phó linh hồn". Các Bề trên khi được thông báo,
ngắt ngang cuộc họp và đến ngay. Quỳ ở chân giường, họ đáp kinh
cầu. Về phần mình, cha Rua bình thản đọc theo.
Ngay sau đó, sự bình thản của ngài tan biến và ngài bước vào một
cơn giao động tinh thần vốn gợi cho cha Piscetta đang có mặt ở đó nhớ
đến Chúa Giêsu trong vườn Giêtsemani: "Lạy Cha, nếu có thể, xin cất
762 FdR 2778C7-8.
763 Theo bản tường thuật của Possetto, được viết lại trong FdR 2855D12.

55.8 Page 548

▲torna in alto
548 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
chén này". Cha Rua xin những người có mặt cầu nguyện với Chúa hãy
cất cái chết khỏi ngài hoặc làm cho nó ít sợ hãi hơn. ngài nói: "Bởi vì,
tôi sợ phải trình diện trước sự phán xét của Thiên Chúa, tôi sợ rằng tôi
không thể chịu đựng cơn hấp hối này". Đương nhiên cha Albera cố trấn
an ngài và an ủi ngài. Và cơn khủng hoảng trôi qua.
Sáng thứ ba ngày 5 tháng Tư, trong nhà nguyện bên cạnh phòng
của ngài, tám linh mục lần lượt cử hành Thánh Lễ. Họ thêm một lời cầu
nguyện ở phần Kinh Nguyện cho người hấp hối. Cha Rua chăm chú
theo dõi Thánh Lễ thứ hai. Thánh Lễ ấy được cha giải tội của ngài, cha
Francesia, cử hành. Sự sùng mộ khi ngài rước lễ, lần cuối trong đời, gây
ấn tượng cho những ai ở đó. Đến 10 giờ sáng, ngài yêu cầu đọc bài suy
niệm cho ngài nghe. Họ trả lời rằng ngài không nên gắng sức, nhưng
hãy chấp nhận ý Chúa. Ngài chỉ phần nào nhượng bộ. Sau khi đọc Veni
sancte Spiritus, ngài muốn ít nhất các đầu đề của các điểm khác nhau
cho bài suy niệm ngày hôm đó được đọc, cùng với các quyết tâm cuối
cùng. Sau đó ngài hồi tâm trong khoảng mười phút.
Ngài tỉnh táo, và cầu nguyện, nhưng ý thức mơ mơ màng màng.
Đến tối, ngài thấy khó nhận ra mọi người. Khi đêm xuống ngài mất
hoàn toàn thị lực. Dường như cơn đau đớn cuối cùng bắt đầu lúc 10
giờ tối. Thỉnh thoảng ngài hỏi khoảnh khắc cái chết đã đến chưa. Đến
nửa đêm ngài ngủ thiếp đi.
Ngày 6 tháng Tư, lúc 1 giờ 30 sáng, ngài bắt đầu run rẩy. Cha
Francesia đề nghị ngài đọc vài lời cầu nguyện ngắn và dường như làm
ngài tỉnh lại. Khi ngài nghe những gì Don Bosco đã dạy ngài khi còn
bé: "Lạy Trái tim Mẹ Maria dịu dàng, xin giúp con cứu rỗi linh hồn con",
ngài thì thầm: "Vâng, cứu linh hồn chúng con ... đó là tất cả ... tất cả
... cứu linh hồn chúng con". Từ giây phút đó, ngài không thốt lên lời
nào nữa. Ngài từ từ đi vào tình trạng hôn mê. Sau khi cộng đoàn đã
thức dậy, các thiếu niên trong Nguyện xá bắt đầu đi thành hàng ngang
qua giường ngài và hôn tay ngài. Các Nữ tu Salêdiêng cũng đến. Việc
này kéo dài hơn một giờ. Nó kết thúc lúc 9 giờ 37 sáng. Sau đó, không
than phiền, hoặc cử động, thậm chí không có người đứng cạnh để ý
đến, trái tim ngài ngừng đập và thân thể đáng thương của ngài trở nên
bất động. Những người ở quanh ngài quỳ xuống, trong khi vị linh mục,

55.9 Page 549

▲torna in alto
Thời Kỳ Xế Bóng | 549
theo nghi lễ, cầu xin các thánh và thiên thần chào đón ngài, mang và
dâng linh hồn ngài lên tòa Đấng Tối Cao.
Tang lễ Cha Rua
Ngài là một vị thánh! Mọi người trong Nguyện xá đều xúc động rơi
lệ. Thật tự nhiên. Nhưng nỗi buồn sớm được thay thế bằng sự chắc chắn
là có được một người bảo vệ khác trên thiên đường, một vị thánh đích
thực, một vị thánh vĩ đại. Tin tức truyền miệng từ trong nhà và vượt ra
ngoài. Mọi người bắt đầu đến để tỏ lòng kính trọng thi hài, được đặt
trong nhà thờ Thánh Phanxicô Salê. Thi hài ngài, được mặc áo dòng,
áo lễ và dây stola, được đặt trong linh cửu nhỏ, cầm cây thánh giá trong
tay. Người đầu tiên đến tất nhiên là những người từ Torino.764
Sự ngưỡng mộ và tôn kính là điều hiển nhiên giữa mọi người.765 Họ
muốn nhìn thấy và chạm vào ngài như một dấu tôn kính. Cuộc hành
hương đạo đức này mang tầm cỡ phi thường vào ngày hôm sau, ngày
7 tháng Tư, sau khi giới Báo chí đã công bố tin cha Rua qua đời. Ở
Quảng trường Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu các xe độc mã hai bánh và
"ô tô" đi tới đi lui, trong khi một biển người di chuyển về phía Nguyện
xá và nhà thờ Thánh Phanxicô Salê. "Mọi người đều muốn chạm chuỗi
mân côi, huy chương, vòng tay, sách, ảnh thánh, khăn tay, nhiều phụ
nữ đưa cho các giáo sĩ và linh mục nhẫn của họ, đàn ông đưa đồng hồ
và sinh viên đưa giấy chứng nhận có đóng dấu để chạm vào thi hài
ngài".766 Ngày 8 tháng Tư đến lúc đặt ngài vào quan tài. Sau đó, quan
tài được chuyển đến Đền thánh Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Mọi người
tiếp tục xếp hàng kính viếng.
Sáng ngày 9 tháng Tư, cả nhà thờ nhuộm màu tang, các nghi thức
tang lễ bắt đầu với Thánh Lễ hát bình ca, do Đức Giám mục Salêdiêng
Gioan Marenco cử hành, cùng với Đức Tổng Giám mục Pasquale
Morganti từ Ravenna, một người bạn tuyệt vời của cha Rua, và Đức
764 Tôi rút từ Ceria phần tang lễ của Cha Rua, Vita, 585-588, và phần mô tả quan trọng
trong bài báo "La Morte", trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 150-161.
765 “La morte” trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 151.
766 “La morte”, trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 151-152.

55.10 Page 550

▲torna in alto
550 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Giám mục Dòng Đa Minh Angelo Francis Scapardini, Giám mục của
Nusco. Cha Rua luôn yêu thích bình ca. Nhà táng khiêm tốn, không có
hoa, chỉ có sáu ngọn nến, nhưng buổi lễ thật hùng vĩ và sâu lắng. Các
Hiệp hội khác nhau gắn liền với người Salêdiêng muốn được ở đó với
các tiêu chuẩn tương ứng của họ. Gia đình Hoàng gia được Công chúa
Leticia Bonaparte đại diện. "Bạn chưa bao giờ thấy đông đảo dân chúng
tưởng nhớ như vậy". Khi buổi lễ kết thúc, không chỉ có Đền thờ, mà cả
sân trong của Nguyện xá và quảng trường rộng bát ngát của nhà thờ
"bày ra một khía cạnh của ngày lễ ngoại thường". Vào buổi chiều, một
đám đông dài bất tận đi theo hoặc đi trước quan tài của cha Rua quanh
các con đường của Valdocco. Người ta tính cả một trăm ngàn người
đứng dọc theo lối đi cho chuyến đi cuối cùng của cha Rua qua thành
phố nơi ngài sinh ra và nơi ngài đã hết mực xả thân, được mọi người
ngưỡng mộ. Tờ báo Il Momento, trong ấn bản thứ bảy ngày 9 tháng Tư,
viết:
Quanh quan tài của vị linh mục khiêm nhường là tất cả các đại
diện chính thức của các cơ quan dân sự cao cấp nhất, nhưng đằng
sau những hàng rào cảnh sát quân sự đang cố gắng hết sức để
điều khiển dân chúng trong nhà thờ, quảng trường, đường phố,
là một đám đông khổng lồ mà [Torino] có chưa bao giờ thấy tương
tự như vậy trong một thời gian dài. Điểm xúc động của buổi lễ là
qua ký ức cả hàng ngàn người đã thừa nhận niềm kính trọng, công
nhận, tình cảm, ngưỡng mộ, và tôn kính ngài. Là người kế vị Don
Bosco không phải là nhiệm vụ dễ dàng, và sau một phần tư thế
kỷ vẫn duy trì sự cảm thông mãnh liệt rằng tên của Don Bosco
không thể cưỡng lại mang với nó, không thể là gì khác ngoài chiến
thắng của con người vĩ đại và khiêm nhường mà vị linh mục này
đã sống. Hôm qua, sự thừa nhận tự phát của Torino về cha Rua là
sự biểu dương cao quý, hùng hồn và xúc động nhất mà ta có thể
tưởng tượng được. Tiếng chuông vang lên trong tang lễ của ngài,
hát bài thánh ca khải hoàn của ngài.767
Ngày 9 tháng Tư, một xe tang chở quan tài từ nhà thờ Thánh
Phanxicô Salê tới Chủng viện Truyền giáo ngoại quốc tại Valsalice, nhà
767 «La morte», trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 153-154.

56 Pages 551-560

▲torna in alto

56.1 Page 551

▲torna in alto
Thời Kỳ Xế Bóng | 551
Salêdiêng nơi thi hài của Don Bosco đã nằm được hai mươi hai năm.
Sau khi làm phép lần cuối, quan tài của cha Rua được đặt vào vị trí
trong một hốc tường, bên cạnh Don Bosco.
Giám đốc Nguyện xá, cha Secondo Marchisio, nói lời tiễn biệt sau
cùng với Bề Trên Cả quá cố: "Thưa cha đáng kính, nhân danh tất cả con
cái của cha ở Nguyện xá, và trên toàn thế giới, con xin để lời chào yêu
thương cuối cùng trên quan tài của cha. Hôm nay, trên bia mộ của cha,
chúng con long trọng cam kết luôn trung thành với những giáo huấn
tuyệt vời mà Đấng Đáng Kính để lại cho cha và chúng con và tóm gọn
trong phương châm cầu nguyện và làm việc! Đây là đóa hoa mà con
cái cha đặt trên mộ phần của người Cha dấu yêu".768
768 «La morte», in Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 156.

56.2 Page 552

▲torna in alto
552 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
Lời Bạt
***
Hướng đến việc tuyên Chân phước
Như chúng ta đã thấy, khi cha Micae Rua qua đời, những người biết
ngài hoặc chỉ tiếp cận với ngài, dù là người Salêdiêng hay không, mô
tả ngài như một vị thánh, và thâm tín ngài thánh thiện, như thể Hội
Thánh đã công bố điều này. Sử gia của trường Đại học Torino, Phêrô
Fedele, nói với Đấng Kế vị ngài, Phaolô Albera, rằng nếu lúc ấy là thời
Trung Cổ thì Valdocco sẽ không cử hành thánh lễ Requiem, nhưng sẽ
ngay lập tức cử hành Thánh Lễ để vinh danh Thánh Micae Rua, do dân
chúng tuyên bố phong thánh.769 Nhưng Hội Thánh của thế kỷ 20, ít
nhất là cho tới khi Đức Gioan Phaolô II đến, đã ì ạch trong vấn đề tuyên
chân phước và tuyên thánh.
Ý tưởng giới thiệu Án kiện chân phước của ngài, vốn đã được bày tỏ
năm 1910, không phải chờ đợi lâu. Ngày 2 tháng Năm năm 1922, Đức
Hồng y Augustinô Richelmy đã thành lập tòa án Giáo hội tại Torino cho
tiến trình thông thường và lấy thông tin. Hai mươi chứng nhân trực tiếp
đã được mời và hai chứng nhân chính thức. Tiếp theo là 226 phiên (tòa)
cho đến ngày 20 tháng Mười Một năm 1928.770 Vào năm 1931, Đức
Hồng y Giuse Gamba bắt đầu quá trình kiểm định các tác phẩm của cha
Rua, một nhiệm vụ dễ dàng vì ngài hầu như không xuất bản gì. Năm
1936, người kế nhiệm ngài, Maurilio Fossati, đã thiết lập một tiến trình
đặc biệt [de non cultu] để bảo đảm rằng không có sự thờ phượng công
khai nào dành cho cha Rua nghèo hèn này.771 "Sắc lệnh giới thiệu Án
tuyên Chân phước và tuyên Thánh của Tôi tớ Thiên Chúa là cha Micae
Rua, linh mục của Hiệp hội Đạo đức Thánh Phanxicô Salê", môn đệ
trung thành của Don Bosco, mà tinh thần của ngài "đậu trên ngài như
thần trí của Elia đậu trên Elisêu", được ký tại Rôma ngày 15 tháng Giêng
769 Ceria, Vita, 591.
770 Tất cả các biên bản được sao chép lại trong FdR 4255C9-4276E10.
771 Quy trình này được sao chép lại trong FdR 4326A7-4329A6.

56.3 Page 553

▲torna in alto
Lời Bạt | 553
năm 1936.772 Nó thông báo sắp khai mạc tiến trình, bắt đầu vào ngày
10 tháng Mười Một năm 1936 với hai mươi bốn lời chứng, bốn trong
số đó là chính thức, và kết thúc ngày 4 tháng Năm năm 1938, sau 174
phiên (tòa).773 Sau đó chiến tranh nổ ra khiến mọi thứ chậm lại. Những
nhân đức anh hùng của cha Rua, rất rõ ràng đối với độc giả của các tài
liệu trong quá trình này, đã được sắc lệnh của Bộ Phụng Tự đề ngày 21
tháng Tư năm 1953 công nhận.774 Sau đó người ta cần phải xem xét
vấn đề các phép lạ do lời ngài chuyển cầu: chỉ khi tính xác thực của
những phép lạ này được bảo đảm mới cho phép ngài được tuyên bố là
Chân phước. Thêm mười bảy năm nữa trôi qua để cuối cùng có được
"sắc lệnh về các phép lạ" (ngày 19 tháng Mười Một năm 1970).775 Đó
là vào thời của Đức Phaolô VI, chắc chắn là người rất nhân ái nhìn đến
những người Salêdiêng. Lễ tuyên Chân phước của cha Rua được cử hành
tại Rôma ngày 29 tháng Mười năm 1972, năm mươi năm sau khi mở
quá trình thông tin ở Torino.776
Môn đệ trung thành của Don Bosco
Từ vô vàn chứng từ về cuộc đời, các nhân đức và cái chết thánh thiện
của cha Rua, xuất hiện một bức tranh rõ ràng. Micae Rua thực sự là
môn đệ trung thành của Don Bosco mà ngài đã tìm cách sống như thế
từ thời niên thiếu.
Từ quan điểm thể lý, Don Bosco và ngài khác biệt hoàn toàn: cha
Rua nổi bật vì dáng người cao, mảnh khảnh, so với tiêu chuẩn thời bấy
giờ (vì chúng tôi đọc trong hộ chiếu của ngài từ năm 1908, ngài cao
một mét sáu mươi tám). Khoa tu đức khắt khe trong lối ngài sống đã
ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngoại hình xương xẩu của ngài. Khi nhìn ngài
ta nghĩ ngay đến Thánh Gioan Maria Vianney, ở Curé d’Ars. Nhưng khi
ngài nói, một nụ cười hiền dịu nồng ấm thắp sáng dung mạo ngài và
772 X. sắc lệnh được sao chép lại trong FdR 4255A4-7.
773 Bản “sao công khai” của quá trình thường và theo tòa thánh trong FdR 4329A7-4423D5.
774 Bản sao đánh máy trong FdR 4255B1-3.
775 Văn bản này được sao chép lại trong FdR 4255B4-5.
776 X. bản sao chép chiếu thư của Đức Giáo Hoàng về việc tuyên Chân phước của Cha Rua
(Rôma, 29 tháng Mười năm 1972), trong FdR 4255B6-12.

56.4 Page 554

▲torna in alto
554 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
khiến ngài hấp dẫn. Đôi mắt tội nghiệp của ngài, đỏ ngầu vì thiếu ngủ,
song tỏa sáng như mắt một đứa trẻ và ánh mắt thấu suốt các cõi lòng.
Cả trong thái độ lẫn lời nói, ngài không có vẻ gì điệu bộ hay giả tạo.
Ngài biểu lộ tính đơn giản điển hình của những người mà đối với họ
sống, chứ không phải ngoại hình, là quan trọng.
Ngài có trí thông minh vượt trội, cực kỳ sống động. Ngài hiểu mọi
thứ trong nháy mắt. Nền học vấn vững chắc, rộng lớn của ngài, được
một trí nhớ tuyệt vời hỗ trợ, thật phi thường nếu người ta nghĩ về tất
cả các hoạt động của ngài. Lúc còn trẻ, một số người nghĩ ngài sẽ là
một giáo sư đại học. Ngài không thiếu sự tinh tế và ngài có thể dễ dàng
chêm một giọng điệu hài hước vào cuộc trò chuyện của mình. Mặt khác
ngài không giàu trí tưởng tượng, hơi trầm tĩnh, nhưng hành vi của ngài
gây ấn tượng vì tinh thần ổn định và sự hài hước. Ngôn ngữ nói và viết
của ngài - như chúng ta thấy từ các thư luân lưu của ngài - rõ ràng,
bóng bẩy, đôi khi nồng nhiệt, nhưng không trữ tình.
Ngài được phú ban sự nhạy cảm cực kỳ sắc bén và một trái tim rất
tình cảm. Nhưng ngài luôn dè dặt, vừa phải trong tình cảm. Những bài
học từ các sư huynh de La Salle đã ảnh hưởng sâu sắc đến ngài từ thời
niên thiếu. Mọi lúc ngài luôn tỏ ra lịch sự, an tâm nơi chính mình và
nổi bật. Sinh ra trong gia đình thường dân, ngài dễ dàng hòa hợp với
đại gia. Đáng chú ý hơn cả vẫn là sức mạnh ý chí và sự tự chủ trong
việc điều hành cuộc sống, thời gian, ngày tháng của mình, sự bình tĩnh
và kiên trì nắm bắt các mục tiêu mà ngài đã đặt ra cho mình.
Và đặc biệt cha Rua tỏ ra rất thận trọng. Sự thận trọng tuyệt vời của
ngài được đặc biệt nhấn mạnh trong sắc lệnh về tính chất anh hùng của
các nhân đức của ngài (1953). Như Thánh Laurence xứ Brindisi đã dạy,
người tường trình viết rằng, có ba thái độ cốt yếu đối với người thận
trọng: "Trên hết, có một mục tiêu và biết cách chọn lựa những phương
thế cần thiết hữu ích nhất để đạt được mục tiêu này một cách dễ dàng
và nhanh chóng; một người thận trọng không tiến bước một cách mù
quáng hay hấp tấp, nhưng chín chắn suy nghĩ cách giữ được lối tiếp
cận tốt nhất. Thứ hai, biết cách hướng các phương tiện họ tìm kiếm và
tìm thấy đến mục đích đòi hỏi; do đó, một người thận trọng tiến hành
cẩn thận và siêng năng, hành động không bất cẩn cũng không bất nhất.

56.5 Page 555

▲torna in alto
Lời Bạt | 555
Thứ ba, cẩn thận và khôn ngoan trong việc phòng ngừa và tránh nguy
hiểm, những bất ngờ hợp lý, bằng cách luôn cẩn trọng. Tất cả những
điều này – người tường trình viết tiếp – người Tôi tớ Thiên Chúa đã
thực hành cách hoàn hảo và vì vậy, được Chúa trợ giúp, đã trải rộng Tu
hội Salêdiêng đến khắp nơi, nuôi dưỡng lòng đạo đức và nhiệt tình đối
với các linh hồn giữa các thành viên của mình, tăng số những chuyến
thám hiểm truyền giáo, hết lòng ủng hộ các hội viên muốn hiến mình
giúp đỡ những người phong cùi, tận tình lo liệu sao cho lòng đạo đức,
việc học tập và kỷ luật được khuyến khích trong các ký túc xá và trường
cao đẳng, và kiên quyết nhưng nhân ái xem xét để không có gì bị bỏ
qua, theo lời dạy của Đấng Sáng lập, hầu có thể góp phần cho danh
Chúa thêm cả sáng".777
Dưới sự điều hành khôn ngoan của ngài, con số người Salêdiêng
tuyên khấn từ 773, trải rộng trên 58 nhà vào năm 1888, lên đến con
số 4001, trong 387 nhà vào năm 1910.
Thử thách đã không làm ngài sờn lòng. Bất quá, trong thời gian làm
Bề Trên Cả, ngài trải qua một số ngày rất khó khăn khi vụ Varazze xảy
ra vào cuối tháng Bảy năm 1907.
Ngài là một người hoạt động khôn sánh, một nhà lãnh đạo được mọi
người tin tưởng và hợp tác trọn vẹn.
Như người tường trình đã lưu ý về bản chất anh hùng của các nhân
đức của ngài, cha Rua đặt mọi phẩm chất mà ngài có để phục vụ Vương
quốc Thiên Chúa. Bằng cách này ngài cũng thực hiện ơn gọi mà Chúa
Quan phòng ban cho là trở nên người tiếp nối trung thành của Don
Bosco, người đã để lại cho con cái mình khẩu hiệu: "Làm việc và tiết
độ", mà theo ngài có nghĩa là "đặt mình phục vụ người khác, có thể
hoạt động tông đồ mãnh liệt bằng cách từ chối tìm kiếm lợi ích cá nhân
riêng của mình trong mọi lĩnh vực". Cha Rua đã trung thành với chương
trình đó với sự chính xác và trọn vẹn ngoại thường. Theo nghĩa đích
thực của thuật ngữ này, ngài là một người “nghiện công việc”. Ngày
nào cũng đầy ngập, không một giây phút nghỉ ngơi, như thể ngài đã
777 FdR 4255B2.

56.6 Page 556

▲torna in alto
556 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
thề sẽ không lãng phí một giây phút nào. Ngài không bao giờ đi nghỉ.
Một trong những người con của ngài nói sau ngày ngài mất: "khi vào
thiên đường, sau khi cha đã chào Don Bosco một cách trìu mến, cha có
thể hỏi cha thánh rằng: ‘Cha có công việc nào ở đây cho con không?’,
và ‘Nguyện ngắm lúc mấy giờ vậy'?”
Sự tiết độ, một điểm mạnh khác trong chương trình của Don Bosco,
được thể hiện ở ngài thông qua việc "tôn kính Hiến Luật". Câu chuyện
đời ngài minh chứng đầy đủ điều này. Đó cũng là sự cảnh giác liên tục
của ngài đối với bản thân chỉ chấp nhận "thoải mái chút ít" khi thực sự
cần thiết mà thôi. Người ta nói rằng Don Bosco đã nói: "Cha Rua là Luật
sống".
Ngài sẽ không bao giờ hoãn việc xưng tội hàng tuần của mình thậm
chí không đến hai mươi bốn giờ, dù phải xưng tội với một người bạn
đồng hành, bị sững sờ bởi lời yêu cầu này. Ngài không bao giờ ngủ
trưa. Mỗi ngày sau bữa ăn trưa, ngài giải trí với các anh em như được
ghi trong Quy Luật. Sau giờ Kinh Chiều, ngài tuân thủ và lo liệu để mọi
người tuân thủ sự thinh lặng thánh. Ngài kính trọng và bảo đảm mọi
người phải kính trọng các chi tiết phụng vụ nhỏ nhất.
Ngài điều độ trong việc ăn uống. Bạn không bao giờ thấy ngài ăn
ngoài bữa, mặc dù là Bề Trên Cả, và ngài không bao giờ dung thứ cho
bất kỳ đặc quyền nào trong thực đơn của mình. Ngài cũng rất điều độ
trong ngủ nghỉ: sau một ngày mệt mỏi, ngài không nằm ngủ ở giường
mà nằm trên chiếc ghế dài được chuẩn bị vào mỗi buổi tối và ngài
không cho phép mình ngủ quá năm hoặc sáu tiếng. Nói tóm lại, ngài
đã học được từ khi còn trẻ không lo lắng về bản thân, không phải vì
ngài có sở thích hành xác, mà là làm cho thân xác ngài linh hoạt hơn
trong việc phục vụ thần khí tình yêu. Thật vậy, ngài thích sống trong
đức ái, như vị Thày tinh thần của mình.
Tình yêu đích thực thì khiêm tốn và ly thoát. Hai nhân đức phúc âm
là khiêm nhường và khó nghèo đã tỏa sáng nơi cha Rua với ánh huy
hoàng đặc biệt. Khiêm nhường là nhân đức ngài ưa thích: chúng ta đã
ghi nhận, khi ở cùng Don Bosco, ngài làm việc chăm chỉ nhưng ẩn mình,
không bao giờ đưa mình ra trước. Khi ngài trở thành Bề Trên Cả, một
nhiệm vụ mà ngài tự nhận mình không xứng đáng và không được trang

56.7 Page 557

▲torna in alto
Lời Bạt | 557
bị đầy đủ, nên ngài chỉ quan tâm là không bao giờ hành xử như diễn
viên chính, song chỉ nhân danh Don Bosco, muốn và làm những gì ngài
đã muốn làm. Trong suốt các chuyến đi của ngài, khi ngài thấy những
đám đông đến với ngài và bày tỏ với ngài hàng ngàn cách quý trọng
và kính trọng sâu sắc, ngài đã thốt lên: "Hãy xem họ yêu mến Don
Bosco biết bao!", hoặc: "cha không phải là Don Bosco!". Chúng ta ghi
nhận nhiều người đã được chữa lành qua lời bầu cử của ngài, nhưng
ngài thường nói: "Hãy xem Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu và Don
Bosco quyền thế ra sao!". Trên tấm danh thiếp của ngài bạn chỉ đọc:
"Cha Micae Rua", theo sau là địa chỉ.
Còn về đức khó nghèo ngài đã biến nó thành người bạn đồng hành
yêu quý của mình, khi cho thấy mình cũng là một người con đích thực
của Don Bosco trong chuyện này. Ngài chỉ có hai chiếc áo dòng: một
cho mùa hè, một cho mùa đông, cả hai đều bị sờn, nhưng luôn được
giữ rất sạch sẽ. Như chúng tôi đã nói, văn phòng của ngài tỏ ra sự đơn
giản tương tự. Khi ngài nhận vị trí của Don Bosco, ngài muốn hoàn toàn
không có gì thay đổi trong căn phòng nơi thánh nhân đã sống hai mươi
hai năm. Ngài giữ nó y nguyên, đơn sơ và không đồ trang trí. Ngài
thường xuyên đi công tác theo ghế hạng ba và không bao giờ tận dụng
các chuyến đi du lịch phụ theo. Thư luân lưu truyền cảm hứng nhất của
ngài có lẽ là thư viết ngày 31 tháng Giêng năm 1907, mà ta đã ám chỉ
tới, liên quan đến sự khó nghèo và được đặt dưới biểu ngữ "Don Bosco
khó nghèo".
"Mọi thứ để danh Chúa cả sáng hơn và cứu rỗi các linh hồn". Nhưng
nếu không cẩn thận, chúng ta kết tận chỉ thấy nơi cha Rua sự khắc khổ
và làm việc vất vả. Với khoảng cách một trăm năm kể từ khi ngài qua
đời, chúng ta biết rằng đây là một hình ảnh sai. Như Giuse Aubry đã
lưu ý, chúng ta sẽ không hiểu gì về năng lực phi thường của ngài đối
với công việc và sự khó nghèo khổ hạnh của ngài nếu chúng ta bỏ qua
sự mật thiết với Thiên Chúa của những tinh thần ấy. Ngài là vị linh mục
luôn thanh thản, một con người cháy bỏng đam mê như Don Bosco:
đam mê yêu mến Chúa và đam mê cứu rỗi các linh hồn. Nếu bề ngoài
ngài tỏ ra cứng rắn, thì thực tế ngài đầy dịu dàng, tràn ngập niềm vui

56.8 Page 558

▲torna in alto
558 | CUỘC ĐỜI CHA MICAE RUA, ĐẤNG KẾ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA DON BOSCO
mà Thiên Chúa biết phải ban thế nào cho những người yêu Ngài.
Lòng nhân từ hiền phụ của ngài đối với mỗi hội viên được mọi người
công nhận. Thực thế, mỗi người, từ lớn nhất đến nhỏ nhất, đều tìm
thấy nơi ngài một trái tim cảm thông, một người quan tâm đến khả
năng, sự trưởng thành và tương lai của họ, thực hành tuyệt vời nghệ
thuật sửa lỗi, biến sự tôn trọng và tình cảm của ngài thành những cử
chỉ kiên nhẫn tinh tế và ân cần tế nhị. Ngài trả lời những bức thư ngài
nhận được và thường ký bằng câu: "Người bạn thân mến của con".
Nhưng chúng ta cần nhấn mạnh vào lòng đạo đức và đời sống nội
tâm của ngài, một cái gì đó chúng ta biết nhiều bằng trực giác hơn là
bằng cách khác, vì ngài sẽ không bao giờ nói về nó. Lòng đạo đức của
ngài rất đơn giản; không có những trạng thái xuất thần, và đó là một
lòng đạo đức được chia sẻ với những người anh em trong các việc đạo
đức cộng đoàn hàng ngày: đọc kinh, suy niệm, Thánh Lễ. Tuy vậy ngài
đã tạo ấn tượng, vì đức tin sống động của ngài đã làm cho điều ấy
thành lời cầu nguyện đích thực (không chỉ là một công thức hay một
nghi lễ), nghĩa là một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa thực sự, sự tôn thờ hiền
thảo với toàn bộ con người của ngài, sự tôn thờ hữu hình khi ngài thủ
tâm và đôi khi diện mạo của ngài biến đổi rõ rệt. Để đánh giá khả năng
hồi tâm của ngài khi cầu nguyện thì thấy ngài tạ ơn sau Thánh Lễ cũng
đủ, quỳ gối trong phòng thánh, với khuôn mặt giữa hai bàn tay xương
xẩu, trong khi ngài đang nói chuyện với Thiên Chúa. Cầu nguyện hoàn
toàn lấp đầy ngày sống của ngài. Tinh thần cầu nguyện giữ ngài kết
hợp với Thiên Chúa ở mọi nơi, trong công việc, tại các cuộc họp, trong
một cuộc hành trình. Khi ngài ở Valdocco, hoạt động cuối cùng trong
ngày là một chuyến viếng thăm Đền thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu
vào nửa đêm: ngài đi vào gác ca đoàn nơi ngài có thể chăm chú nhìn
vào nhà tạm và bức ảnh Đức Trinh Nữ.
Tóm lại, mặc dù có sự khác biệt về tính cách, cha Rua là một môn đệ
trung thành và là người tiếp nối xứng đáng của Don Bosco. Năm 1972
khi Đức Phaolô VI tuyên Chân phước cho ngài trong Vương cung Thánh
đường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã ca tụng ngài theo danh hiệu
chính xác này: "Tại sao cha Rua được tuyên chân phước, có nghĩa là
được tôn vinh? Ngài được tuyên chân phước và tôn vinh chính vì ngài

56.9 Page 559

▲torna in alto
Lời Bạt | 559
là người kế vị, nghĩa là một sự tiếp nối Don Bosco: một người con, môn
đệ, người bắt chước; chúng ta đều biết rõ, ngài đã làm việc này với
những người khác, nhưng cách riêng ở giữa họ. Từ gương của Thánh
nhân ngài đã làm thành một Trường Phái, từ công việc cá nhân của Don
Bosco, ngài thành lập một thể chế được lan rộng, chúng ta có thể nói,
khắp thế giới; từ cuộc đời Don Bosco ngài tạo nên một lịch sử, từ quy
tắc của ngài, cha Rua tạo nên một tinh thần, từ sự thánh thiện của ngài,
cha Rua lập nên một kiểu loại, một phương pháp. Từ một dòng suối
tuôn trào ngài tạo nên một dòng sông ... Thành quả phi thường của
Gia đình Salêdiêng, một trong những hiện tượng vĩ đại nhất và nổi bật
nhất trong sức sống vĩnh viễn của Giáo hội trong suốt thế kỷ vừa qua
và trong chính thời đại của chúng ta, có nguồn gốc từ Don Bosco, và sự
tiếp nối của nó ở cha Rua. Ngài là môn đồ trung thành của thánh nhân,
vốn từ thuở khởi đầu khiêm tốn ở Valdocco, đã phục vụ công việc của
người Salêdiêng trong quá trình mở rộng đáng kinh ngạc của Tu hội,
hiểu được giá trị của thể thức, đã phát triển nó với tính nhất quán theo
đúng nguyên bản, nhưng luôn luôn với một sự sáng tạo sắc sảo. Cha
Rua là người trung thành nhất, và do đó là người khiêm tốn và xứng
đáng nhất trong số những người con của Don Bosco ... Ngài bắt đầu
một truyền thống ... Ngài dạy cho những người Salêdiêng tiếp tục là
người Salêdiêng, những người con luôn trung thành của Đấng Sáng lập
của mình.

56.10 Page 560

▲torna in alto
MỤC LỤC
Đôi Lời Giới Thiệu Tác Phẩm................................................................... 2
Dẫn Nhập................................................................................................ 5
Chương 1. Tuổi Thơ Của Micae Rua..............................................................10
Chương 2. Môn Đệ Của Don Bosco................................................................27
Chương 3. Học Triết Học.................................................................................38
Chương 4. Khai Sinh Tu Hội Salêdiêng...........................................................47
Chương 5. Micae Rua Như Một Linh Mục Trẻ...............................................63
Chương 6. Cha Rua Làm Phó Tổng Bề Trên (Prefect General)....................77
Chương 7. Đào Luyện Các Salêdiêng Trẻ......................................................86
Chương 8. Cha Rua - Cột Trụ Của Nguyện Xá Và Luật Sống......................96
Chương 9. Cha Rua - Vị Kinh Lược Những Nhà Được Liên Kết....................106
Chương 10. Cánh Tay Phải Của Don Bosco.................................................118
Chương 11. Người Bạn Du Hành Của Don Bosco.......................................137
Chương 12. Tổng Đại Diện Của Don Bosco................................................150
Chương 13. Cuộc Đời Don Bosco Tới Kết Tận..............................................167
Chương 14. Cha Rua Làm Bề Trên Cả..........................................................178
Chương 15. Những Năm Tập Sự (1888 - 1892) .........................................188
Chương 16. Đời Sống Thường Nhật Của Bề Trên Cả Tại Valdocco......... 202
Chương 17. Khám Phá Thế Giới Salêdiêng Ở Âu Châu............................. 212
Chương 18. Vùng Trung Đông......................................................................234
Chương 19. Đại Hội Salêdiêng Ở Bologna...................................................254
Chương 20. Tu Hội Salêdiêng Phát Triển Ở Châu Mỹ..................................269
Chương 21. Algeria & Ba Lan........................................................................293
Chương 22. Hành Trình Tới Bán Đảo Iberia (1899) ....................................310
Chương 23. Các Tổng Tu Nghị Trong Mười Năm Đầu Tiên........................326
Chương 24. Một Thế Kỷ Mới Ló Rạng..........................................................339
Chương 25. Vụ Việc Tại Pháp........................................................................354
Chương 26. Cuộc Khủng Hoảng Của Các Giám Tỉnh Pháp..........................366
Chương 27. Các Tổng Tu Nghị Năm 1901 & Năm 1904.............................389
Chương 28. Vấn Đề Xã Hội............................................................................410
Chương 29. Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu...........................................423
Chương 30. Người Salêdiêng Mở Rộng Vào Khúc Quanh Của Thế Kỷ.......450
Chương 31. Năm 1907..................................................................................468

57 Pages 561-570

▲torna in alto

57.1 Page 561

▲torna in alto
Chương 32. Bảy Tháng Đau Đớn & Vui Mừng.............................................493
Chương 33. Cung Hiến Thánh Đường Santa Maria Liberatrice...................513
Chương 34. Năm Cuối Cùng Của Cha Rua....................................................524
Chương 35. Thời Kỳ Xế Bóng.........................................................................535
Lời Bạt..............................................................................................552
Mục Lục........................................................................................... 560